Sách Nói] Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn - Chương 1
Cải cách Hồ Quý Li

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:24' 07-04-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 9
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:24' 07-04-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 9
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
ebook©vctvegroup
Scan & Pdf: @Nhantinh, @V/C
Ocr: @quandeptrai
Solo text: @Tuyết Nhung
Đóng gói: @Trúc Quỳnh Đặng
14/08/2019
https://thuviensach.vn
PHAN ĐĂNG THANH - TRƯƠNG THỊ HÒA
CẢI CÁCH
HỒ QUÝ LY
Tái bản có bổ sung
NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
https://thuviensach.vn
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Hồ Quý Ly là một người yêu nước, một vị đại thần, một hoàng đế,
một nhà cải cách của nước ta vào cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV.
Công cuộc cải cách của ông mang tính chất toàn diện, triệt để và táo
bạo, vượt hẳn mọi cuộc cải cách khác dưới thời quân chủ ở Việt Nam.
Trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh vào đầu thế kỷ XV, lòng
yêu nước nồng nàn và quyết tâm chống xâm lược của Hồ Quý Ly và
triều đình nhà Hồ đã kiên định dứt khoát ngay từ đầu. Thành nhà Hồ ở
tỉnh Thanh Hóa ngày nay do Hồ Quý Ly và dân, quân Trần – Hồ khẩn
trương xây dựng để phòng bị, chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước.
Sau hơn 6 thế kỷ tồn tại, đến nay thành cổ này đã trở thành di tích lịch
sử thế giới, được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên
Hiệp Quốc (United Nations Educational, Scientific and Cultural
Organization - UNESCO) chuẩn bị thủ tục công nhận.
Cải cách Hồ Quý Ly do hai tác giả Luật sư Phan Đăng Thanh (Thạc
sĩ Luật học, Tiến sĩ Sử học) và Luật sư Trương Thị Hòa (Thạc sĩ Luật
học, Thạc sĩ Sử học) biên soạn. Với mong muốn giúp độc giả hiểu rõ
về sự nghiệp cải cách của Hồ Quý Ly và giá trị lịch sử của Thành nhà
Hồ, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Chí Minh xuất bản quyển sách
Cải cách Hồ Quý Ly. Điều đặc biệt của quyển sách tái bản lần này là
tác giả có cập nhật thêm loạt bài Hành trình tìm mộ Hồ Quý Ly của tác
giả Giao Hưởng (đăng báo Thanh Niên từ ngày 10 đến 15- 8-2010).
Qua đó thấy rõ thêm mọi người dân Việt Nam đời sau đều ngưỡng mộ,
ghi nhớ công trạng vì nước quên mình của vua Hồ Quý Ly.
https://thuviensach.vn
Đây là tài liệu cũ xưa mà mới mẻ, thực sự bổ ích đối với những
người đang làm công việc nghiên cứu, sinh viên, học sinh và mọi tầng
lớp nhân dân yêu thích lịch sử nước nhà; để qua đây, mỗi người chúng
ta đều có thể chiêm nghiệm và hiểu thêm về sự nghiệp vẻ vang của các
bậc tiền nhân trong công cuộc giữ gìn đất nước, bảo vệ Tổ quốc và
không ngừng đổi mới, cải tiến cuộc sống của mình.
Trân trọng giới thiệu quyển sách Cải cách Hồ Quý Ly cùng bạn
đọc.
NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
https://thuviensach.vn
LỜI NÓI ĐẦU
Trong từng thời kỳ lịch sử Việt Nam, những nhà cải cách đã lần
lượt xuất hiện. Có người trực tiếp nắm giữ quyền điều khiển vận mệnh
đất nước nên đã có điều kiện thuận tiện để tiến hành công cuộc cải
cách của mình. Đó là trường hợp Tiết độ sứ Khúc Hạo (907 - 918),
vua Lê Thánh Tông (1460 -1497), Quang Trung Hoàng đế Nguyễn
Huệ (1788 - 1792)... Cũng có những nhà chính trị có tư tưởng cải cách
đem kiến nghị với nhà cầm quyền đương thời, cũng như bôn ba vận
động, truyền bá quan điểm, tư tưởng của mình trong quần chúng nhân
dân nhưng vẫn chưa thể tiến hành được công việc cải cách nào, bởi họ
không có quyền lực nhà nước trong tay. Đó là trường hợp của Chu
Văn An (1292 - 1370), Nguyễn Trường Tộ (1828 - 1871), Bùi Viện
(1844 - 1878), Phan Bội Châu (1867 - 1940), Phan Châu Trinh (1872 1926)... Mỗi đề nghị cải cách của họ đưa ra đều nhằm giải quyết
những ách tắc, mâu thuẫn trong xã hội để đối phó với những khủng
hoảng trầm trọng của xã hội.
Trường hợp Hồ Quý Ly thì khác.
Hồ Quý Ly là một nhà cải cách lớn cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV
ở nước ta. Lúc đầu, với vai trò của một đại thần nhà Trần, ông đã từng
bước đem tư tưởng của mình ra thực hiện, song vì chưa nắm được
quyền lực quốc gia trọn vẹn trong tay nên không có đủ điều kiện để
thực thi cải cách đến nơi đến chốn. Từ đó ông quyết tâm tổ chức, vận
động chính trị để làm cuộc đảo chính giành lấy chính quyền vào tay
mình và trực tiếp điều khiển công cuộc cải cách trên cương vị một nhà
vua, một thái thượng hoàng, người có quyền lực tối cao cả nước...
https://thuviensach.vn
Tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly thật toàn diện và táo bạo. Chỉ
trong khoảng thời gian tương đối ngắn ngủi - hơn 5 năm cuối triều
Trần và chưa đầy 7 năm dưới triều Hồ - những việc làm thực tế của
Quý Ly cho thấy ông đã vạch ra và quyết tâm thực hiện cải cách khắp
mọi lĩnh vực: chính trị, hành chính, quốc phòng, kinh tế, tài chính, tư
tưởng, văn hóa, giáo dục, xã hội... Thuở ấy, tư tưởng nào của ông cũng
mới mẻ, hành động nào của ông cũng trọng đại. Song cuối cùng, công
cuộc cải cách đã thất bại thảm hại: dòng họ bị mất ngôi, dân tộc bị mất
nước!
Nhằm rút tỉa những bài học quá khứ, ôn cố tri tân, chúng tôi mạo
muội cho ra mắt quyển sách này. Vẫn biết từ trước đến nay, Hồ Quý
Ly cũng như Trần Thủ Độ (1194 - 1264), Mạc Đăng Dung (1483 1541)... đã từng được nhiều thế hệ đời sau phân tích công, tội; xác
định cho những giá trị khác nhau. Ở đây, chúng tôi cố gắng sưu tầm và
tập hợp những sử liệu tương đối trung thực, đầy đủ về nhiều mặt, để
làm sáng tỏ thêm nhân vật Hồ Quý Ly và nhà Hồ.
Đánh giá đúng đắn một sự kiện lịch sử, một giai đoạn lịch sử là việc
làm không hề dễ dàng. Đánh giá khách quan một nhân vật lịch sử lại
là việc làm càng khó khăn, phức tạp. Ước mong của chúng tôi là được
bạn đọc xa gần nhận xét, phê bình và chỉ bảo cho những thiếu sót để
tác giả được hiểu biết tường tận, chín chắn thêm, hầu bổ cứu cho nội
dung quyển sách được tươm tất hơn trong những lần tái bản.
13-2-1995
PHAN ĐĂNG THANH
TRƯƠNG THỊ HÒA
https://thuviensach.vn
CHƯƠNG I
HỒ QUÝ LY: ÔNG LÀ AI?
Sự xuất hiện nhân vật Hồ Quý Ly và triều Hồ vào những năm cuối
thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV là một hiện tượng lịch sử đặc biệt. Thời
gian thực hiện quyền lực của Hồ Quý Ly và giai đoạn trị vì của nhà
Hồ tuy ngắn ngủi song đã được nhiều người phân tích và đánh giá cao,
coi ông là một nhà cải cách lớn với những chủ trương toàn diện, táo
bạo và triệt để. Bên cạnh đó, nhất là trước đây, cũng đã có một luồng
quan điểm ngược lại. Trước hết người ta cho rằng họ Hồ đã dùng mọi
thủ đoạn, âm mưu để thoán đoạt ngôi vua của nhà Trần và trong suốt
thời gian thực hiện quyền lực có được của mình, Hồ Quý Ly đã tỏ ra là
một nhà chính trị đầy thủ đoạn, một nguyên thủ quốc gia độc tài với
quá nhiều tham vọng... Đó cũng là nguyên nhân dẫn vương triều Hồ
đến sụp đổ hoàn toàn, đưa đất nước vào vòng nô lệ phương Bắc suốt
20 năm sau đó. Chính Hồ Quý Ly là người đã nỗ lực với biết bao công
sức để xây dựng một quốc gia hùng cường nhưng cuối cùng chính ông
là người phải chịu hậu quả mất ngôi, mất nước!
