Sách Nói] Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn - Chương 1
Bác Hồ viết di chúc

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 19h:22' 14-04-2024
Dung lượng: 435.9 KB
Số lượt tải: 29
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 19h:22' 14-04-2024
Dung lượng: 435.9 KB
Số lượt tải: 29
Số lượt thích:
0 người
BÁC HỒ VIẾT DI CHÚC
(Hồi ký của Vũ Kỳ)
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
MỤC LỤC
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
1 TÀI LIỆU “TUYỆT ĐỐI BÍ MẬT”
2 TỪ HÀ NỘI ĐẾN QUẢNG CHÂU - DƯƠNG CHÂU
3 PHẢI CÓ TÌNH ĐỒNG CHÍ THƯƠNG YÊU LẪN NHAU
4 ĐẦU TIÊN LÀ CÔNG VIỆC ĐỐI VỚI CON NGƯỜI
5 KHI NGƯỜI TA ĐÃ NGOÀI 70 XUÂN
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Tháng 5/1989, nhân dịp kỷ niệm 99 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh,
NXB Sự thật đã xuất bản cuốn sách Bác Hồ viết di chúc, hồi ký của đồng chí Vũ
Kỳ (do Thế Kỷ ghi).
Tháng 10 cùng năm đó, nhân dịp tưởng niệm 20 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí
Minh vĩnh biệt chúng ta, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam đã công bố toàn văn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để đáp
ứng yêu cầu của đông đảo bạn đọc lúc đó, NXB Sự thật đã in lần thứ hai (có bổ
sung) cuốn sách Bác Hồ viết di chúc.
Với tình cảm sâu nặng đối với Bác Hồ và những cảm xúc, suy ngẫm sâu sắc
về Di chúc, tác giả đã kể lại khá chi tiết từ tháng 5/1965, khi vừa tròn 75 tuổi,
Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu viết Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta.
Trong những năm còn lại, cứ đến tháng 5, Người lại sửa chữa, viết thêm vào
“Tài liệt tuyệt đối bí mật” này.
Di chúc là một văn kiện lịch sử vô giá được ghi bằng một văn phong trong
sáng, giản dị, thiết tha, kết tinh trong đó cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm
hồn cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn
hóa kiệt xuất, đã suốt đời phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc,
giải phóng xã hội và giải phóng con người. Di chúc chẳng những khẳng định
thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta
mặc dù lúc đó đang diễn ra gay go quyết liệt, mà còn chỉ rõ những định hướng
mang tính cương lĩnh cho sự phát triển của đất nước sau khi kháng chiến
thắng lợi, Tổ quốc ta được thống nhất. Người căn dặn “việc cần phải làm trước
tiên là chỉnh đốn lại đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ
đều ra sức làm tròn nhiệm vụ đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục
vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy
chúng ta cũng nhất định thắng lợi”.
Người chỉ rõ các yếu tố chính trị - tinh thần đã góp phần đưa đến thắng lợi
cho cách mạng Việt Nam: Sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, việc thực hành dân
chủ, tự phê bình và phê bình, tình đồng chí thương yêu lẫn nhau… Đặc biệt,
Người đã chỉ rõ vai trò của đạo đức cách mạng, khi “Đảng ta là một đảng cầm
quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng,
thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong
sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của
nhân dân”.
Di chúc căn dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và
văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Điều đầu tiên
là “công việc đối với con người”, trước hết là với những người đã hy sinh một
phần xương máu của mình cho đất nước, là các liệt sĩ và cha mẹ, vợ con liệt
sĩ… Để thực hiện cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng cho phụ nữ, Người
còn căn dặn “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng,
cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả
công việc lãnh đạo”. Đồng thời, “bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên”.
Ngay đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ để lại, Người cũng nhắc
nhở Đảng và Nhà nước ta “phải vừa dùng giáo dục, vừa dùng pháp luật để cải
tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”.
Người khẳng định những “công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề và phức
tạp mà cũng là rất vẻ vang”. Và để “giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu
khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa
vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”.
Di chúc thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc
“bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”. Người đề nghị Đảng và Chính phủ
cần lựa chọn những người ưu tú trong lớp người trẻ tuổi đã kinh qua chiến
đấu, cử họ đi học để đào tạo họ thành đội quân chủ lực trong công cuộc xây
dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”.
Di chúc đã phản ảnh tâm hồn cao đẹp, đạo đức trong sáng, muôn vàn tình
thân yêu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Tổ quốc, với nhân dân, với phong
trào cách mạng thế giới, với bầu bạn khắp năm châu, nhất là đối với thanh
niên và nhi đồng.
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành di sản tinh thần vô giá để lại
cho muôn đời con cháu mai sau. Để tiếp tục thực hiện Di chúc thiêng liêng của
Người, toàn Đảng và toàn dân ta căn cứ vào Di chúc của Người và lời thề
thiêng liêng trong Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trước anh
linh của Người, nguyện kiên trì phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại
hội lần thứ VIII của Đảng mà nhiệm vụ công tác trước mắt là triển khai thực
hiện có chất lượng và hiệu quả cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng,
tiến hành tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng như Nghị quyết Trung ương
6 (lần 2) khóa VIII đã đề ra.
Nhân dịp kỷ niệm 109 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 30 năm thực
hiện Di chúc của Người, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia tái bản cuốn sách Bác
Hồ viết Di chúc. Trong lần tái bản này, đồng chí Vũ Kỳ có chỉnh lý bổ sung.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 4 năm 1999
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
1
TÀI LIỆU “TUYỆT ĐỐI BÍ MẬT”
Tôi nhớ mãi sáng tháng 5 ấy… Trời cao và trong xanh. Mây trắng lững lờ trôi
trên bầu trời Ba Đình. Phía đầu hồi nhà sàn, chim nhảy chuyền cành, gọi nhau
ríu rít.
Đó là buổi sáng thứ hai, mùng 10/5/1965 không thể nào quên. Khắp nơi
trong cả nước đang sôi nổi thi đua lập thành tích mừng thọ Bác Hồ 75 tuổi.
Bác Hồ vẫn ung dung như thường lệ.
Từ 7 giờ sáng, tại phòng khách cạnh nhà ăn phía bên này hồ, Bác ngồi nghe
đồng chí Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải đến báo cáo về con đường chiến lược
qua đất Lào. Bác chăm chú nghe, thỉnh thoảng hỏi thêm, rồi căn dặn một số
vấn đề…
Tôi theo Bác lên nhà sàn, báo cáo công việc chính trong tuần. Cành phượng
là là trên mặt nước, nụ hoa đã nở đỏ. Đàn cá đớp động, đáy nước lung linh
mây trời.
Đúng chín giờ, Bác Hồ ngồi chăm chú viết. Vấn đề chắc đã được suy ngẫm từ
lâu. Phòng làm việc trên nhà sàn càng yên tĩnh. Gió mát dịu, thoang thoảng
hương thơm của hoa vườn…
Chính vào giờ phút đó, Bác Hồ đặt bút viết những dòng đầu tiên vào tài liệu
“Tuyệt đối bí mật” để dặn lại cho muôn đời con cháu mai sau…
Chọn đúng vào một ngày tháng 5, nhân dịp ngày sinh của mình, chọn đúng
vào lúc 9 giờ, giờ đẹp nhất của một ngày, chọn đúng vào lúc sức khỏe tốt nhất
trong những năm gần đây… để viết về ngày ra đi của mình, sao mà thanh
thản, ung dung đến thế!
Bác Hồ suy nghĩ về việc này từ đầu những năm 60, sau khi dự Hội nghị đại
biểu các Đảng cộng sản và công nhân quốc tế từ Mátxcơva trở về. Những bất
đồng dẫn đến bất hòa giữa các Đảng anh em, nhất là trong việc đánh giá kẻ
thù, càng làm cho Bác Hồ suy nghĩ nhiều. Đế quốc Mỹ không bỏ lỡ cơ hội, dấn
sâu thêm bàn tay tội ác vào Việt Nam.
Tháng 2/1965, không quân Mỹ ồ ạt leo thang đánh phá miền Bắc. Tháng 3,
quân viễn chinh Mỹ bắt đầu đổ bộ lên Đà Nẵng. Lịch sử lại đặt dân tộc ta trước
một thử thách cực kỳ nghiêm trọng, hơn bất cứ thời kỳ nào trước đó.
Năm 1945-1946, vận mệnh dân tộc ta cũng đã ở thế “nghìn cân treo sợi tóc”.
Nhưng những tháng năm đó Bác Hồ mới ở tuổi 55, 56. Còn giờ đây, Bác đã tuổi
75, thuộc lớp người “xưa nay hiếm”. “Ai đoán biết tôi sẽ sống và phục vụ Tổ
quốc, phục vụ cách mạng mấy năm mấy tháng nữa?” Bác Hồ hiểu rõ hơn ai hết
tình hình sức khỏe của mình và sự nghiệp cách mạng lâu dài, gian khổ mà dân
tộc cần phải vượt qua.