Dù thế nào đi nữa, thực tế cũng đã khẳng định Hồ Quý Ly là một
nhân vật lịch sử lớn của nước nhà. Hồ Quý Ly và nhà Hồ đã thực sự
trở thành cột mốc nổi bật trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc
với những cải cách trọng đại đã được đề ra và thực hiện quyết liệt
trong suốt thời đại của ông. Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam,
trước và sau Hồ Quý Ly cũng có một vài nhà cải cách nhưng không
nhà cải cách nào có đường lối toàn diện và triệt để bằng Hồ Quý Ly và
https://thuviensach.vn
cũng không có cuộc cải cách nào cuối cùng đi đến kết quả thất bại một
cách xót xa, thảm hại bằng cải cách Hồ Quý Ly...
https://thuviensach.vn
MỤC 1
KHỦNG HOẢNG TOÀN DIỆN CUỐI
NHÀ TRẦN
Cai trị nước ta suốt 174 năm, từ năm 1226 đến 1400, vương triều
Trần trải qua 12 đời vua. Giai đoạn trị vì của 6 vua đầu nhà Trần(*) kéo
dài 115 năm là thời kỳ lịch sử lớn, đánh bại 3 lần giặc xâm lược
Nguyên Mông, góp phần xây dựng nền văn minh rực rỡ của dân tộc:
văn minh Đại Việt. Tuy nhiên, đến đời vua Dụ Tông (1341 - 1369),
nhà Trần đã bắt đầu suy vi, kế tục thêm 5 vua nữa(*) trong vòng 30
năm thì ngôi nhà Trần thực sự chấm dứt. Hai vua Hậu Trần: Giản
Định Đế (1407 - 1409) và Trùng Quang Đế (1409 - 1413) chỉ là sự nối
tiếp nhà Trần, với các vua của thời kỳ đất nước đã rơi vào tay giặc
Minh xâm lược.
I. MẦM MỐNG SUY SỤP
Thực ra, ngay từ thời vua Trần Minh Tông, vương triều Trần đã
bước đến giai đoạn quá độ hưng thịnh đến suy vi. Triều đại vua Minh
Tông tuy vẫn còn giữ được truyền thống vẻ vang của nhà nước Đông
A trong việc đối nội, đối ngoại nhưng nó cũng đã bộc lộ hiện tượng
suy yếu, trong triều đã chia rẽ phe nhóm tranh chấp quyền lực, triệt hạ
nhau, trật tự xã hội bắt đầu rối ren, nhân tâm có phần xao xuyến... Đại
Việt sử ký toàn thư chép: “Vua đem văn minh sửa sang đạo trị nước,
làm rạng rỡ công nghiệp của người xưa, giữ lòng trung hậu, lo nghĩ
sâu xa, trong yên ngoài phục, kỷ cương đủ bày. Tiếc rằng không nhận
https://thuviensach.vn
biết mưu gian của Khắc Chung, để đễn nỗi Quốc Chẩn phải chết, đó là
chỗ kém thông minh vậy”(*).
Nguyên năm Mậu Thìn (1328), vua Minh Tông trị vì ở ngôi đã 15
năm mà vẫn chưa lập được Thái tử. Cha của Hoàng hậu Lệ Thánh là
Quốc phụ Thượng tể Trần Quốc Chẩn (chú ruột của vua Minh Tông)
vẫn muốn đợi Hoàng hậu có con rồi sẽ lập Thái tử. Trong khi đó, trong
triều có một phe khác gồm Thiếu bảo Trần Khắc Chung cùng Cương
Đông Văn hiến hầu là con (có sách chép là em) của Thái sư Trần Nhật
Duật, lại muốn đưa ngay Trần Vượng là con của một bà phi họ Lê lên
làm Thái tử. Quyết tâm triệt hạ Quốc Chẩn, Văn hiến hầu sai người
đem 100 lạng vàng đến đút lót cho gia thần của Quốc Chẩn là Trần
Phẩu, bảo Phẩu vu cáo Quốc Chẩn âm mưu làm phản. Sự việc diễn ra
đúng như âm mưu của Văn hiến hầu, vua tin là thực, hạ lệnh bắt giam
Quốc Chẩn, cấm tuyệt không cho ăn uống, bắt phải tự tử. Hoàng hậu
Lệ Thánh phải lấy áo tẩm nước lén vào nơi giam cho cha uống, uống
xong thì Quốc Chẩn chết. Sau đó, vua ra lệnh bắt hơn 100 người nghi
có liên can với Quốc Chẩn... Nhưng vài năm sau, vụ án này được
minh oan. Vì vợ cả, vợ lẽ của Trần Phẩu ghen nhau nên đem chuyện
Văn hiến hầu âm mưu cùng Trần Phẩu vu cáo Quốc Chẩn nói ra cho
mọi người biết. Trần Phẩu bị xử lăng trì nhưng chưa kịp hành hình thì
gia nô của con của Quốc Chẩn đã giết và ăn hết thịt Phẩu! Văn hiến
hầu thì bị giáng làm dân thường, bị xóa tên trong sổ hoàng tộc...
Dù sự kiện diễn ra như vậy, song ngay sau khi Quốc Chẩn chết thì
Trần Vượng cũng đã được phong làm Đông cung Thái tử, tiếp đến
được phong Hoàng Thái tử rồi 7 ngày sau, Thái tử Trần Vượng được
vua Minh Tông truyền ngôi cho, tức vua Trần Hiến Tông. Lúc đó vua
Hiến Tông mới 10 tuổi, quyền chính vẫn nằm trong tay Thượng hoàng
Minh Tông.
Vua Hiến Tông “tư trời tinh anh, sáng suốt” nhưng ở ngôi không
được lâu, đến năm 22 tuổi thì vua mất (năm Tân Tỵ - 1341). Thực ra
triều Hiến Tông cũng là triều của Minh Tông, tuy không được hưng
https://thuviensach.vn
thịnh như trước, lúc này nhà Trần đã bộc lộ hướng suy sụp ở nhiều
mặt, nhưng quân đội Đại Việt vẫn còn đủ sức chinh Nam chinh Tây,
ngán ngừa được ngoại xâm, tình hình đối nội, đối ngoại vẫn tương đối
ổn định...
Từ khi vua Hiến Tông mất, nguy cơ đổ nát của nhà Trần đã đến.
II. CUỘC KHỦNG HOẢNG TOÀN DIỆN
A. ĐỐI NỘI
Tháng 6 năm Tân Tỵ (1341), vua Trần Hiến Tông mất. Vì vua Hiến
Tông không có con nên Thượng hoàng Minh Tông lập người con thứ
10 của mình là Hoàng tử Trần Hạo (con của vua Minh Tông và bà
Hiến Từ Hoàng hậu) lên nối ngôi, tức vua Trần Dụ Tông (1341 1369).
Từ đời vua Dụ Tông, nhà Trần đã bộc lộ suy sụp nhiều mặt, bắt đầu
trượt nhanh xuống dốc.
1. Sự suy thoái của tầng lớp cầm quyền
Cuối nhà Trần, hầu hết các vua đều không xứng đáng. Một số bất tài
lại thiếu đạo đức. Một số chỉ có hư vị vì nhu nhược hoặc vì còn nhỏ
tuổi... Chỉ trong vòng hơn 50 năm, nhà Trần đã thay vua đến 7 lần.
Triều đình chia bè kéo cánh, tranh giành quyền lợi, giết hại lẫn nhau.
Những kẻ bất tài dua nịnh thì được thăng quan tiến chức, còn người
trung liệt thì treo ấn từ quan...
1.1. Những ông vua bất xứng
a) Vua Dụ Tông trụy lạc, sa đọa: Dụ Tông lên ngôi vào tháng 8
năm Tân Tỵ (1341), lúc ấy vua mới 6 tuổi. Lúc đầu vì còn Thượng
hoàng Minh Tông thay Dụ Tông trị nước nên nói chung tình hình
trong nước chưa xảy ra điều gì quá tồi tệ. Đến tháng 2 năm Đinh Dậu
(1357), Thượng hoàng Minh Tông qua đời. Năm ấy vua Dụ Tông
https://thuviensach.vn
cũng đã trưởng thành, không còn ai kiềm chế, can gián, cũng từ lúc ấy,
nhà vua bắt đầu “tự do” chìm đắm trong hoan lạc.
Bản tính vua Dụ Tông là người thích đánh bài, ham mê uống rượu,
háo sắc... Vua tha hồ rượu chè, trụy lạc, xây cung điện, đào hổ chơi,
đắp núi giả, biến cung đình thành sòng bạc, quán rượu, yến tiệc linh
đình suốt ngày đêm...
Thuở nhỏ, lúc lên 4 tuổi, có lần vua đi chơi thuyền ban đêm ở hồ
Tây bị ngã xuống nước. Vua được vớt lên và nhờ có lương y Trâu
Canh dùng phương pháp chữa trị bằng kim châm nên thoát chết nhưng
lớn lên vua mang chứng bệnh liệt dương. Năm Tân Mão (1351), vua
được 16 tuổi, Trâu Canh có dâng phương thuốc trị bệnh bằng cách giết
một đứa bé trai, lấy mật hòa với dương khởi thạch mà uống và thông
dâm với chị hay em ruột của mình thì sẽ hiệu nghiệm. Vua làm theo,
thông dâm với chị ruột là Công chúa Thiên Ninh, quả nhiên công
hiệu(*).
Suốt ngày vua tổ chức rượu chè, ca hát, chơi bời... Sử chép: “Mùa
hạ, tháng 4, gọi Chánh chưởng phụng ngự cung Vĩnh An là Bùi Khoan
cùng uống rượu. Khoan lập mẹo vờ uống hết 100 thăng rượu, được
thưởng tước 2 tư. Tháng 5, vua đi hóng gió chơi trăng. Vì uống rượu
quá say, lại lội xuống sông tắm, nên bị ốm”(*). “Rồi năm sau, tháng 6,
vua ngự thuyền nhỏ đến chơi nhà Thiếu úy Trần Ngô Lang ở hương
Mễ Sở (huyện Châu Giang, tỉnh Hải Hưng), đến canh ba mới về. Khi
tới sông Chử Gia (huyện Châu Giang, Hải Hưng), bị cướp mất ấn báu,
gươm báu. Vua tự biết mình không sống lâu, càng thả sức chơi bời”(*).