Ngày 15/2/1965, Bác Hồ về “thăm” Nguyễn Trãi ở Côn Sơn. Bác nghỉ trưa ở
đó và xem rất kỹ văn bia trong đền thờ Nguyễn Trãi. Rồi đây, các nhà viết sử
có lẽ phải dành nhiều trang cho sự kiện không ngẫu nhiên này. Bởi vì Hồ Chí
Minh tìm đến Nguyễn Trãi trong bước ngoặt lịch sử của dân tộc đâu phải là một
sự ngẫu nhiên. Cách nhau hơn 5 thế kỷ (1380-1890) mà sao có những trùng
hợp kỳ lạ, y như cuộc hẹn gặp lịch sử đã định sẵn. Hai nhà chính trị và quân sự
kiệt xuất, hai nhà thơ lớn, hai nhân cách lớn, và bao trùm lên tất cả là sự gặp
nhau ở lòng tin tuyệt đối vào sức mạnh to lớn của nhân dân, là tấm lòng tha
thiết đối với hạnh phúc của nhân dân. Người đã từng nói “Chở thuyền cũng là
dân, lật thuyền cũng là dân”, cũng chính là người đã mở đầu Bình Ngô đại cáo
bằng một câu bất hủ: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Hôm nay, như hẹn gặp
vĩ nhân của thời đại mới với chân lý:
“Gốc có vững cây mới bền,
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.[1]
Bác Hồ thường nêu gương các vị anh hùng dân tộc đời trước để giáo dục các
thế hệ ngày nay. Đặc biệt mỗi lần nhắc đến Nguyễn Trãi, Bác biểu lộ một tấm
lòng ưu ái và khâm phục sâu sắc.
“Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta nhất định thắng lợi hoàn toàn”.
Bác Hồ khẳng định đó là một điều chắc chắn. Và điều mong muốn cuối cùng
của Bác là: “Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước
Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần
xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.
Trong tình hình đất nước và thế giới đang có những diễn biến phức tạp, việc
Bác Hồ quyết định viết rõ “những lời dặn lại” là rất cần thiết và đúng lúc. Và
Bác Hồ của chúng ta đã làm việc đó đúng vào dịp tròn tuổi 75.
Mở đầu bản viết, Bác ghi rõ: “Nhân dịp mừng 75 tuổi”. Phía trên, bên trái,
hơi chếch ra ngoài lề, Bác ghi thêm hàng chữ: “Tuyệt đối bí mật”. Bác không
muốn cho nhiều người biết việc làm của “một người sắp đi xa”, ngại dẫn đến
những suy nghĩ không có lợi.
Ngày 10/5/1965 ấy, Bác viết:
“… Năm nay, tôi đã 75 tuổi. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn
mạnh khỏe. Tuy vậy, tôi cũng đã là lớp người 'xưa nay hiếm'.
Ai đoán biết tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy
năm mấy tháng nữa?
Vì vậy, tôi để lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi. Phòng khi
tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác,
thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột…”.
Bên ngoài, mặt trời đã lên cao. Nắng tháng 5 vàng óng như tơ, nhuộm đỏ rực
những chùm hoa phượng vừa hé nở, khiến cả khu vườn quanh nhà Bác như
được khoác màu áo mới.
Đúng mười giờ. Một giờ đã qua, Bác gấp những tờ giấy “Tuyệt đối bí mật” lại,
cẩn thận cho vào phong bì rồi để vào ngăn trên giá sách.
Bác Hồ lại ung dung thanh thản trở lại công việc hàng ngày của vị Chủ tịch
nước, Chủ tịch Đảng, của người hoạt động không biết mệt mỏi cho phong trào
giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Ngay buổi chiều hôm ấy, vào lúc 14 giờ, đồng chí Lê Đức Thọ sang làm việc
về thư trả lời Đảng Cộng sản Ý. Tiếp đó, 15 giờ 45 phút, đồng chí Nguyễn Duy
Trinh sang báo cáo Bác về bài báo Unita.
Buổi tối, từ 18 giờ đến 20 giờ 30, Bác đến gặp Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản
Ý đang ở thăm và làm việc với Đảng ta đã được 10 ngày.
Mặc dầu hôm ấy là một ngày làm việc bận rộn cả việc chung và “việc riêng”,
Bác Hồ vẫn dành thời gian viết một bức thư đầy tình cảm thương yêu gửi đến
các cháu thiếu nhi Trung Quốc, nhân dịp các cháu viết thư chúc thọ Bác.
Sáng ngày 11/5/1965, Bác dậy sớm hơn thường lệ, 5 giờ 45 phút đã đến tiễn
biệt Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Ý lên đường về nước.
Trở về nhà sàn, thấy Bác rất vui. Cục Tác chiến vừa điện sang báo cáo với
Bác tin chiến thắng đêm qua ở miền Nam. Quân chủ lực của Nam Bộ phối hợp
với bộ đội địa phương mở cuộc tiến công vào hệ thống phòng thủ Sông Bé, chủ
yếu vào thị xã Bà Rá, sân bay chi khu quân sự Phước Bình.
Trong những năm này, đối với Bác Hồ, có lẽ không có niềm vui nào hơn là
niềm vui nhận được tin chiến thắng từ các chiến trường, đặc biệt là từ chiến
trường miền Nam.
Bác thường khen ngợi kịp thời các địa phương, các đơn vị và cá nhân lập công
xuất sắc. Tháng trước, Bác đã gửi thư khen bộ đội không quân lập chiến công
đầu, bắn rơi máy bay phản lực Mỹ và gửi tặng huy hiệu của Người cho các
chiến sĩ lái máy bay. Hôm mùng 9/5 vừa rồi, Bác đã gửi tặng bằng khen cho cụ
Hồ Văn Tính ở xã Nghĩa Tiến, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An về thành tích cả
nhà dũng cảm tham gia bắn máy bay giặc Mỹ.
Cứ mỗi lần đại biểu địa phương, các đơn vị tỏ ý lo lắng cho sức khỏe của Bác,
Bác thường nói vui: “Các cô, các chú cứ diệt cho nhiều giặc Mỹ, bắn rơi thật
nhiều máy bay Mỹ là Bác khỏe, Bác vui”.
Tháng 5 này, thi đua lập thành tích mừng thọ Bác Hồ 75 tuổi, đồng bào và
chiến sĩ miền Nam đã kính dâng lên Bác một chiến công có ý nghĩa. Và đúng là
Bác có vui hơn khỏe hơn. Tôi để ý thấy có nhiều hoa hơn trong chiếc cốc thủy
tinh vẫn để trên bàn làm việc của Bác.
Đúng 9 giờ, Bác lại thong thả, ung dung lấy chiếc phong bì đựng tài liệu
“Tuyệt đối bí mật” từ trên giá sách xuống, ngồi vào bàn, chăm chú viết. Bác
không quên nhắc tôi tiếp tục theo dõi tin chiến thắng Bà Rá để báo cáo thêm
với Bác.
Hôm nay, Bác viết về Đảng, về đoàn kết, về đạo đức cách mạng.
“… Trước hết nói về Đảng - Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ,
phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày
thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân
ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta.
Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết
nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.
Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm
chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển
sự đoàn kết và thống nhất của Đảng.
Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi Đảng viên và cán bộ phải thật sự
thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công
vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người
lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân…”.
Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà trong một đoạn văn ngắn chỉ có 56 từ,
Bác Hồ dùng đến 4 chữ “thật”. Chúng ta biết, trong cách nói, cách viết, Bác Hồ
không bao giờ dùng câu thừa, chữ thừa. Thế nhưng, những chữ “thật” lặp đi
lặp lại ở đây không những không thừa một chữ nào mà lại chiếm một vị trí đặc
biệt quan trọng. Bác đã suy ngẫm trong suốt một thời gian dài về 4 chữ “thật”
đó, chí ít là trong ba tháng kể từ buổi đến “thăm” Nguyễn Trãi ở Côn Sơn ngày
15/2/1965, trước khi bắt tay vào viết Di chúc vào ngày 10/5/1965.
Điều đáng chú ý là trong một đoạn Di chúc ngắn mà có đến 4 chữ “thật” trên
đây, Bác Hồ viết từ năm 1965, khi đất nước đang bước vào cuộc chiến đấu một
mất một còn với kẻ thù hung bạo. Bác viết 4 chữ “thật” cho lúc bấy giờ và cho
cả mai sau, khi đất nước hết chiến tranh, bước vào xây dựng. Mà có lẽ chủ
yếu là Bác viết cho mai sau.
Chắc là Bác muốn như thế.
“Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi Đảng viên và cán bộ phải thật
sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí
công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch…”, còn nóng hổi tính thời
sự biết bao trong Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ.