Tháng giêng năm Nhâm Dần (1362), vua ra lệnh cho các vương
hầu, công chúa dâng các trò tạp hý, vua đích thân xét duyệt, thấy trò
nào hay thì ban thưởng. Bên cạnh việc ham chơi đàn hát, vua cũng
đam mê bài bạc, tổ chức đánh bạc ngay trong cung. “Lại cho gọi các
nhà giàu trong nước, như ở làng Đình Bảng thuộc Bắc Giang, làng
Nga Đình thuộc Quốc Oai, vào cung đánh bạc làm vui. Có tiếng bạc
đặt tới 300 quan tiền, ba tiếng thì đã gần ngàn quan rồi”(*).
https://thuviensach.vn
Để phục vụ cho những cuộc vui chơi của mình, vua Dụ Tông sai
đào hồ ở vườn ngự, chất đá làm núi, bốn mặt khai ngòi cho nước
thông vào. Sau đó còn đào một hồ nhỏ khác bắt dân Hải Đông chở
nước mặn về chứa vào hồ để nuôi hải sản (đồi mồi, cua, cá, cá sấu...).
Nhận xét về vua Dụ Tông, Việt sử thông giám cương mục chép:
“Nghiện rượu, mê đàn hát, xa xỉ làm cung điện nguy nga và tường
vách chạm trổ, lãng phí tiền của, hoang dâm chơi bời, món gì Dụ
Tông cũng mắc! Cơ nghiệp nhà Trần sao khỏi suy được?”(*)
b) Ngai vàng nhà Trần lọt vào tay một ông vua họ Dương hoang
dâm vô độ: Năm Kỷ Dậu (1379), Dụ Tông qua đời, không có con.
Ngày sắp mất, vua xuống chiếu đón người con nuôi của Cung Túc Đại
vương Dục (anh ruột của vua Dụ Tông, đã chết) là Dương Nhật Lễ
vào truyền cho nối ngôi. Việc này được bà Hiến Từ Hoàng Thái hậu
tích cực đồng tình, bảo: “Dục là con đích trưởng mà không được ngôi
vua, lại sớm lìa đời. Nhật Lễ chẳng phải là con của Dục ư?”(*). Như
vậy, thực sự đã bỏ tôn thất nhà Trần mà lập vua họ khác!(*)
Nhật Lễ lên ngôi (từ tháng 6 năm Kỷ Dậu - 1369) cũng là một ông
vua đam mê tửu sắc, tổ chức yến ẩm linh đình suốt ngày đêm. Sử
chép: “Nhật Lễ tiếm vị, rượu chè dâm dật, hàng ngày chỉ rong chơi,
thích các trò hát xướng, muốn đổi lại là họ Dương. Người tôn thất và
các quan đều thất vọng”(*). Thấy Hiến Từ Hoàng Thái hậu tỏ ý tiếc
việc đưa mình lên ngôi, Dương Nhật Lễ đã giết bà ở trong cung.
Bây giờ Cung Định vương Phủ (con của Thượng hoàng Minh Tông
và Minh Từ Hoàng thái phi) thấy tình hình như vậy nên lo sợ. Trần
Phủ vốn là người nhu nhược lại không có ý tranh giành ngôi vua nên
bỏ trốn lên mạn Đà Giang. Mười hôm sau, triều thần họp nhau lại dẫn
quân về kinh, phế Nhật Lễ, tôn Cung Định vương Phủ lên ngôi.
Vụ chính biến Dương Nhật Lễ kéo dài 17 tháng, ngôi nhà Trần một
phen suýt mất về tay họ Dương. Qua đó cũng cho thấy triều Trần đã
bắt đầu thối nát trầm trọng. Vua Dụ Tông là một vị vua bất xứng, vô
https://thuviensach.vn
đạo làm cho triều chính ngửa nghiêng, lòng người ly tán. Anh vua là
Cung Túc Đại vương Dục mê đào hát, cướp vợ dân...
c) Vua Nghệ Tông nhu nhược, yếu hèn: Ngày 15 tháng 11 năm Canh
Tuất (1370), Cung Định vương Phủ - lúc ấy đã 40 tuổi, lên ngôi
Hoàng đế, tức Trần Nghệ Tông (1370 - 1372). Tuy Nghệ Tông làm
vua chỉ có 2 năm nhưng ở trên cương vị Thái thượng hoàng suốt cả 3
đời vua sau, trải qua 22 năm (Nghệ Tông mất vào tháng Chạp năm
Giáp Tuất - 1394). Trên nguyên tắc, tất cả quyền bính lúc ấy vẫn thuộc
về Nghệ Tông nhưng thực tế suốt cuộc đời nắm quyền nguyên thủ
quốc gia, bên cạnh Trần Nghệ Tông còn có sự hiện diện của nhân vật
Lê Quý Ly. Quý Ly là người được vua Nghệ Tông hết lòng tin dùng,
Nghệ Tông hay nghe theo lời Quý Ly nên chính Quý Ly mới thật là
người có vai trò quyết đoán mọi việc chính sự của triều Trần kể từ
đây...
Bản chất Nghệ Tông là người nhu nhược, không dám quyết đoán
việc gì. Ngay từ lúc Nhật Lễ chiếm ngôi, dù thấy họa sắp lây đến với
mình, ông vẫn dùng dằng, lưỡng lự, đến khi có nhiều người khuyên
nhủ, thúc giục tới nơi, ông mới chịu lánh thân về mạn Đà Giang... Sau
đó, triều thần tôn thất cùng nhau khuyên ông về kinh trừ loạn, lúc đầu
ông cũng nghẹn ngào từ chối, mọi người hai, ba lần mời lên kiệu, sau
cùng ông mới chịu nghe theo... Thấy thế lực phù trợ của ông mạnh,
Nhật Lễ mới nghe theo lời Thiếu úy Trần Ngô Lang (đã dự mưu trước
cùng với phía Nghệ Tông) viết thư tạ tội và ra tận ngoài thành phủ
phục đón đón vua(*). Trước sự tình ấy, Nghệ Tông cảm động ôm lấy
Nhật Lễ khóc lóc kể rằng: “Không ngờ sự thể ngày nay đến thế này!”.
Cung Tuyên vương Trần Kính thấy vậy bực mình, giơ kiếm quát:
“Nay vâng mệnh trời đánh kẻ có tội. Tên tội nhân kia sao còn được
nói lôi thôi! Bệ hạ há nên vì lòng nhân từ bịn rịn mà bỏ mất nghĩa lớn
sao!” Nói xong, Cung Tuyên vương cho lôi Nhật Lễ ra, giam vào một
nơi. Sau đó cha con Nhật Lễ bị đánh chết(*).
https://thuviensach.vn
Sự yếu đuối của Nghệ Tông còn thể hiện nhiều lần khi bị giặc
Chiêm Thành tấn công, ông lo sợ cho mang tài sản, tiền bạc vào núi
cất giấu, hễ lần nào giặc kéo quân tới uy hiếp thì bỏ kinh thành mà
chạy. Tháng 6 năm Quý Hợi (1383), Chiêm Thành vào chiếm đóng
Quảng Oai. Kinh đô xao xuyến, kinh hãi. Nghệ hoàng sai Nguyễn Đa
Phương đem quân dựng rào lũy tre bằng gỗ ở kinh thành, ngày đêm
canh giữ, còn mình thì sửa soạn xa giá để chạy sang lánh giặc ở Đông
Ngàn. Nguyễn Mộng Hoa là một kẻ sĩ thấy vậy liền chạy đến bên
sông, mặc cả mũ áo chỉnh tể, nhảy xuống nước lôi kéo thuyền ngự, xin
Thượng hoàng ở lại đánh giặc nhưng Thượng hoàng cũng không
nghe... Việc này sử thần Ngô Sĩ Liên đã có nhận xét: “Nghệ Tông
thiếu can đảm. Giặc chưa tới đã lánh trước, thì người trong nước như
thế nào? Mộng Hoa là một người học trò, còn biết giữ Nghệ Tông lại,
những “kẻ ăn thịt” thực đáng khinh thay!(*)
d) Vua Duệ Tông chủ quan, tự phụ: Trong số các vua Trần mạt, có
lẽ chỉ Trần Duệ Tông là ông vua có tài cầm binh, cứng cỏi nhưng lại
quá chủ quan và tự kiêu, tự phụ. Bản tính ấy đã dẫn ông đến thất bại
mà thất bại đau xót nhất là sự kết liễu cuộc đời ông tại chiến trường
trên đất nước Chiêm Thành.
Trần Nghệ Tông làm vua được 2 năm, đến tháng 11 năm Nhâm Tý
(1372) thì nhường ngôi cho người em cùng cha khác mẹ của mình
(cũng là anh em bạn dì ruột) là Cung Tuyên vương Trần Kính, tức vua
Trần Duệ Tông. Trần Kính là người đã có nhiều công bảo vệ Nghệ
Tông trong lúc lánh nạn và hai năm trước đã phò đưa Nghệ Tông lên
ngôi vua. Sử cũ nhận xét Trần Duệ Tông như sau: “Vua ương gàn, có
chấp, không nghe lời can, khinh thường quân giặc nên mang họa vào
thân chứ không phải là do bất hạnh”(*).