Ngay từ năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Bác đã từng dạy:
“Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây
phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức,
không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì
muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát,
mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa
thì còn làm nổi việc gì?”[2]
Ngay từ năm 1927 trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Bác đã dành hẳn một
chương, chương đầu tiên, để nói về “Tư cách người Kách mệnh”. Đúng 20 năm
sau, năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Bác lại dành hẳn chương
3, để nói về “Tư cách và đạo đức cách mạng”. Nhưng điều quan trọng ở đây,
trong lời Di chúc thiêng liêng này, Bác muốn nhấn mạnh là phải thật sự.
Trong đời mình, Bác đã rất đau xót khi y án tử hình hai trường hợp vi phạm
đạo đức một cách nghiêm trọng đối với hai cán bộ cấp cao. Bác cũng biết rằng,
những kẻ như vậy vẫn còn không ít trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên của
Đảng. Và Bác biết rõ muốn giải quyết vấn đề này không có cách nào khác là
phải chỉnh đốn lại đảng. Do đó mà trong Di chúc để lại, Bác đã căn dặn là sau
khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành được thắng lợi hoàn toàn thì
“việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại đảng”.
Càng đọc, càng ngẫm, càng thấy những lời căn dặn trong Di chúc sâu sắc biết
nhường nào, càng thấy Bác Hồ vĩ đại biết nhường nào. Đó chính là tầm nhìn
xuyên suốt lịch sử của một thiên tài.
Ngày nay, chúng ta có thể khẳng định rằng, muốn công cuộc đổi mới giành
được thắng lợi thì một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu là mỗi cán bộ,
đảng viên của Đảng phải là một tấm gương thật sự cần kiệm liêm chính, chí
công vô tư. Bởi nếu Đảng bị thoái hóa biến chất, không còn “xứng đáng là
người lãnh đạo” nữa thì chẳng những không có đổi mới mà những thành quả
cách mạng giành được sau mấy chục năm phấn đấu hy sinh cũng chẳng còn.
Sau 3 chữ “thật” nói trên, trong Di chúc của mình, Bác lại ân cần dặn thêm
một chữ “thật” thứ tư. Chữ “thật” cuối cùng này bao hàm cả 3 chữ “thật” trước
đó, là kết quả của 3 chữ “thật” trước đó. “Phải xứng đáng là người lãnh đạo, là
người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.
Suốt 24 năm làm Chủ tịch nước, Bác Hồ luôn tự nhận mình chỉ là
người
đầy tớ của nhân dân. Bao giờ Bác cũng xem nhân dân là người thầy của mình
và xem việc được phục vụ nhân dân là niềm hạnh phúc, là mục đích cao cả
nhất của cuộc đời mình.
Ngày 17/10/1945, ngay sau khi mới giành được chính quyền, trong thư gửi
Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Bác Hồ đã viết những lời bất hủ:
“Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến
các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho
dân,
chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị
của Pháp, Nhật.
Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm.
Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”.[3]
Ngày 12/5/1965, tin thi đua lập thành tích mừng thọ Bác Hồ 75 tuổi dồn dập
bay về Phủ Chủ tịch. Từ ngôi nhà sàn đơn sơ, Bác Hồ nhớ đến mọi miền Tổ
quốc, đón nhận tình cảm thiết tha của toàn dân tộc. Nhưng với bản tính khiêm
tốn, bao giờ Bác cũng nhắc nhở mọi người rằng sự nghiệp cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng, không có một cá nhân anh hùng nào có thể giành
được thắng lợi nếu không được sự tin yêu và ủng hộ của nhân dân. Bác thường
nói: Có tập thể vĩ đại ấy mới có Đảng ta vĩ đại, mới có Cách mạng tháng 8
thắng lợi, mới có sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước được cả thế giới đồng tình. Bác
chỉ là người lính vâng lệnh quốc dân đứng ra gánh vác việc nước. Vì vậy, Bác
từ chối sự tôn sùng đối với bản thân mình.
Ngay trong cuộc sống hàng ngày, Bác cũng không dành cho mình một sự ưu
đãi đặc biệt nào. Những ngày đầu mới giành được chính quyền, Bác cùng ăn
cơm chung với anh em trong cơ quan ở Bắc Bộ Phủ, cùng một suất ăn bình
thường như các đồng chí khác. Chỗ ngồi của Bác ở phía đầu bàn, Bác thường
xuống muộn, ngồi vào chỗ của mình. Trở về Hà Nội lần thứ hai, sau kháng
chiến chống Pháp, là Chủ tịch nước, nhưng Bác không ở dinh Toàn quyền cũ,
mà ở ngôi nhà của một người thợ điện cũ, chỉ có ba phòng nhỏ đơn sơ. Cho đến
ngày 17/5/1958 thì chuyển hẳn sang ngôi nhà sàn gỗ mà ngày nay đã đi vào
huyền thoại trong cái huyền thoại chung đẹp đẽ của cuộc đời Bác Hồ… Bây giờ
càng ngẫm càng thấy rõ việc một vị Chủ tịch nước chọn chỗ ở của mình là một
ngôi nhà sàn gỗ với hai phòng, mỗi phòng chỉ vẻn vẹn hơn 10 mét vuông, thật
có ý nghĩa sâu sắc.
Cũng như đôi dép lốp, chiếc quạt lá cọ, bộ quần áo ka-ki, những bữa cơm
thanh đạm mang đậm đà mùi vị quê hương, đó chính là một tấm gương cho
mọi thế hệ về đạo đức “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, điều cơ bản cần
có trước hết của một cán bộ cách mạng.
Ngày 18/1/1949, nói chuyện trong buổi bế mạc Hội nghị cán bộ của Đảng lần
thứ 6, Bác lại nhắc nhở: “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách,
đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta
bắt chươ71c…
Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy
bốn đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính”.[4]
Đã từ lâu, hằng năm nhân dịp sinh nhật, Bác Hồ thường dặn trước các địa
phương, các cơ quan là không nên tổ chức chúc thọ linh đình. Ở Hà Nội, đúng
ngày 19/5, Bác thường tránh đi một nơi khác để bớt những nghi lễ phiền phức,
tốn kém…
Bước vào tuổi 75, tuổi thượng thọ của một vị Chủ tịch nước, lãnh tụ tối cao
của Đảng, của dân tộc, trong cơ quan Phủ Chủ tịch vẫn không thấy có sự
chuẩn bị gì đặc biệt. Sáng sáng, mọi người vẫn thấy Bác Hồ dậy sớm như
thường lệ, thong thả bước xuống cầu thang, vừa đi vừa tập thể dục trên con
đường nhỏ quanh hồ. Ai đã được một lần nhìn thấy Bác Hồ bước đi thấp thoáng
dưới những tán dừa, những hàng cây bụt mọc, những cành dương liễu… trong
một sáng tháng 5 của năm 1965 này, sẽ còn giữ lại mãi mãi những cảm nhận
đẹp đẽ trong tâm hồn về một con người vĩ đại. Bộ quần áo màu gụ, mái tóc bạc
phơ bay bay trong gió, khuôn mặt hồng hào với cặp mắt hiền từ và chòm râu
trắng, làm cho Bác Hồ bước vào tuổi 75 đẹp như một ông tiên trong các truyện
cổ tích. Và chính trong những ngày này, Bác Hồ bắt đầu viết những lời dặn lại
cho mai sau.
Sáng nay, sau khi thông qua điện mừng Đại hội đoàn kết nhân dân Á - Phi
lần thứ tư tại Uynnơba, nước Cộng hòa Ghana, xem một số báo mới trong
ngày, căn dặn một số công việc cần thiết, đúng 9 giờ Bác lại ngồi viết tiếp tài
liệu “Tuyệt đối bí mật”.
Hôm nay, Bác viết về thanh niên, về quyết tâm chống Mỹ, cứu nước; về kế
hoạch xây dựng đất nước mai sau:
“… Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái
xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm
lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người
thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa 'hồng' vừa 'chuyên'.
Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và
rất cần thiết.
Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời
chịu đựng gian khổ bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại
kinh qua nhiều năm chiến tranh.
Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ
ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với
Đảng.
Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa,
nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào
ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta phải
quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.
Còn non, còn nước, còn người,
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay.
Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn
thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất
định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà.
Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng
hai đế quốc to là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong
trào giải phóng dân tộc…”
Buổi chiều, ngay đầu giờ làm việc, Bác ký Lệnh số 49 thưởng Huân chương
Lao động cho nữ đồng chí chuyên gia Liên Xô về múa ba-lê đã có công giúp ta
xây dựng trường múa Việt Nam.
Tiếp đó, Bác ký Lệnh số 50 thưởng Huân chương Lao động cho hai đồng chí
chuyên gia Trung Quốc đã có công giúp Chính phủ ta xây dựng Nhà máy miến,
mì chính Việt Trì.
Ký xong hai lệnh thưởng, Bác nói với các đồng chí có mặt lúc đó: “Chính phủ
và nhân dân hai nước Liên Xô, Trung Quốc hết lòng giúp đỡ nhân dân ta xây
dựng chủ nghĩa xã hội và chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược. Chúng ta phải
biết ơn và ngày càng thắt chặt hơn nữa tình bạn chiến đấu mãi mãi vững bền
giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân hai nước anh em”.
Thấm nhuần tinh thần chỉ đạo của Bác, báo Nhân dân, cơ quan trung ương
của Đảng ta, số ra ngày 6/5/1965, đã đăng Xã luận quan trọng về bản Tuyên
bố của Xô Viết tối cao Liên Xô ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống
Mỹ xâm lược.
Ngày 8/5/1965, cùng với các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Bác đã
gửi điện mừng đến các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô nhân kỷ
niệm 20 năm ngày chiến thắng phát-xít Đức. Bức điện viết: “Cách đây 20 năm,
dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản và Chính phủ Liên Xô, sau
nhiều năm chiến đấu oanh liệt, nhân dân và quân đội Liên Xô anh hùng đã
giành được thắng lợi vô cùng vẻ vang: đánh bại bọn phát-xít dã man, bảo vệ
được Tổ quốc Xô Viết và cứu loài người khỏi thảm họa của chủ nghĩa phát-xít…
Chiến thắng đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân Việt Nam làm cuộc
Cách mạng Tháng 8 thành công và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa. Nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới luôn luôn ghi nhớ công lao vĩ đại
đó của nhân dân Liên Xô”.
Cùng ngày, Bác viết bài Hai ngày kỷ niệm vẻ vang đăng trên trang nhất báo
Đảng: “Mùng 7/5, kỷ niệm đại thắng Điện Biên Phủ của nhân dân ta. Mùng
9/5, kỷ niệm đại thắng của Liên Xô cùng các đồng minh đánh tan lực lượng
phát-xít Đức, Ý, Nhật”. Bác nêu bật vai trò quyết định của Liên Xô trong sự
nghiệp vẻ vang đó: “Liên Xô đã phải chịu gánh nặng nhất trong cuộc chiến
tranh. Năm đầu, Liên Xô đã gặp những khó khăn không thể tưởng tượng. Lênin-grát bị vây kín, Xta-lin-grát và nhiều thành phố khác bị giặc phá tan
tành… Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản, quân và dân Liên
Xô đã quyết tâm hy sinh tất cả để đánh thắng và đã thắng to. Cuối cùng, 507
sư đoàn phát-xít đã bị Hồng quân tiêu diệt hoặc làm tan rã. Hồng quân đã giết,
làm bị thương và bắt làm tù binh ngót 10 triệu binh sĩ phát-xít. Tổng thống Mỹ
Ru-dơ-ven đã nói rằng: 'Riêng người Nga đã tiêu diệt quân lính Đức và phá
hoại vũ khí Đức nhiều hơn cả 25 nước đồng minh cộng lại'. Ngay cả đến người
ghét cay ghét đắng cộng sản là Thủ tướng Anh Sớc-sin cũng phải thừa nhận
rằng: 'Người Nga họ đã đè bẹp guồng máy quân sự của phát-xít Đức'”.
Chúng ta biết, chính Bác Hồ là người đã đặt nền móng và dày công vun đắp
cho tình hữu nghị vĩ đại này ngày càng phát triển tốt đẹp.
Cũng chính vì vậy mà trong những năm gần đây, Bác Hồ suy nghĩ nhiều về
mối bất hòa giữa một số đảng anh em, trong đó nổi lên là sự bất hòa nghiêm
trọng giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Do đó, sáng 13/5/1965, khi viết tiếp tài liệu “Tuyệt đối bí mật”, trong phần:
“Về phong trào cộng sản thế giới”, Bác Hồ đã dặn lại những lời tâm huyết:
“Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn
mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi
càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hòa hiện nay giữa các đảng anh em!
Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc
khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ
nghĩa Mác – Lê-nin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình.
Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ
phải đoàn kết lại”.
Ngay sáng hôm ấy, trên đường từ nhà sàn xuống nhà ăn, Bác nhắc tôi kiểm
tra lại thư Bác gửi các cháu thiếu nhi Liên Xô hôm thứ bảy tuần trước và thư
Bác gửi các cháu thiếu nhi Trung Quốc thứ hai tuần này. Bác muốn vun đắp
tình hữu nghị anh em, tinh thần quốc tế vô sản chân chính, không chỉ cho thế
hệ đã qua, thế hệ hôm nay và cả thế hệ mai sau.
Chiều tối 13/5, từ 18 giờ 30 đến 19 giờ 30, Bác Hồ gặp gỡ thân mật các đồng
chí cán bộ miền Nam mới ra, có cả một số đồng chí Liên khu V. Phần đông các
đồng chí không được khỏe. Bắc nhắc các cơ quan phục vụ cần chú ý tăng
cường bồi dưỡng cho anh em.
Sáng thứ sáu, 14/5, từ 6 giờ, khi cán bộ, nhân viên cơ quan nhà nước còn
đang bận rộn việc gia đình thì Bác Hồ với bộ quần áo bà ba nâu quen thuộc, đã
đến tận cánh đồng xã Xuân Phương, thuộc huyện Từ Liêm thăm hỏi việc làm
ăn và động viên khen ngợi bà con xã viên đang thu hoạch một vụ chiêm thắng
lợi.
Khó mà quên được niềm vui chung của Bác Hồ và bà con nông dân hôm ấy,
nhất là cảnh các cháu gái, lực lượng lao động chính vào tuổi “bẻ gãy sừng
trâu”, má đỏ hây hây, mồ hôi lấm tấm, tíu tít trả lời Bác Hồ về vụ gặt được
mùa. Bác đi từ thửa ruộng này đến thửa ruộng khác, đến tận nơi thăm hỏi
từng người, tránh cho bà con đỡ mất việc. Cho đến lúc nắng gắt, lưng áo đã
đẫm mồ hôi, Bác Hồ mới vẫy chào bà con ra về. Hàng trăm xã viên đang gặt
lúa ở các thửa ruộng cạnh đó, nghe tin Bác Hồ đến, vội vàng chạy ùa sang,
cũng vừa kịp lưu luyến tiễn Bác. Bác đi xa rồi mà mọi người vẫn còn như vừa
qua một giấc mơ. Những người mới đến hỏi những người may mắn được đứng
gần Bác, rằng Bác có khỏe không? Bác hỏi những câu gì? Bác dạy những điều
gì? Bác đi giày hay đi dép cao su? Bác có khen lúa năm nay của làng ta tốt
không? Bác có vui không? … Nhiều người trách xã, trách huyện sao không
thông báo cho nhân dân biết để mọi người cùng được đến đón Bác. Họ “ghen”
với những người được hạnh phúc đón Bác sáng nay. Nhưng một bà cụ liền giơ
tay phân bua: “Thì tôi cũng có biết trước gì đâu. Đang gặt thì nghe tiếng reo
hò: “Bác Hồ đến! Bà con ơi, Bác Hồ đến!” Thế rồi Bác hiện ra trước mặt tôi, râu
tóc bạc trắng, nét mặt hiền tư như một ông tiên vừa giáng trần”. Đó chính là
bà cụ được Bác Hồ thăm hỏi đầu tiên trong buổi đi thăm sáng nay. Biết bà cụ
có hai con đang chiến đấu ở chiến trường, Bác an ủi, động viên: “Ở hậu
phương ta cố gắng sản xuất cho thật nhiều thóc gạo để bộ đội ăn no đánh
thắng. Giặc Mỹ nhất định thua. Các con cụ sẽ trở về với cụ. Nhân dân ta hãy
chịu khó, chịu khổ, hy sinh thêm vài năm nữa…”
Không ai biết được rằng những lời Bác nói với đồng bào trong buổi gặt lúa
hôm nay, chính là điều mà vừa mới hôm qua Bác đã dặn lại trong Di chúc:
“Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa. Đồng
bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta phải
quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn”.
Gần 10 giờ, Bác mới về tới nhà, kịp tham gia cuộc họp Bộ Chính trị ban về
công tác đào tạo cán bộ. Như vậy là từ 9 giờ sáng đến 10 giờ sáng nay, Bác
không viết tiếp được “lời dặn lại” như đã định. Tuy nhiên, buổi đi thăm đồng
bào gặt lúa đã làm cho Bác rất vui, như trẻ lại vài tuổi. Bác Hồ kỳ diệu như thế
đó. Nhìn Bác ngồi làm việc trên nhà sàn, ta có cảm tưởng đó là một nhà hiền
triết với vầng trán rộng, cặp mắt sáng chứa đầy suy tư trí tuệ. Nhưng khi Bác
ở giữa quần chúng như sáng nay, ta thấy Bác đúng là một...