Trong công cuộc chinh phạt Chiêm Thành năm Đinh Tỵ (1377), vua
Duệ Tông cầm binh tiến sâu vào đất Chiêm Thành, tới tận kinh thành
Đồ Bàn (thành Đồ Bàn ngày nay còn di tích ở huyện Tuy Viễn, tỉnh
Bình Định). Đại tướng Đỗ Lễ can vua: “Nó đã chịu hàng, là muốn bảo
https://thuviensach.vn
toàn đất nước làm đầu. Quan quân vào sâu đánh phá thành giặc là việc
bất đắc dĩ. Xin hãy sai một biện sĩ cầm mảnh thư đến hỏi tội, để xem
tình hình hư thực của giặc, như kế sách của Hàn Tín phá nước Yên
ngày trước, không phải khó nhọc mà thành công. Cổ nhân có nói:
“Lòng giặc khó lường”. Thần xin Bệ hạ hãy xét kỹ lại”(*).
Vua trách Đỗ Lễ nhút nhát, chê Đỗ Lễ “chính là hạng đàn bà” rồi
sai lấy áo đàn bà mặc cho Lễ và nói rằng: “Ta mình mặc giáp cứng,
tay mang gươm sắc, dãi gió dầm mưa, lội sông trèo núi, vào sâu trong
đất giặc, không ai dám đương đầu với ta”(*). Trước đó, Ngự sử đại phu
Trương Đỗ cũng có ý can vua, 3 lần dâng sớ xin vua không nên đích
thân cẩm quân đánh sâu vào đất Chiêm nhưng vua cũng không nghe
nên ông treo mũ bỏ đi. Bà từ phi Nguyễn Thị Bích Châu là hậu phi
được vua yêu quý nhất, cũng dâng sớ khuyên vua nên dùng đức hóa,
không nên dùng vũ lực với Chiêm Thành nhưng vua không trả lời và
quyết định bình Chiêm.
Lọt vào vòng vây của Chế Bồng Nga, Trần Duệ Tông bỏ mạng nơi
chiến trường, một mặt nào đó nêu được lòng dũng cảm, vì nước quên
thân của nhà vua nhưng sự thất bại ấy rõ ràng đã xảy ra từ sự quá chủ
quan, khinh địch mà lẽ ra không đáng có.
đ) Các ông vua trẻ tuổi, bù nhìn: Đế Hiện, Thuận Tông và Thiếu
Đế: tháng 5 năm Đinh Tỵ (1377), thấy vua Duệ Tông hy sinh vì nước,
Thượng hoàng Nghệ Tông lập con trưởng của Duệ Tông là Hiện lên
làm vua, tức Đế Hiện (Trần Phế Đế). Năm ấy vua mới 16 tuổi. Sử cũ
nhận xét Đế Hiện rằng: “Vua u mê, nhu nhược, không làm nổi việc gì,
uy quyền ngày càng về tay kẻ dưới (chỉ Lê Quý Ly), xã tắc lung lay,
đến thân mình cũng không giữ được”(*).
Tháng Chạp năm Mậu Thìn (tháng 1-1389), nghe theo lời Quý Ly,
Nghệ hoàng bắt giam và giáng Đế Hiện xuống làm Linh Đức Đại
vương. Các tướng chỉ huy các đội quân định đem binh vào phá nhà tù
cứu vua, nhưng lúc ấy vua Đế Hiện lại viết hai chữ “Giải giáp” đưa
https://thuviensach.vn
cho các tướng và bảo họ không được trái ý Thượng hoàng. Lát sau, Đế
Hiện bị dìu xuống phủ Thái Dương thắt cổ cho chết.
Lúc Đế Hiện được đưa lên ngôi thì người con út của Thượng hoàng
Nghệ Tông là Trần Ngung vừa sinh ra. Đến khi Đế Hiện bị phế thì
người con này được lập lên ngôi, tức vua Trần Thuận Tông, lúc đó vua
mới 11 tuổi.
Đầu năm 1389, Thuận Tông vừa lên ngôi thì được Quý Ly gả ngay
cho người con gái lớn của mình là Thánh Ngâu để làm Hoàng hậu. Từ
ấy, nhất là sau khi Thượng hoàng Nghệ Tông qua đời (1394) đến suốt
quãng đời làm vua của mình, Thuận Tông thực sự chỉ là một ông vua
bù nhìn, dưới quyền người cha vợ đang là Phụ chính Thái sư Lê Quý
Ly.
Vai trò của Trần Thuận Tông cũng như con ông sau này - Trần
Thiếu Đế, lên ngôi năm 1398, lúc mới 3 tuổi, “nhận truyền ngôi mà
không biết lạy”, mọi việc chính sự đều nằm trong tay ông ngoại là
Quốc tổ Chương hoàng Lê Quý Ly... Nhưng số phận của vua cha Thuận Tông có phần bi đát hơn vua con, bởi vua cha sau khi mất ngôi
đã bị bức tử bằng cách thắt cổ cho chết, còn con ông - Thiếu Đế thì vì
là cháu ngoại của Quý Ly nên không bị giết.
1.2. Triều đình suy thoái, phân hóa nghiêm trọng
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy đức hạnh của nhà vua như thế nào thì
đức hạnh của những nhân vật cận thần của vua cũng tương ứng như
vậy. Bởi, triều đình là bộ máy trước hết để thực hiện những ý đồ của
vua, thỏa mãn những thị hiếu của vua, đúng như lời Thượng hoàng
Minh Tông từng nói: “Nếu ta quả là hiền thì những người được ta
dùng cũng hiền, như Nghiêu, Thuấn đối với Tắc, Khiết, Quỳ Long
vậy. Nếu ta không hiền thì những kẻ mà ta dùng cũng không hiền, như
Kiệt, Trụ đối với Phi Liêm, Ác Lai vậy. Đó chính là đồng thanh tương
ứng, đồng khí tương cầu, cùng loại thì hợp nhau”(*).
https://thuviensach.vn
a) Dưới quyền Dụ Tông, trong triều có một đám cận thần phục vụ
những chuỗi ngày trác táng của vua; dưới quyền đám cận thần này tất
còn có những tay chân khác nữa. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Dụ
Tông ham chơi bời, lười chính sự, quyền thần nhiều kẻ làm trái phép
nước”(*). Trâu Canh bày vẽ cho vua những trò dâm dật, Canh lại dâm
dật với cung phi của vua cũng không phải tội. Bùi Khoan nhờ có tài
uống rượu hầu vua mà được thưởng tước 2 tư...
Bọn quyền thần đã lợi dụng sự tối tăm, sa đọa của vua để thi nhau
rượu chè be bét, làm mưa làm gió trong triều và ức hiếp dân chúng
ngoài xã hội. Các quan chức đổ xô chiếm hết nguồn sống của dân, gây
nên một tình thế xã hội vô cùng quẫn bách...
Trong hoàn cảnh bi đát đó, quan Tư nghiệp Quốc tử giám Chu Văn
An đã dâng lên vua Dụ Tông Thất trảm sớ để nghị chém 7 tên gian
thần để chấn chỉnh chính sự. Nhưng vua không nghe nên ông treo mũ
từ quan, về sống ẩn dật ở núi Chí Linh...
b) Từ đó, triều đình nhà Trần ngày càng có nhiều biểu hiện suy
thoái, trong triều có nhiều biến loạn. Các phe cánh mưu hại, đánh giết
lẫn nhau để giành lấy quyền lực, đặc biệt là sau vụ biến loạn Dương
Nhật Lễ... Trong lúc đó, có một bà phi đã dâng lên vua Trần Duệ Tông
tờ sớ để xin chấn chỉnh triều đình. Bài Kế minh thập sách của bà từ
phi Bích Châu cho thấy sự suy vi của triều đình cần được chấn chỉnh
ngay, chủ yếu cũng bởi do nhân sự quan lại đương thời quá thối nát,
bất tài, thất đức mà ra. Bài Kế minh thập sách có đoạn viết:
“Kính dâng mười chước, mong được một điều.