(Hồi ký của Vũ Kỳ)
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
MỤC LỤC
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
1 TÀI LIỆU “TUYỆT ĐỐI BÍ MẬT”
2 TỪ HÀ NỘI ĐẾN QUẢNG CHÂU - DƯƠNG CHÂU
3 PHẢI CÓ TÌNH ĐỒNG CHÍ THƯƠNG YÊU LẪN NHAU
4 ĐẦU TIÊN LÀ CÔNG VIỆC ĐỐI VỚI CON NGƯỜI
5 KHI NGƯỜI TA ĐÃ NGOÀI 70 XUÂN
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Tháng 5/1989, nhân dịp kỷ niệm 99 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh,
NXB Sự thật đã xuất bản cuốn sách Bác Hồ viết di chúc, hồi ký của đồng chí Vũ
Kỳ (do Thế Kỷ ghi).
Tháng 10 cùng năm đó, nhân dịp tưởng niệm 20 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí
Minh vĩnh biệt chúng ta, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam đã công bố toàn văn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để đáp
ứng yêu cầu của đông đảo bạn đọc lúc đó, NXB Sự thật đã in lần thứ hai (có bổ
sung) cuốn sách Bác Hồ viết di chúc.
Với tình cảm sâu nặng đối với Bác Hồ và những cảm xúc, suy ngẫm sâu sắc
về Di chúc, tác giả đã kể lại khá chi tiết từ tháng 5/1965, khi vừa tròn 75 tuổi,
Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu viết Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta.
Trong những năm còn lại, cứ đến tháng 5, Người lại sửa chữa, viết thêm vào
“Tài liệt tuyệt đối bí mật” này.
Di chúc là một văn kiện lịch sử vô giá được ghi bằng một văn phong trong
sáng, giản dị, thiết tha, kết tinh trong đó cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm
hồn cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn
hóa kiệt xuất, đã suốt đời phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc,
giải phóng xã hội và giải phóng con người. Di chúc chẳng những khẳng định
thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta
mặc dù lúc đó đang diễn ra gay go quyết liệt, mà còn chỉ rõ những định hướng
mang tính cương lĩnh cho sự phát triển của đất nước sau khi kháng chiến
thắng lợi, Tổ quốc ta được thống nhất. Người căn dặn “việc cần phải làm trước
tiên là chỉnh đốn lại đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ
đều ra sức làm tròn nhiệm vụ đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục
vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy
chúng ta cũng nhất định thắng lợi”.
Người chỉ rõ các yếu tố chính trị - tinh thần đã góp phần đưa đến thắng lợi
cho cách mạng Việt Nam: Sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, việc thực hành dân
chủ, tự phê bình và phê bình, tình đồng chí thương yêu lẫn nhau… Đặc biệt,
Người đã chỉ rõ vai trò của đạo đức cách mạng, khi “Đảng ta là một đảng cầm
quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng,
thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong
sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của
nhân dân”.
Di chúc căn dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và
văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Điều đầu tiên
là “công việc đối với con người”, trước hết là với những người đã hy sinh một
phần xương máu của mình cho đất nước, là các liệt sĩ và cha mẹ, vợ con liệt
sĩ… Để thực hiện cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng cho phụ nữ, Người
còn căn dặn “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng,
cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả
công việc lãnh đạo”. Đồng thời, “bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên”.
Ngay đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ để lại, Người cũng nhắc
nhở Đảng và Nhà nước ta “phải vừa dùng giáo dục, vừa dùng pháp luật để cải
tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”.
Người khẳng định những “công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề và phức
tạp mà cũng là rất vẻ vang”. Và để “giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu
khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa
vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”.
Di chúc thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc
“bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”. Người đề nghị Đảng và Chính phủ
cần lựa chọn những người ưu tú trong lớp người trẻ tuổi đã kinh qua chiến
đấu, cử họ đi học để đào tạo họ thành đội quân chủ lực trong công cuộc xây
dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”.
Di chúc đã phản ảnh tâm hồn cao đẹp, đạo đức trong sáng, muôn vàn tình
thân yêu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Tổ quốc, với nhân dân, với phong
trào cách mạng thế giới, với bầu bạn khắp năm châu, nhất là đối với thanh
niên và nhi đồng.
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành di sản tinh thần vô giá để lại
cho muôn đời con cháu mai sau. Để tiếp tục thực hiện Di chúc thiêng liêng của
Người, toàn Đảng và toàn dân ta căn cứ vào Di chúc của Người và lời thề
thiêng liêng trong Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trước anh
linh của Người, nguyện kiên trì phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại
hội lần thứ VIII của Đảng mà nhiệm vụ công tác trước mắt là triển khai thực
hiện có chất lượng và hiệu quả cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng,
tiến hành tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng như Nghị quyết Trung ương
6 (lần 2) khóa VIII đã đề ra.
Nhân dịp kỷ niệm 109 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 30 năm thực
hiện Di chúc của Người, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia tái bản cuốn sách Bác
Hồ viết Di chúc. Trong lần tái bản này, đồng chí Vũ Kỳ có chỉnh lý bổ sung.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 4 năm 1999
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
1
TÀI LIỆU “TUYỆT ĐỐI BÍ MẬT”
Tôi nhớ mãi sáng tháng 5 ấy… Trời cao và trong xanh. Mây trắng lững lờ trôi
trên bầu trời Ba Đình. Phía đầu hồi nhà sàn, chim nhảy chuyền cành, gọi nhau
ríu rít.
Đó là buổi sáng thứ hai, mùng 10/5/1965 không thể nào quên. Khắp nơi
trong cả nước đang sôi nổi thi đua lập thành tích mừng thọ Bác Hồ 75 tuổi.
Bác Hồ vẫn ung dung như thường lệ.
Từ 7 giờ sáng, tại phòng khách cạnh nhà ăn phía bên này hồ, Bác ngồi nghe
đồng chí Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải đến báo cáo về con đường chiến lược
qua đất Lào. Bác chăm chú nghe, thỉnh thoảng hỏi thêm, rồi căn dặn một số
vấn đề…
Tôi theo Bác lên nhà sàn, báo cáo công việc chính trong tuần. Cành phượng
là là trên mặt nước, nụ hoa đã nở đỏ. Đàn cá đớp động, đáy nước lung linh
mây trời.
Đúng chín giờ, Bác Hồ ngồi chăm chú viết. Vấn đề chắc đã được suy ngẫm từ
lâu. Phòng làm việc trên nhà sàn càng yên tĩnh. Gió mát dịu, thoang thoảng
hương thơm của hoa vườn…
Chính vào giờ phút đó, Bác Hồ đặt bút viết những dòng đầu tiên vào tài liệu
“Tuyệt đối bí mật” để dặn lại cho muôn đời con cháu mai sau…
Chọn đúng vào một ngày tháng 5, nhân dịp ngày sinh của mình, chọn đúng
vào lúc 9 giờ, giờ đẹp nhất của một ngày, chọn đúng vào lúc sức khỏe tốt nhất
trong những năm gần đây… để viết về ngày ra đi của mình, sao mà thanh
thản, ung dung đến thế!
Bác Hồ suy nghĩ về việc này từ đầu những năm 60, sau khi dự Hội nghị đại
biểu các Đảng cộng sản và công nhân quốc tế từ Mátxcơva trở về. Những bất
đồng dẫn đến bất hòa giữa các Đảng anh em, nhất là trong việc đánh giá kẻ
thù, càng làm cho Bác Hồ suy nghĩ nhiều. Đế quốc Mỹ không bỏ lỡ cơ hội, dấn
sâu thêm bàn tay tội ác vào Việt Nam.
Tháng 2/1965, không quân Mỹ ồ ạt leo thang đánh phá miền Bắc. Tháng 3,
quân viễn chinh Mỹ bắt đầu đổ bộ lên Đà Nẵng. Lịch sử lại đặt dân tộc ta trước
một thử thách cực kỳ nghiêm trọng, hơn bất cứ thời kỳ nào trước đó.
Năm 1945-1946, vận mệnh dân tộc ta cũng đã ở thế “nghìn cân treo sợi tóc”.
Nhưng những tháng năm đó Bác Hồ mới ở tuổi 55, 56. Còn giờ đây, Bác đã tuổi
75, thuộc lớp người “xưa nay hiếm”. “Ai đoán biết tôi sẽ sống và phục vụ Tổ
quốc, phục vụ cách mạng mấy năm mấy tháng nữa?” Bác Hồ hiểu rõ hơn ai hết
tình hình sức khỏe của mình và sự nghiệp cách mạng lâu dài, gian khổ mà dân
tộc cần phải vượt qua.
Ngày 15/2/1965, Bác Hồ về “thăm” Nguyễn Trãi ở Côn Sơn. Bác nghỉ trưa ở
đó và xem rất kỹ văn bia trong đền thờ Nguyễn Trãi. Rồi đây, các nhà viết sử
có lẽ phải dành nhiều trang cho sự kiện không ngẫu nhiên này. Bởi vì Hồ Chí
Minh tìm đến Nguyễn Trãi trong bước ngoặt lịch sử của dân tộc đâu phải là một
sự ngẫu nhiên. Cách nhau hơn 5 thế kỷ (1380-1890) mà sao có những trùng
hợp kỳ lạ, y như cuộc hẹn gặp lịch sử đã định sẵn. Hai nhà chính trị và quân sự
kiệt xuất, hai nhà thơ lớn, hai nhân cách lớn, và bao trùm lên tất cả là sự gặp
nhau ở lòng tin tuyệt đối vào sức mạnh to lớn của nhân dân, là tấm lòng tha
thiết đối với hạnh phúc của nhân dân. Người đã từng nói “Chở thuyền cũng là
dân, lật thuyền cũng là dân”, cũng chính là người đã mở đầu Bình Ngô đại cáo
bằng một câu bất hủ: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Hôm nay, như hẹn gặp
vĩ nhân của thời đại mới với chân lý:
“Gốc có vững cây mới bền,
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.[1]
Bác Hồ thường nêu gương các vị anh hùng dân tộc đời trước để giáo dục các
thế hệ ngày nay. Đặc biệt mỗi lần nhắc đến Nguyễn Trãi, Bác biểu lộ một tấm
lòng ưu ái và khâm phục sâu sắc.
“Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta nhất định thắng lợi hoàn toàn”.
Bác Hồ khẳng định đó là một điều chắc chắn. Và điều mong muốn cuối cùng
của Bác là: “Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước
Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần
xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.
Trong tình hình đất nước và thế giới đang có những diễn biến phức tạp, việc
Bác Hồ quyết định viết rõ “những lời dặn lại” là rất cần thiết và đúng lúc. Và
Bác Hồ của chúng ta đã làm việc đó đúng vào dịp tròn tuổi 75.
Mở đầu bản viết, Bác ghi rõ: “Nhân dịp mừng 75 tuổi”. Phía trên, bên trái,
hơi chếch ra ngoài lề, Bác ghi thêm hàng chữ: “Tuyệt đối bí mật”. Bác không
muốn cho nhiều người biết việc làm của “một người sắp đi xa”, ngại dẫn đến
những suy nghĩ không có lợi.
Ngày 10/5/1965 ấy, Bác viết:
“… Năm nay, tôi đã 75 tuổi. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn
mạnh khỏe. Tuy vậy, tôi cũng đã là lớp người 'xưa nay hiếm'.
Ai đoán biết tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy
năm mấy tháng nữa?
Vì vậy, tôi để lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi. Phòng khi
tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác,
thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột…”.
Bên ngoài, mặt trời đã lên cao. Nắng tháng 5 vàng óng như tơ, nhuộm đỏ rực
những chùm hoa phượng vừa hé nở, khiến cả khu vườn quanh nhà Bác như
được khoác màu áo mới.
Đúng mười giờ. Một giờ đã qua, Bác gấp những tờ giấy “Tuyệt đối bí mật” lại,
cẩn thận cho vào phong bì rồi để vào ngăn trên giá sách.
Bác Hồ lại ung dung thanh thản trở lại công việc hàng ngày của vị Chủ tịch
nước, Chủ tịch Đảng, của người hoạt động không biết mệt mỏi cho phong trào
giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Ngay buổi chiều hôm ấy, vào lúc 14 giờ, đồng chí Lê Đức Thọ sang làm việc
về thư trả lời Đảng Cộng sản Ý. Tiếp đó, 15 giờ 45 phút, đồng chí Nguyễn Duy
Trinh sang báo cáo Bác về bài báo Unita.
Buổi tối, từ 18 giờ đến 20 giờ 30, Bác đến gặp Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản
Ý đang ở thăm và làm việc với Đảng ta đã được 10 ngày.
Mặc dầu hôm ấy là một ngày làm việc bận rộn cả việc chung và “việc riêng”,
Bác Hồ vẫn dành thời gian viết một bức thư đầy tình cảm thương yêu gửi đến
các cháu thiếu nhi Trung Quốc, nhân dịp các cháu viết thư chúc thọ Bác.
Sáng ngày 11/5/1965, Bác dậy sớm hơn thường lệ, 5 giờ 45 phút đã đến tiễn
biệt Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Ý lên đường về nước.
Trở về nhà sàn, thấy Bác rất vui. Cục Tác chiến vừa điện sang báo cáo với
Bác tin chiến thắng đêm qua ở miền Nam. Quân chủ lực của Nam Bộ phối hợp
với bộ đội địa phương mở cuộc tiến công vào hệ thống phòng thủ Sông Bé, chủ
yếu vào thị xã Bà Rá, sân bay chi khu quân sự Phước Bình.
Trong những năm này, đối với Bác Hồ, có lẽ không có niềm vui nào hơn là
niềm vui nhận được tin chiến thắng từ các chiến trường, đặc biệt là từ chiến
trường miền Nam.
Bác thường khen ngợi kịp thời các địa phương, các đơn vị và cá nhân lập công
xuất sắc. Tháng trước, Bác đã gửi thư khen bộ đội không quân lập chiến công
đầu, bắn rơi máy bay phản lực Mỹ và gửi tặng huy hiệu của Người cho các
chiến sĩ lái máy bay. Hôm mùng 9/5 vừa rồi, Bác đã gửi tặng bằng khen cho cụ
Hồ Văn Tính ở xã Nghĩa Tiến, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An về thành tích cả
nhà dũng cảm tham gia bắn máy bay giặc Mỹ.
Cứ mỗi lần đại biểu địa phương, các đơn vị tỏ ý lo lắng cho sức khỏe của Bác,
Bác thường nói vui: “Các cô, các chú cứ diệt cho nhiều giặc Mỹ, bắn rơi thật
nhiều máy bay Mỹ là Bác khỏe, Bác vui”.
Tháng 5 này, thi đua lập thành tích mừng thọ Bác Hồ 75 tuổi, đồng bào và
chiến sĩ miền Nam đã kính dâng lên Bác một chiến công có ý nghĩa. Và đúng là
Bác có vui hơn khỏe hơn. Tôi để ý thấy có nhiều hoa hơn trong chiếc cốc thủy
tinh vẫn để trên bàn làm việc của Bác.
Đúng 9 giờ, Bác lại thong thả, ung dung lấy chiếc phong bì đựng tài liệu
“Tuyệt đối bí mật” từ trên giá sách xuống, ngồi vào bàn, chăm chú viết. Bác
không quên nhắc tôi tiếp tục theo dõi tin chiến thắng Bà Rá để báo cáo thêm
với Bác.
Hôm nay, Bác viết về Đảng, về đoàn kết, về đạo đức cách mạng.
“… Trước hết nói về Đảng - Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ,
phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày
thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân
ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta.
Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết
nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.
Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm
chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển
sự đoàn kết và thống nhất của Đảng.
Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi Đảng viên và cán bộ phải thật sự
thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công
vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người
lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân…”.
Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà trong một đoạn văn ngắn chỉ có 56 từ,
Bác Hồ dùng đến 4 chữ “thật”. Chúng ta biết, trong cách nói, cách viết, Bác Hồ
không bao giờ dùng câu thừa, chữ thừa. Thế nhưng, những chữ “thật” lặp đi
lặp lại ở đây không những không thừa một chữ nào mà lại chiếm một vị trí đặc
biệt quan trọng. Bác đã suy ngẫm trong suốt một thời gian dài về 4 chữ “thật”
đó, chí ít là trong ba tháng kể từ buổi đến “thăm” Nguyễn Trãi ở Côn Sơn ngày
15/2/1965, trước khi bắt tay vào viết Di chúc vào ngày 10/5/1965.
Điều đáng chú ý là trong một đoạn Di chúc ngắn mà có đến 4 chữ “thật” trên
đây, Bác Hồ viết từ năm 1965, khi đất nước đang bước vào cuộc chiến đấu một
mất một còn với kẻ thù hung bạo. Bác viết 4 chữ “thật” cho lúc bấy giờ và cho
cả mai sau, khi đất nước hết chiến tranh, bước vào xây dựng. Mà có lẽ chủ
yếu là Bác viết cho mai sau.
Chắc là Bác muốn như thế.
“Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi Đảng viên và cán bộ phải thật
sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí
công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch…”, còn nóng hổi tính thời
sự biết bao trong Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ.