Một là bền gốc nước, kẻ bạo trừ, thì dân chúng được yên;
Hai là giữ nếp xưa, việc phiền bỏ, thì triều cương không rối;
Ba là nén kẻ lạm quyền để trừ mọt nước;
Bốn là đuổi bọn nhũng lại để bớt chài dân;
Năm là xin mở lối nho phong để ngòi lửa đóm được rạng soi
cùng nhật nguyệt;
https://thuviensach.vn
Sáu là xin tìm lời trực gián, để đường ngôn luận được mở rộng
như cửa thành;
Bảy là kén quân nên lấy hạng kiện hùng hơn là to vóc dạc;
Tám là chọn tướng nên tìm người thao lược hơn là bậc thế gia;
Chín là khí giới cốt sao cho tinh nhuệ, hà tất hoa hòe;
Mười là trận pháp tập cần phải chỉnh tề, không cần múa nhảy.”(*)
Bài Kế minh vang lên như một bản cáo trạng hùng hồn nhắm vào
tình thế suy bại lúc bấy giờ. Nhưng rồi vua ban khen mà không thấy
thực hiện.
c) Dưới quyền của Thượng hoàng Nghệ Tông và các vua trẻ tuổi
hữu danh vô thực, triều đình lại càng chia bè, kết cánh một cách
nghiêm trọng hơn. Đặc biệt việc phân hóa triều đình vào những năm
cuối nhà Trần đã không còn là sự tranh chấp phe cánh có tính cách
riêng tư do quyền lợi vật chất, danh vọng hay do tình cảm cá nhân nữa
mà đã bộc lộ sự mâu thuẫn gay gắt, đấu tranh quyết liệt giữa các
khuynh hướng chính trị khác nhau: giữa tầng lớp vương hầu quý tộc
nhà Trần với tầng lớp quan liêu nho sĩ về quyền lực, giành lấy chỗ
đứng cao hơn trong bộ máy chính quyền; giữa khuynh hướng bảo thủ
hết lòng bảo vệ sự tồn tại của vương triều Trần với khuynh hướng cấp
tiến muốn cải cách có thể tiến tới lật đổ ngai vàng của nhà vua... Cuộc
đấu tranh quyết liệt ấy được thể hiện công khai qua các vụ triệt hạ,
thanh toán thẳng tay với nhau bằng bạo lực, có khi âm ỉ ngấm ngầm
trong dư luận xã hội như nội dung thư của Bùi Mộng Hoa dâng lên
Thượng hoàng Nghệ Tông đại ý nói: “Thần nghe trẻ con có câu hát
rằng: “Thâm hiểm thay Thái sư họ Lê”, xem thế, Quý Ly nhất định có
ý dòm ngó ngôi báu”(*).
2. Nhân dân thống khổ vì bị thiên tai, địch họa, thuế má
nặng; giặc giã nổi lên khắp nơi; xã hội phân hóa trầm trọng
https://thuviensach.vn
Trong lúc từ vua đến triều đình ngày càng tỏ ra suy thoái, bệ rạc thì
đời sống dân chúng ngày càng thêm khó khăn, thắc ngặt, đói khổ...
2.1. Thiên tai
Trong thế kỷ XIV, nhất là từ năm đời vua Dụ Tông trở về sau, lũ lụt,
vỡ đê, hạn hán liên tiếp xảy ra.
Dưới đời các vua Trần mạt, có hơn 11 lần bão lụt, mưa to gió lớn,
nước dâng cao làm vỡ đê. Cụ thể như các trận lũ lụt vào các năm Mậu
Tý (1348), Tân Mão (1351), Nhâm Thìn (1352), Ất Mùi (1355), Kỷ
Hợi (1359), Canh Tý (1360), Kỷ Dậu (1369), Mậu Ngọ (1378), Nhâm
Tuất (1382), Canh Ngọ (1390), Quý Dậu (1393)... Mỗi trận nước lớn
tràn ngập làm vỡ đê, lúa thóc bị chìm ngập, nước cuốn trôi cả nhà cửa
của dân.
Cùng với những trận lũ lụt cũng xảy ra liên tiếp những vụ hạn hán,
sâu rầy phá hoại mùa màng, tôm cá bị chết nhiều... Những trận hạn lớn
xảy ra vào các năm Quý Mùi (1343), Giáp Thân (1344), Ất Dậu
(1345), Mậu Tý (1348), Ất Mùi (1355), Mậu Tuất (1358), Nhâm Dần
(1362), Giáp Dẩn (1374), Kỷ Mùi (1379), Quý Dậu (1393)... Có
những năm vừa mưa to, nước lớn vừa có hạn hán xảy ra (vào các năm
1348,1355). Nặng nề nhất là vào năm Quý Dậu (1393): tháng 6 hạn
hán; tháng 7 gió dữ, mưa lớn; tháng 8 động đất, nước to; tháng 9 sâu
rầy phá hoại mùa màng... Những trận sâu rầy phá hoại lúa nặng nề xảy
ra vào các năm Giáp Ngọ (1354), Mậu Tuất (1358), Quý Dậu (1393)...
Những trận động đẩt, lở núi xảy ra vào các năm Ất Mùi (1355), Nhâm
Dần (1362), Quý Dậu (1393)...
2.2. Địch họa
Chiêm Thành tiến hành liên tiếp những cuộc hành quân xâm lược
nước ta một phần nhằm thực hiện ý đồ chính trị, giành giật đất đai;
một phần nhằm cướp bóc tài sản, lùa trâu, bắt người đem đi, đốt phá
nhà cửa, phá hủy hoa màu của dân Việt... Những thảm cảnh ấy nhân
dân dưới các triều vua cuối đời Trần đã phải gánh chịu.
https://thuviensach.vn
Để có đủ binh lính, phu tải khí giới, lương thực cung cấp phục vụ
các cuộc chiến tranh với Ai Lao và Chiêm Thành, nhà Trần đã tận lực
huy động nhân lực, tài nguyên, sản vật trong dân, có khi lúc dân đói
nhà vua vẫn có lệnh thu gom, tích trữ thóc gạo để chuẩn bị chiến tranh
với Chiêm...
2.3. Thuế má nặng
Dưới các triều đại quân chủ ban đầu ở nước ta, vì công nghiệp và
thương mại chưa phát triển nên nguồn thu thuế để tăng cường công
quỹ chủ yếu chú trọng vào hai sắc thuế đinh và thuế điền, vì lúc ấy chỉ
có người và ruộng là hai nguồn tài nguyên cơ bản của đất nước.
Kinh qua các triều Lý, Trần, đến đời Trần Phế Đế, việc thu thuế
Nhà nước vẫn căn cứ theo số ruộng sở hữu của mỗi người, đánh lũy
tiến tăng dần theo diện tích ruộng chứ không chỉ cán cứ vào mỗi đầu
người để tính thuế đồng loạt như nhau. Đến năm 1378, vì kho tàng
trống rỗng, Đỗ Tử Bình đã đề nghị vua áp dụng cách đánh thuế dung
của nhà Đường, mỗi đinh nam mỗi năm phải nộp 3 quan tiền, không
phân biệt có ruộng đất hay không.
Sử cũ của nước ta (Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám
cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí, Việt sử tiêu án...) đều
nhận xét, theo đề nghị của Đỗ Tử Bình, vua Trần đã tăng thuế nặng
hơn. Mỗi đinh nam đều phải nộp thuế, trừ binh lính mới được miễn.
Việc táng thuế, nhất là gặp lúc dân chúng bị mất mùa, đói khổ, đã gây
nên nhiều mối ác cảm đối với triều đình...
2.4. Giặc giã, cướp bóc
Sử thần Phan Phu Tiên đã mô tả tình hình giặc giã lúc này qua Đại
Việt sử ký toàn thư: “Nhà Trần từ sau khi Dụ Tông hoang d...
ebook©vctvegroup
Scan & Pdf: @Nhantinh, @V/C
Ocr: @quandeptrai
Solo text: @Tuyết Nhung
Đóng gói: @Trúc Quỳnh Đặng
14/08/2019
https://thuviensach.vn
PHAN ĐĂNG THANH - TRƯƠNG THỊ HÒA
CẢI CÁCH
HỒ QUÝ LY
Tái bản có bổ sung
NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
https://thuviensach.vn
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Hồ Quý Ly là một người yêu nước, một vị đại thần, một hoàng đế,
một nhà cải cách của nước ta vào cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV.
Công cuộc cải cách của ông mang tính chất toàn diện, triệt để và táo
bạo, vượt hẳn mọi cuộc cải cách khác dưới thời quân chủ ở Việt Nam.
Trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh vào đầu thế kỷ XV, lòng
yêu nước nồng nàn và quyết tâm chống xâm lược của Hồ Quý Ly và
triều đình nhà Hồ đã kiên định dứt khoát ngay từ đầu. Thành nhà Hồ ở
tỉnh Thanh Hóa ngày nay do Hồ Quý Ly và dân, quân Trần – Hồ khẩn
trương xây dựng để phòng bị, chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước.
Sau hơn 6 thế kỷ tồn tại, đến nay thành cổ này đã trở thành di tích lịch
sử thế giới, được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên
Hiệp Quốc (United Nations Educational, Scientific and Cultural
Organization - UNESCO) chuẩn bị thủ tục công nhận.
Cải cách Hồ Quý Ly do hai tác giả Luật sư Phan Đăng Thanh (Thạc
sĩ Luật học, Tiến sĩ Sử học) và Luật sư Trương Thị Hòa (Thạc sĩ Luật
học, Thạc sĩ Sử học) biên soạn. Với mong muốn giúp độc giả hiểu rõ
về sự nghiệp cải cách của Hồ Quý Ly và giá trị lịch sử của Thành nhà
Hồ, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Chí Minh xuất bản quyển sách
Cải cách Hồ Quý Ly. Điều đặc biệt của quyển sách tái bản lần này là
tác giả có cập nhật thêm loạt bài Hành trình tìm mộ Hồ Quý Ly của tác
giả Giao Hưởng (đăng báo Thanh Niên từ ngày 10 đến 15- 8-2010).
Qua đó thấy rõ thêm mọi người dân Việt Nam đời sau đều ngưỡng mộ,
ghi nhớ công trạng vì nước quên mình của vua Hồ Quý Ly.
https://thuviensach.vn
Đây là tài liệu cũ xưa mà mới mẻ, thực sự bổ ích đối với những
người đang làm công việc nghiên cứu, sinh viên, học sinh và mọi tầng
lớp nhân dân yêu thích lịch sử nước nhà; để qua đây, mỗi người chúng
ta đều có thể chiêm nghiệm và hiểu thêm về sự nghiệp vẻ vang của các
bậc tiền nhân trong công cuộc giữ gìn đất nước, bảo vệ Tổ quốc và
không ngừng đổi mới, cải tiến cuộc sống của mình.