Ngay từ năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Bác đã từng dạy:
“Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây
phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức,
không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì
muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát,
mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa
thì còn làm nổi việc gì?”[2]
Ngay từ năm 1927 trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Bác đã dành hẳn một
chương, chương đầu tiên, để nói về “Tư cách người Kách mệnh”. Đúng 20 năm
sau, năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Bác lại dành hẳn chương
3, để nói về “Tư cách và đạo đức cách mạng”. Nhưng điều quan trọng ở đây,
trong lời Di chúc thiêng liêng này, Bác muốn nhấn mạnh là phải thật sự.
Trong đời mình, Bác đã rất đau xót khi y án tử hình hai trường hợp vi phạm
đạo đức một cách nghiêm trọng đối với hai cán bộ cấp cao. Bác cũng biết rằng,
những kẻ như vậy vẫn còn không ít trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên của
Đảng. Và Bác biết rõ muốn giải quyết vấn đề này không có cách nào khác là
phải chỉnh đốn lại đảng. Do đó mà trong Di chúc để lại, Bác đã căn dặn là sau
khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành được thắng lợi hoàn toàn thì
“việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại đảng”.
Càng đọc, càng ngẫm, càng thấy những lời căn dặn trong Di chúc sâu sắc biết
nhường nào, càng thấy Bác Hồ vĩ đại biết nhường nào. Đó chính là tầm nhìn
xuyên suốt lịch sử của một thiên tài.
Ngày nay, chúng ta có thể khẳng định rằng, muốn công cuộc đổi mới giành
được thắng lợi thì một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu là mỗi cán bộ,
đảng viên của Đảng phải là một tấm gương thật sự cần kiệm liêm chính, chí
công vô tư. Bởi nếu Đảng bị thoái hóa biến chất, không còn “xứng đáng là
người lãnh đạo” nữa thì chẳng những không có đổi mới mà những thành quả
cách mạng giành được sau mấy chục năm phấn đấu hy sinh cũng chẳng còn.
Sau 3 chữ “thật” nói trên, trong Di chúc của mình, Bác lại ân cần dặn thêm
một chữ “thật” thứ tư. Chữ “thật” cuối cùng này bao hàm cả 3 chữ “thật” trước
đó, là kết quả của 3 chữ “thật” trước đó. “Phải xứng đáng là người lãnh đạo, là
người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.
Suốt 24 năm làm Chủ tịch nước, Bác Hồ luôn tự nhận mình chỉ là
người
đầy tớ của nhân dân. Bao giờ Bác cũng xem nhân dân là người thầy của mình
và xem việc được phục vụ nhân dân là niềm hạnh phúc, là mục đích cao cả
nhất của cuộc đời mình.
Ngày 17/10/1945, ngay sau khi mới giành được chính quyền, trong thư gửi
Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Bác Hồ đã viết những lời bất hủ:
“Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến
các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho
dân,
chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị
của Pháp, Nhật.
Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm.
Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”.[3]
Ngày 12/5/1965, tin thi đua lập thành tích mừng thọ Bác Hồ 75 tuổi dồn dập
bay về Phủ Chủ tịch. Từ ngôi nhà sàn đơn sơ, Bác Hồ nhớ đến mọi miền Tổ
quốc, đón nhận tình cảm thiết tha của toàn dân tộc. Nhưng với bản tính khiêm
tốn, bao giờ Bác cũng nhắc nhở mọi người rằng sự nghiệp cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng, không có một cá nhân anh hùng nào có thể giành
được thắng lợi nếu không được sự tin yêu và ủng hộ của nhân dân. Bác thường
nói: Có tập thể vĩ đại ấy mới có Đảng ta vĩ đại, mới có Cách mạng tháng 8
thắng lợi, mới có sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước được cả thế giới đồng tình. Bác
chỉ là người lính vâng lệnh quốc dân đứng ra gánh vác việc nước. Vì vậy, Bác
từ chối sự tôn sùng đối với bản thân mình.
Ngay trong cuộc sống hàng ngày, Bác cũng không dành cho mình một sự ưu
đãi đặc biệt nào. Những ngày đầu mới giành được chính quyền, Bác cùng ăn
cơm chung với anh em trong cơ quan ở Bắc Bộ Phủ, cùng một suất ăn bình
thường như các đồng chí khác. Chỗ ngồi của Bác ở phía đầu bàn, Bác thường
xuống muộn, ngồi vào chỗ của mình. Trở về Hà Nội lần thứ hai, sau kháng
chiến chống Pháp, là Chủ tịch nước, nhưng Bác không ở dinh Toàn quyền cũ,
mà ở ngôi nhà của một người thợ điện cũ, chỉ có ba phòng nhỏ đơn sơ. Cho đến
ngày 17/5/1958 thì chuyển hẳn sang ngôi nhà sàn gỗ mà ngày nay đã đi vào
huyền thoại trong cái huyền thoại chung đẹp đẽ của cuộc đời Bác Hồ… Bây giờ
càng ngẫm càng thấy rõ việc một vị Chủ tịch nước chọn chỗ ở của mình là một
ngôi nhà sàn gỗ với hai phòng, mỗi phòng chỉ vẻn vẹn hơn 10 mét vuông, thật
có ý nghĩa sâu sắc.
Cũng như đôi dép lốp, chiếc quạt lá cọ, bộ quần áo ka-ki, những bữa cơm
thanh đạm mang đậm đà mùi vị quê hương, đó chính là một tấm gương cho
mọi thế hệ về đạo đức “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, điều cơ bản cần
có trước hết của một cán bộ cách mạng.
Ngày 18/1/1949, nói chuyện trong buổi bế mạc Hội nghị cán bộ của Đảng lần
thứ 6, Bác lại nhắc nhở: “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách,
đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta
bắt chươ71c…
Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy
bốn đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính”.[4]
Đã từ lâu, hằng năm nhân dịp sinh nhật, Bác Hồ thường dặn trước các địa
phương, các cơ quan là không nên tổ chức chúc thọ linh đình. Ở Hà Nội, đúng
ngày 19/5, Bác thường tránh đi một nơi khác để bớt những nghi lễ phiền phức,
tốn kém…
Bước vào tuổi 75, tuổi thượng thọ của một vị Chủ tịch nước, lãnh tụ tối cao
của Đảng, của dân tộc, trong cơ quan Phủ Chủ tịch vẫn không thấy có sự
chuẩn bị gì đặc biệt. Sáng sáng, mọi người vẫn thấy Bác Hồ dậy sớm như
thường lệ, thong thả bước xuống cầu thang, vừa đi vừa tập thể dục trên con
đường nhỏ quanh hồ. Ai đã được một lần nhìn thấy Bác Hồ bước đi thấp thoáng
dưới những tán dừa, những hàng cây bụt mọc, những cành dương liễu… trong
một sáng tháng 5 của năm 1965 này, sẽ còn giữ lại mãi mãi những cảm nhận
đẹp đẽ trong tâm hồn về một con người vĩ đại. Bộ quần áo màu gụ, mái tóc bạc
phơ bay bay trong gió, khuôn mặt hồng hào với cặp mắt hiền từ và chòm râu
trắng, làm cho Bác Hồ bước vào tuổi 75 đẹp như một ông tiên trong các truyện
cổ tích. Và chính trong những ngày này, Bác Hồ bắt đầu viết những lời dặn lại
cho mai sau.
Sáng nay, sau khi thông qua điện mừng Đại hội đoàn kết nhân dân Á - Phi
lần thứ tư tại Uynnơba, nước Cộng hòa Ghana, xem một số báo mới trong
ngày, căn dặn một số công việc cần thiết, đúng 9 giờ Bác lại ngồi viết tiếp tài
liệu “Tuyệt đối bí mật”.
Hôm nay, Bác viết về thanh niên, về quyết tâm chống Mỹ, cứu nước; về kế
hoạch xây dựng đất nước mai sau:
“… Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái
xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm
lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người
thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa 'hồng' vừa 'chuyên'.
Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và
rất cần thiết.
Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời
chịu đựng gian khổ bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại
kinh qua nhiều năm chiến tranh.
Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ
ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với
Đảng.
Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa,
nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào
ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta phải
quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.
Còn non, còn nước, còn người,
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay.
Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn
thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất
định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà.
Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng
hai đế quốc to là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong
trào giải phóng dân tộc…”
Buổi chiều, ngay đầu giờ làm việc, Bác ký Lệnh số 49 thưởng Huân chương
Lao động cho nữ đồng chí chuyên gia Liên Xô về múa ba-lê đã có công giúp ta
xây dựng trường múa Việt Nam.
Tiếp đó, Bác ký Lệnh số 50 thưởng Huân chương Lao động cho hai đồng chí
chuyên gia Trung Quốc đã có công giúp Chính phủ ta xây dựng Nhà máy miến,
mì chính Việt Trì.
Ký xong hai lệnh thưởng, Bác nói với các đồng chí có mặt lúc đó: “Chính phủ
và nhân dân hai nước Liên Xô, Trung Quốc hết lòng giúp đỡ nhân dân ta xây
dựng chủ nghĩa xã hội và chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược. Chúng ta phải
biết ơn và ngày càng thắt chặt hơn nữa tình bạn chiến đấu mãi mãi vững bền
giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân hai nước anh em”.
Thấm nhuần tinh thần chỉ đạo của Bác, báo Nhân dân, cơ quan trung ương
của Đảng ta, số ra ngày 6/5/1965, đã đăng Xã luận quan trọng về bản Tuyên
bố của Xô Viết tối cao Liên Xô ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống
Mỹ xâm lược.
Ngày 8/5/1965, cùng với các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Bác đã
gửi điện mừng đến các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô nhân kỷ
niệm 20 năm ngày chiến thắng phát-xít Đức. Bức điện viết: “Cách đây 20 năm,
dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản và Chính phủ Liên Xô, sau
nhiều năm chiến đấu oanh liệt, nhân dân và quân đội Liên Xô anh hùng đã
giành được thắng lợi vô cùng vẻ vang: đánh bại bọn phát-xít dã man, bảo vệ
được Tổ quốc Xô Viết và cứu loài người khỏi thảm họa của chủ nghĩa phát-xít…
Chiến thắng đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân Việt Nam làm cuộc
Cách mạng Tháng 8 thành công và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa. Nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới luôn luôn ghi nhớ công lao vĩ đại
đó của nhân dân Liên Xô”.
Cùng ngày, Bác viết bài Hai ngày kỷ niệm vẻ vang đăng trên trang nhất báo
Đảng: “Mùng 7/5, kỷ niệm đại thắng Điện Biên Phủ của nhân dân ta. Mùng
9/5, kỷ niệm đại thắng của Liên Xô cùng các đồng minh đánh tan lực lượng
phát-xít Đức, Ý, Nhật”. Bác nêu bật vai trò quyết định của Liên Xô trong sự
nghiệp vẻ vang đó: “Liên Xô đã phải chịu gánh nặng nhất trong cuộc chiến
tranh. Năm đầu, Liên Xô đã gặp những khó khăn không thể tưởng tượng. Lênin-grát bị vây kín, Xta-lin-grát và nhiều thành phố khác bị giặc phá tan
tành… Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản, quân và dân Liên
Xô đã quyết tâm hy sinh tất cả để đánh thắng và đã thắng to. Cuối cùng, 507
sư đoàn phát-xít đã bị Hồng quân tiêu diệt hoặc làm tan rã. Hồng quân đã giết,
làm bị thương và bắt làm tù binh ngót 10 triệu binh sĩ phát-xít. Tổng thống Mỹ
Ru-dơ-ven đã nói rằng: 'Riêng người Nga đã tiêu diệt quân lính Đức và phá
hoại vũ khí Đức nhiều hơn cả 25 nước đồng minh cộng lại'. Ngay cả đến người
ghét cay ghét đắng cộng sản là Thủ tướng Anh Sớc-sin cũng phải thừa nhận
rằng: 'Người Nga họ đã đè bẹp guồng máy quân sự của phát-xít Đức'”.
Chúng ta biết, chính Bác Hồ là người đã đặt nền móng và dày công vun đắp
cho tình hữu nghị vĩ đại này ngày càng phát triển tốt đẹp.
Cũng chính vì vậy mà trong những năm gần đây, Bác Hồ suy nghĩ nhiều về
mối bất hòa giữa một số đảng anh em, trong đó nổi lên là sự bất hòa nghiêm
trọng giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Do đó, sáng 13/5/1965, khi viết tiếp tài liệu “Tuyệt đối bí mật”, trong phần:
“Về phong trào cộng sản thế giới”, Bác Hồ đã dặn lại những lời tâm huyết:
“Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn
mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi
càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hòa hiện nay giữa các đảng anh em!
Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc
khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ
nghĩa Mác – Lê-nin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình.
Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ
phải đoàn kết lại”.
Ngay sáng hôm ấy, trên đường từ nhà sàn xuống nhà ăn, Bác nhắc tôi kiểm
tra lại thư Bác gửi các cháu thiếu nhi Liên Xô hôm thứ bảy tuần trước và thư
Bác gửi các cháu thiếu nhi Trung Quốc thứ hai tuần này. Bác muốn vun đắp
tình hữu nghị anh em, tinh thần quốc tế vô sản chân chính, không chỉ cho thế
hệ đã qua, thế hệ hôm nay và cả thế hệ mai sau.
Chiều tối 13/5, từ 18 giờ 30 đến 19 giờ 30, Bác Hồ gặp gỡ thân mật các đồng
chí cán bộ miền Nam mới ra, có cả một số đồng chí Liên khu V. Phần đông các
đồng chí không được khỏe. Bắc nhắc các cơ quan phục vụ cần chú ý tăng
cường bồi dưỡng cho anh em.
Sáng thứ sáu, 14/5, từ 6 giờ, khi cán bộ, nhân viên cơ quan nhà nước còn
đang bận rộn việc gia đình thì Bác Hồ với bộ quần áo bà ba nâu quen thuộc, đã
đến tận cánh đồng xã Xuân Phương, thuộc huyện Từ Liêm thăm hỏi việc làm
ăn và động viên khen ngợi bà con xã viên đang thu hoạch một vụ chiêm thắng
lợi.
Khó mà quên được niềm vui chung của Bác Hồ và bà con nông dân hôm ấy,
nhất là cảnh các cháu gái, lực lượng lao động chính vào tuổi “bẻ gãy sừng
trâu”, má đỏ hây hây, mồ hôi lấm tấm, tíu tít trả lời Bác Hồ về vụ gặt được
mùa. Bác đi từ thửa ruộng này đến thửa ruộng khác, đến tận nơi thăm hỏi
từng người, tránh cho bà con đỡ mất việc. Cho đến lúc nắng gắt, lưng áo đã
đẫm mồ hôi, Bác Hồ mới vẫy chào bà con ra về. Hàng trăm xã viên đang gặt
lúa ở các thửa ruộng cạnh đó, nghe tin Bác Hồ đến, vội vàng chạy ùa sang,
cũng vừa kịp lưu luyến tiễn Bác. Bác đi xa rồi mà mọi người vẫn còn như vừa
qua một giấc mơ. Những người mới đến hỏi những người may mắn được đứng
gần Bác, rằng Bác có khỏe không? Bác hỏi những câu gì? Bác dạy những điều
gì? Bác đi giày hay đi dép cao su? Bác có khen lúa năm nay của làng ta tốt
không? Bác có vui không? … Nhiều người trách xã, trách huyện sao không
thông báo cho nhân dân biết để mọi người cùng được đến đón Bác. Họ “ghen”
với những người được hạnh phúc đón Bác sáng nay. Nhưng một bà cụ liền giơ
tay phân bua: “Thì tôi cũng có biết trước gì đâu. Đang gặt thì nghe tiếng reo
hò: “Bác Hồ đến! Bà con ơi, Bác Hồ đến!” Thế rồi Bác hiện ra trước mặt tôi, râu
tóc bạc trắng, nét mặt hiền tư như một ông tiên vừa giáng trần”. Đó chính là
bà cụ được Bác Hồ thăm hỏi đầu tiên trong buổi đi thăm sáng nay. Biết bà cụ
có hai con đang chiến đấu ở chiến trường, Bác an ủi, động viên: “Ở hậu
phương ta cố gắng sản xuất cho thật nhiều thóc gạo để bộ đội ăn no đánh
thắng. Giặc Mỹ nhất định thua. Các con cụ sẽ trở về với cụ. Nhân dân ta hãy
chịu khó, chịu khổ, hy sinh thêm vài năm nữa…”
Không ai biết được rằng những lời Bác nói với đồng bào trong buổi gặt lúa
hôm nay, chính là điều mà vừa mới hôm qua Bác đã dặn lại trong Di chúc:
“Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa. Đồng
bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta phải
quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn”.
Gần 10 giờ, Bác mới về tới nhà, kịp tham gia cuộc họp Bộ Chính trị ban về
công tác đào tạo cán bộ. Như vậy là từ 9 giờ sáng đến 10 giờ sáng nay, Bác
không viết tiếp được “lời dặn lại” như đã định. Tuy nhiên, buổi đi thăm đồng
bào gặt lúa đã làm cho Bác rất vui, như trẻ lại vài tuổi. Bác Hồ kỳ diệu như thế
đó. Nhìn Bác ngồi làm việc trên nhà sàn, ta có cảm tưởng đó là một nhà hiền
triết với vầng trán rộng, cặp mắt sáng chứa đầy suy tư trí tuệ. Nhưng khi Bác
ở giữa quần chúng như sáng nay, ta thấy Bác đúng là một...
 