Trân trọng giới thiệu quyển sách Cải cách Hồ Quý Ly cùng bạn
đọc.
NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
https://thuviensach.vn
LỜI NÓI ĐẦU
Trong từng thời kỳ lịch sử Việt Nam, những nhà cải cách đã lần
lượt xuất hiện. Có người trực tiếp nắm giữ quyền điều khiển vận mệnh
đất nước nên đã có điều kiện thuận tiện để tiến hành công cuộc cải
cách của mình. Đó là trường hợp Tiết độ sứ Khúc Hạo (907 - 918),
vua Lê Thánh Tông (1460 -1497), Quang Trung Hoàng đế Nguyễn
Huệ (1788 - 1792)... Cũng có những nhà chính trị có tư tưởng cải cách
đem kiến nghị với nhà cầm quyền đương thời, cũng như bôn ba vận
động, truyền bá quan điểm, tư tưởng của mình trong quần chúng nhân
dân nhưng vẫn chưa thể tiến hành được công việc cải cách nào, bởi họ
không có quyền lực nhà nước trong tay. Đó là trường hợp của Chu
Văn An (1292 - 1370), Nguyễn Trường Tộ (1828 - 1871), Bùi Viện
(1844 - 1878), Phan Bội Châu (1867 - 1940), Phan Châu Trinh (1872 1926)... Mỗi đề nghị cải cách của họ đưa ra đều nhằm giải quyết
những ách tắc, mâu thuẫn trong xã hội để đối phó với những khủng
hoảng trầm trọng của xã hội.
Trường hợp Hồ Quý Ly thì khác.
Hồ Quý Ly là một nhà cải cách lớn cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV
ở nước ta. Lúc đầu, với vai trò của một đại thần nhà Trần, ông đã từng
bước đem tư tưởng của mình ra thực hiện, song vì chưa nắm được
quyền lực quốc gia trọn vẹn trong tay nên không có đủ điều kiện để
thực thi cải cách đến nơi đến chốn. Từ đó ông quyết tâm tổ chức, vận
động chính trị để làm cuộc đảo chính giành lấy chính quyền vào tay
mình và trực tiếp điều khiển công cuộc cải cách trên cương vị một nhà
vua, một thái thượng hoàng, người có quyền lực tối cao cả nước...
https://thuviensach.vn
Tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly thật toàn diện và táo bạo. Chỉ
trong khoảng thời gian tương đối ngắn ngủi - hơn 5 năm cuối triều
Trần và chưa đầy 7 năm dưới triều Hồ - những việc làm thực tế của
Quý Ly cho thấy ông đã vạch ra và quyết tâm thực hiện cải cách khắp
mọi lĩnh vực: chính trị, hành chính, quốc phòng, kinh tế, tài chính, tư
tưởng, văn hóa, giáo dục, xã hội... Thuở ấy, tư tưởng nào của ông cũng
mới mẻ, hành động nào của ông cũng trọng đại. Song cuối cùng, công
cuộc cải cách đã thất bại thảm hại: dòng họ bị mất ngôi, dân tộc bị mất
nước!
Nhằm rút tỉa những bài học quá khứ, ôn cố tri tân, chúng tôi mạo
muội cho ra mắt quyển sách này. Vẫn biết từ trước đến nay, Hồ Quý
Ly cũng như Trần Thủ Độ (1194 - 1264), Mạc Đăng Dung (1483 1541)... đã từng được nhiều thế hệ đời sau phân tích công, tội; xác
định cho những giá trị khác nhau. Ở đây, chúng tôi cố gắng sưu tầm và
tập hợp những sử liệu tương đối trung thực, đầy đủ về nhiều mặt, để
làm sáng tỏ thêm nhân vật Hồ Quý Ly và nhà Hồ.
Đánh giá đúng đắn một sự kiện lịch sử, một giai đoạn lịch sử là việc
làm không hề dễ dàng. Đánh giá khách quan một nhân vật lịch sử lại
là việc làm càng khó khăn, phức tạp. Ước mong của chúng tôi là được
bạn đọc xa gần nhận xét, phê bình và chỉ bảo cho những thiếu sót để
tác giả được hiểu biết tường tận, chín chắn thêm, hầu bổ cứu cho nội
dung quyển sách được tươm tất hơn trong những lần tái bản.
13-2-1995
PHAN ĐĂNG THANH
TRƯƠNG THỊ HÒA
https://thuviensach.vn
CHƯƠNG I
HỒ QUÝ LY: ÔNG LÀ AI?
Sự xuất hiện nhân vật Hồ Quý Ly và triều Hồ vào những năm cuối
thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV là một hiện tượng lịch sử đặc biệt. Thời
gian thực hiện quyền lực của Hồ Quý Ly và giai đoạn trị vì của nhà
Hồ tuy ngắn ngủi song đã được nhiều người phân tích và đánh giá cao,
coi ông là một nhà cải cách lớn với những chủ trương toàn diện, táo
bạo và triệt để. Bên cạnh đó, nhất là trước đây, cũng đã có một luồng
quan điểm ngược lại. Trước hết người ta cho rằng họ Hồ đã dùng mọi
thủ đoạn, âm mưu để thoán đoạt ngôi vua của nhà Trần và trong suốt
thời gian thực hiện quyền lực có được của mình, Hồ Quý Ly đã tỏ ra là
một nhà chính trị đầy thủ đoạn, một nguyên thủ quốc gia độc tài với
quá nhiều tham vọng... Đó cũng là nguyên nhân dẫn vương triều Hồ
đến sụp đổ hoàn toàn, đưa đất nước vào vòng nô lệ phương Bắc suốt
20 năm sau đó. Chính Hồ Quý Ly là người đã nỗ lực với biết bao công
sức để xây dựng một quốc gia hùng cường nhưng cuối cùng chính ông
là người phải chịu hậu quả mất ngôi, mất nước!
Dù thế nào đi nữa, thực tế cũng đã khẳng định Hồ Quý Ly là một
nhân vật lịch sử lớn của nước nhà. Hồ Quý Ly và nhà Hồ đã thực sự
trở thành cột mốc nổi bật trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc
với những cải cách trọng đại đã được đề ra và thực hiện quyết liệt
trong suốt thời đại của ông. Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam,
trước và sau Hồ Quý Ly cũng có một vài nhà cải cách nhưng không
nhà cải cách nào có đường lối toàn diện và triệt để bằng Hồ Quý Ly và
https://thuviensach.vn
cũng không có cuộc cải cách nào cuối cùng đi đến kết quả thất bại một
cách xót xa, thảm hại bằng cải cách Hồ Quý Ly...
https://thuviensach.vn
MỤC 1
KHỦNG HOẢNG TOÀN DIỆN CUỐI
NHÀ TRẦN
Cai trị nước ta suốt 174 năm, từ năm 1226 đến 1400, vương triều
Trần trải qua 12 đời vua. Giai đoạn trị vì của 6 vua đầu nhà Trần(*) kéo
dài 115 năm là thời kỳ lịch sử lớn, đánh bại 3 lần giặc xâm lược
Nguyên Mông, góp phần xây dựng nền văn minh rực rỡ của dân tộc:
văn minh Đại Việt. Tuy nhiên, đến đời vua Dụ Tông (1341 - 1369),
nhà Trần đã bắt đầu suy vi, kế tục thêm 5 vua nữa(*) trong vòng 30
năm thì ngôi nhà Trần thực sự chấm dứt. Hai vua Hậu Trần: Giản
Định Đế (1407 - 1409) và Trùng Quang Đế (1409 - 1413) chỉ là sự nối
tiếp nhà Trần, với các vua của thời kỳ đất nước đã rơi vào tay giặc
Minh xâm lược.
I. MẦM MỐNG SUY SỤP
Thực ra, ngay từ thời vua Trần Minh Tông, vương triều Trần đã
bước đến giai đoạn quá độ hưng thịnh đến suy vi. Triều đại vua Minh
Tông tuy vẫn còn giữ được truyền thống vẻ vang của nhà nước Đông
A trong việc đối nội, đối ngoại nhưng nó cũng đã bộc lộ hiện tượng
suy yếu, trong triều đã chia rẽ phe nhóm tranh chấp quyền lực, triệt hạ
nhau, trật tự xã hội bắt đầu rối ren, nhân tâm có phần xao xuyến... Đại
Việt sử ký toàn thư chép: “Vua đem văn minh sửa sang đạo trị nước,
làm rạng rỡ công nghiệp của người xưa, giữ lòng trung hậu, lo nghĩ
sâu xa, trong yên ngoài phục, kỷ cương đủ bày. Tiếc rằng không nhận
https://thuviensach.vn
biết mưu gian của Khắc Chung, để đễn nỗi Quốc Chẩn phải chết, đó là
chỗ kém thông minh vậy”(*).
Nguyên năm Mậu Thìn (1328), vua Minh Tông trị vì ở ngôi đã 15
năm mà vẫn chưa lập được Thái tử. Cha của Hoàng hậu Lệ Thánh là
Quốc phụ Thượng tể Trần Quốc Chẩn (chú ruột của vua Minh Tông)
vẫn muốn đợi Hoàng hậu có con rồi sẽ lập Thái tử. Trong khi đó, trong
triều có một phe khác gồm Thiếu bảo Trần Khắc Chung cùng Cương
Đông Văn hiến hầu là con (có sách chép là em) của Thái sư Trần Nhật
Duật, lại muốn đưa ngay Trần Vượng là con của một bà phi họ Lê lên
làm Thái tử. Quyết tâm triệt hạ Quốc Chẩn, Văn hiến hầu sai người
đem 100 lạng vàng đến đút lót cho gia thần của Quốc Chẩn là Trần
Phẩu, bảo Phẩu vu cáo Quốc Chẩn âm mưu làm phản. Sự việc diễn ra
đúng như âm mưu của Văn hiến hầu, vua tin là thực, hạ lệnh bắt giam
Quốc Chẩn, cấm tuyệt không cho ăn uống, bắt phải tự tử. Hoàng hậu
Lệ Thánh phải lấy áo tẩm nước lén vào nơi giam cho cha uống, uống
xong thì Quốc Chẩn chết. Sau đó, vua ra lệnh bắt hơn 100 người nghi
có liên can với Quốc Chẩn... Nhưng vài năm sau, vụ án này được
minh oan. Vì vợ cả, vợ lẽ của Trần Phẩu ghen nhau nên đem chuyện
Văn hiến hầu âm mưu cùng Trần Phẩu vu cáo Quốc Chẩn nói ra cho
mọi người biết. Trần Phẩu bị xử lăng trì nhưng chưa kịp hành hình thì
gia nô của con của Quốc Chẩn đã giết và ăn hết thịt Phẩu! Văn hiến
hầu thì bị giáng làm dân thường, bị xóa tên trong sổ hoàng tộc...
Dù sự kiện diễn ra như vậy, song ngay sau khi Quốc Chẩn chết thì
Trần Vượng cũng đã được phong làm Đông cung Thái tử, tiếp đến
được phong Hoàng Thái tử rồi 7 ngày sau, Thái tử Trần Vượng được
vua Minh Tông truyền ngôi cho, tức vua Trần Hiến Tông. Lúc đó vua
Hiến Tông mới 10 tuổi, quyền chính vẫn nằm trong tay Thượng hoàng
Minh Tông.
Vua Hiến Tông “tư trời tinh anh, sáng suốt” nhưng ở ngôi không
được lâu, đến năm 22 tuổi thì vua mất (năm Tân Tỵ - 1341). Thực ra
triều Hiến Tông cũng là triều của Minh Tông, tuy không được hưng
https://thuviensach.vn
thịnh như trước, lúc này nhà Trần đã bộc lộ hướng suy sụp ở nhiều
mặt, nhưng quân đội Đại Việt vẫn còn đủ sức chinh Nam chinh Tây,
ngán ngừa được ngoại xâm, tình hình đối nội, đối ngoại vẫn tương đối
ổn định...
Từ khi vua Hiến Tông mất, nguy cơ đổ nát của nhà Trần đã đến.
II. CUỘC KHỦNG HOẢNG TOÀN DIỆN
A. ĐỐI NỘI
Tháng 6 năm Tân Tỵ (1341), vua Trần Hiến Tông mất. Vì vua Hiến
Tông không có con nên Thượng hoàng Minh Tông lập người con thứ
10 của mình là Hoàng tử Trần Hạo (con của vua Minh Tông và bà
Hiến Từ Hoàng hậu) lên nối ngôi, tức vua Trần Dụ Tông (1341 1369).
Từ đời vua Dụ Tông, nhà Trần đã bộc lộ suy sụp nhiều mặt, bắt đầu
trượt nhanh xuống dốc.
1. Sự suy thoái của tầng lớp cầm quyền
Cuối nhà Trần, hầu hết các vua đều không xứng đáng. Một số bất tài
lại thiếu đạo đức. Một số chỉ có hư vị vì nhu nhược hoặc vì còn nhỏ
tuổi... Chỉ trong vòng hơn 50 năm, nhà Trần đã thay vua đến 7 lần.
Triều đình chia bè kéo cánh, tranh giành quyền lợi, giết hại lẫn nhau.
Những kẻ bất tài dua nịnh thì được thăng quan tiến chức, còn người
trung liệt thì treo ấn từ quan...
1.1. Những ông vua bất xứng
a) Vua Dụ Tông trụy lạc, sa đọa: Dụ Tông lên ngôi vào tháng 8
năm Tân Tỵ (1341), lúc ấy vua mới 6 tuổi. Lúc đầu vì còn Thượng
hoàng Minh Tông thay Dụ Tông trị nước nên nói chung tình hình
trong nước chưa xảy ra điều gì quá tồi tệ. Đến tháng 2 năm Đinh Dậu
(1357), Thượng hoàng Minh Tông qua đời. Năm ấy vua Dụ Tông
https://thuviensach.vn
cũng đã trưởng thành, không còn ai kiềm chế, can gián, cũng từ lúc ấy,
nhà vua bắt đầu “tự do” chìm đắm trong hoan lạc.
Bản tính vua Dụ Tông là người thích đánh bài, ham mê uống rượu,
háo sắc... Vua tha hồ rượu chè, trụy lạc, xây cung điện, đào hổ chơi,
đắp núi giả, biến cung đình thành sòng bạc, quán rượu, yến tiệc linh
đình suốt ngày đêm...
Thuở nhỏ, lúc lên 4 tuổi, có lần vua đi chơi thuyền ban đêm ở hồ
Tây bị ngã xuống nước. Vua được vớt lên và nhờ có lương y Trâu
Canh dùng phương pháp chữa trị bằng kim châm nên thoát chết nhưng
lớn lên vua mang chứng bệnh liệt dương. Năm Tân Mão (1351), vua
được 16 tuổi, Trâu Canh có dâng phương thuốc trị bệnh bằng cách giết
một đứa bé trai, lấy mật hòa với dương khởi thạch mà uống và thông
dâm với chị hay em ruột của mình thì sẽ hiệu nghiệm. Vua làm theo,
thông dâm với chị ruột là Công chúa Thiên Ninh, quả nhiên công
hiệu(*).
Suốt ngày vua tổ chức rượu chè, ca hát, chơi bời... Sử chép: “Mùa
hạ, tháng 4, gọi Chánh chưởng phụng ngự cung Vĩnh An là Bùi Khoan
cùng uống rượu. Khoan lập mẹo vờ uống hết 100 thăng rượu, được
thưởng tước 2 tư. Tháng 5, vua đi hóng gió chơi trăng. Vì uống rượu
quá say, lại lội xuống sông tắm, nên bị ốm”(*). “Rồi năm sau, tháng 6,
vua ngự thuyền nhỏ đến chơi nhà Thiếu úy Trần Ngô Lang ở hương
Mễ Sở (huyện Châu Giang, tỉnh Hải Hưng), đến canh ba mới về. Khi
tới sông Chử Gia (huyện Châu Giang, Hải Hưng), bị cướp mất ấn báu,
gươm báu. Vua tự biết mình không sống lâu, càng thả sức chơi bời”(*).
Tháng giêng năm Nhâm Dần (1362), vua ra lệnh cho các vương
hầu, công chúa dâng các trò tạp hý, vua đích thân xét duyệt, thấy trò
nào hay thì ban thưởng. Bên cạnh việc ham chơi đàn hát, vua cũng
đam mê bài bạc, tổ chức đánh bạc ngay trong cung. “Lại cho gọi các
nhà giàu trong nước, như ở làng Đình Bảng thuộc Bắc Giang, làng
Nga Đình thuộc Quốc Oai, vào cung đánh bạc làm vui. Có tiếng bạc
đặt tới 300 quan tiền, ba tiếng thì đã gần ngàn quan rồi”(*).
https://thuviensach.vn
Để phục vụ cho những cuộc vui chơi của mình, vua Dụ Tông sai
đào hồ ở vườn ngự, chất đá làm núi, bốn mặt khai ngòi cho nước
thông vào. Sau đó còn đào một hồ nhỏ khác bắt dân Hải Đông chở
nước mặn về chứa vào hồ để nuôi hải sản (đồi mồi, cua, cá, cá sấu...).
Nhận xét về vua Dụ Tông, Việt sử thông giám cương mục chép:
“Nghiện rượu, mê đàn hát, xa xỉ làm cung điện nguy nga và tường
vách chạm trổ, lãng phí tiền của, hoang dâm chơi bời, món gì Dụ
Tông cũng mắc! Cơ nghiệp nhà Trần sao khỏi suy được?”(*)
b) Ngai vàng nhà Trần lọt vào tay một ông vua họ Dương hoang
dâm vô độ: Năm Kỷ Dậu (1379), Dụ Tông qua đời, không có con.
Ngày sắp mất, vua xuống chiếu đón người con nuôi của Cung Túc Đại
vương Dục (anh ruột của vua Dụ Tông, đã chết) là Dương Nhật Lễ
vào truyền cho nối ngôi. Việc này được bà Hiến Từ Hoàng Thái hậu
tích cực đồng tình, bảo: “Dục là con đích trưởng mà không được ngôi
vua, lại sớm lìa đời. Nhật Lễ chẳng phải là con của Dục ư?”(*). Như
vậy, thực sự đã bỏ tôn thất nhà Trần mà lập vua họ khác!(*)
Nhật Lễ lên ngôi (từ tháng 6 năm Kỷ Dậu - 1369) cũng là một ông
vua đam mê tửu sắc, tổ chức yến ẩm linh đình suốt ngày đêm. Sử
chép: “Nhật Lễ tiếm vị, rượu chè dâm dật, hàng ngày chỉ rong chơi,
thích các trò hát xướng, muốn đổi lại là họ Dương. Người tôn thất và
các quan đều thất vọng”(*). Thấy Hiến Từ Hoàng Thái hậu tỏ ý tiếc
việc đưa mình lên ngôi, Dương Nhật Lễ đã giết bà ở trong cung.
Bây giờ Cung Định vương Phủ (con của Thượng hoàng Minh Tông
và Minh Từ Hoàng thái phi) thấy tình hình như vậy nên lo sợ. Trần
Phủ vốn là người nhu nhược lại không có ý tranh giành ngôi vua nên
bỏ trốn lên mạn Đà Giang. Mười hôm sau, triều thần họp nhau lại dẫn
quân về kinh, phế Nhật Lễ, tôn Cung Định vương Phủ lên ngôi.
Vụ chính biến Dương Nhật Lễ kéo dài 17 tháng, ngôi nhà Trần một
phen suýt mất về tay họ Dương. Qua đó cũng cho thấy triều Trần đã
bắt đầu thối nát trầm trọng. Vua Dụ Tông là một vị vua bất xứng, vô
https://thuviensach.vn
đạo làm cho triều chính ngửa nghiêng, lòng người ly tán. Anh vua là
Cung Túc Đại vương Dục mê đào hát, cướp vợ dân...
c) Vua Nghệ Tông nhu nhược, yếu hèn: Ngày 15 tháng 11 năm Canh
Tuất (1370), Cung Định vương Phủ - lúc ấy đã 40 tuổi, lên ngôi
Hoàng đế, tức Trần Nghệ Tông (1370 - 1372). Tuy Nghệ Tông làm
vua chỉ có 2 năm nhưng ở trên cương vị Thái thượng hoàng suốt cả 3
đời vua sau, trải qua 22 năm (Nghệ Tông mất vào tháng Chạp năm
Giáp Tuất - 1394). Trên nguyên tắc, tất cả quyền bính lúc ấy vẫn thuộc
về Nghệ Tông nhưng thực tế suốt cuộc đời nắm quyền nguyên thủ
quốc gia, bên cạnh Trần Nghệ Tông còn có sự hiện diện của nhân vật
Lê Quý Ly. Quý Ly là người được vua Nghệ Tông hết lòng tin dùng,
Nghệ Tông hay nghe theo lời Quý Ly nên chính Quý Ly mới thật là
người có vai trò quyết đoán mọi việc chính sự của triều Trần kể từ
đây...
Bản chất Nghệ Tông là người nhu nhược, không dám quyết đoán
việc gì. Ngay từ lúc Nhật Lễ chiếm ngôi, dù thấy họa sắp lây đến với
mình, ông vẫn dùng dằng, lưỡng lự, đến khi có nhiều người khuyên
nhủ, thúc giục tới nơi, ông mới chịu lánh thân về mạn Đà Giang... Sau
đó, triều thần tôn thất cùng nhau khuyên ông về kinh trừ loạn, lúc đầu
ông cũng nghẹn ngào từ chối, mọi người hai, ba lần mời lên kiệu, sau
cùng ông mới chịu nghe theo... Thấy thế lực phù trợ của ông mạnh,
Nhật Lễ mới nghe theo lời Thiếu úy Trần Ngô Lang (đã dự mưu trước
cùng với phía Nghệ Tông) viết thư tạ tội và ra tận ngoài thành phủ
phục đón đón vua(*). Trước sự tình ấy, Nghệ Tông cảm động ôm lấy
Nhật Lễ khóc lóc kể rằng: “Không ngờ sự thể ngày nay đến thế này!”.
Cung Tuyên vương Trần Kính thấy vậy bực mình, giơ kiếm quát:
“Nay vâng mệnh trời đánh kẻ có tội. Tên tội nhân kia sao còn được
nói lôi thôi! Bệ hạ há nên vì lòng nhân từ bịn rịn mà bỏ mất nghĩa lớn
sao!” Nói xong, Cung Tuyên vương cho lôi Nhật Lễ ra, giam vào một
nơi. Sau đó cha con Nhật Lễ bị đánh chết(*).
https://thuviensach.vn
Sự yếu đuối của Nghệ Tông còn thể hiện nhiều lần khi bị giặc
Chiêm Thành tấn công, ông lo sợ cho mang tài sản, tiền bạc vào núi
cất giấu, hễ lần nào giặc kéo quân tới uy hiếp thì bỏ kinh thành mà
chạy. Tháng 6 năm Quý Hợi (1383), Chiêm Thành vào chiếm đóng
Quảng Oai. Kinh đô xao xuyến, kinh hãi. Nghệ hoàng sai Nguyễn Đa
Phương đem quân dựng rào lũy tre bằng gỗ ở kinh thành, ngày đêm
canh giữ, còn mình thì sửa soạn xa giá để chạy sang lánh giặc ở Đông
Ngàn. Nguyễn Mộng Hoa là một kẻ sĩ thấy vậy liền chạy đến bên
sông, mặc cả mũ áo chỉnh tể, nhảy xuống nước lôi kéo thuyền ngự, xin
Thượng hoàng ở lại đánh giặc nhưng Thượng hoàng cũng không
nghe... Việc này sử thần Ngô Sĩ Liên đã có nhận xét: “Nghệ Tông
thiếu can đảm. Giặc chưa tới đã lánh trước, thì người trong nước như
thế nào? Mộng Hoa là một người học trò, còn biết giữ Nghệ Tông lại,
những “kẻ ăn thịt” thực đáng khinh thay!(*)
d) Vua Duệ Tông chủ quan, tự phụ: Trong số các vua Trần mạt, có
lẽ chỉ Trần Duệ Tông là ông vua có tài cầm binh, cứng cỏi nhưng lại
quá chủ quan và tự kiêu, tự phụ. Bản tính ấy đã dẫn ông đến thất bại
mà thất bại đau xót nhất là sự kết liễu cuộc đời ông tại chiến trường
trên đất nước Chiêm Thành.
Trần Nghệ Tông làm vua được 2 năm, đến tháng 11 năm Nhâm Tý
(1372) thì nhường ngôi cho người em cùng cha khác mẹ của mình
(cũng là anh em bạn dì ruột) là Cung Tuyên vương Trần Kính, tức vua
Trần Duệ Tông. Trần Kính là người đã có nhiều công bảo vệ Nghệ
Tông trong lúc lánh nạn và hai năm trước đã phò đưa Nghệ Tông lên
ngôi vua. Sử cũ nhận xét Trần Duệ Tông như sau: “Vua ương gàn, có
chấp, không nghe lời can, khinh thường quân giặc nên mang họa vào
thân chứ không phải là do bất hạnh”(*).
Trong công cuộc chinh phạt Chiêm Thành năm Đinh Tỵ (1377), vua
Duệ Tông cầm binh tiến sâu vào đất Chiêm Thành, tới tận kinh thành
Đồ Bàn (thành Đồ Bàn ngày nay còn di tích ở huyện Tuy Viễn, tỉnh
Bình Định). Đại tướng Đỗ Lễ can vua: “Nó đã chịu hàng, là muốn bảo
https://thuviensach.vn
toàn đất nước làm đầu. Quan quân vào sâu đánh phá thành giặc là việc
bất đắc dĩ. Xin hãy sai một biện sĩ cầm mảnh thư đến hỏi tội, để xem
tình hình hư thực của giặc, như kế sách của Hàn Tín phá nước Yên
ngày trước, không phải khó nhọc mà thành công. Cổ nhân có nói:
“Lòng giặc khó lường”. Thần xin Bệ hạ hãy xét kỹ lại”(*).
Vua trách Đỗ Lễ nhút nhát, chê Đỗ Lễ “chính là hạng đàn bà” rồi
sai lấy áo đàn bà mặc cho Lễ và nói rằng: “Ta mình mặc giáp cứng,
tay mang gươm sắc, dãi gió dầm mưa, lội sông trèo núi, vào sâu trong
đất giặc, không ai dám đương đầu với ta”(*). Trước đó, Ngự sử đại phu
Trương Đỗ cũng có ý can vua, 3 lần dâng sớ xin vua không nên đích
thân cẩm quân đánh sâu vào đất Chiêm nhưng vua cũng không nghe
nên ông treo mũ bỏ đi. Bà từ phi Nguyễn Thị Bích Châu là hậu phi
được vua yêu quý nhất, cũng dâng sớ khuyên vua nên dùng đức hóa,
không nên dùng vũ lực với Chiêm Thành nhưng vua không trả lời và
quyết định bình Chiêm.
Lọt vào vòng vây của Chế Bồng Nga, Trần Duệ Tông bỏ mạng nơi
chiến trường, một mặt nào đó nêu được lòng dũng cảm, vì nước quên
thân của nhà vua nhưng sự thất bại ấy rõ ràng đã xảy ra từ sự quá chủ
quan, khinh địch mà lẽ ra không đáng có.
đ) Các ông vua trẻ tuổi, bù nhìn: Đế Hiện, Thuận Tông và Thiếu
Đế: tháng 5 năm Đinh Tỵ (1377), thấy vua Duệ Tông hy sinh vì nước,
Thượng hoàng Nghệ Tông lập con trưởng của Duệ Tông là Hiện lên
làm vua, tức Đế Hiện (Trần Phế Đế). Năm ấy vua mới 16 tuổi. Sử cũ
nhận xét Đế Hiện rằng: “Vua u mê, nhu nhược, không làm nổi việc gì,
uy quyền ngày càng về tay kẻ dưới (chỉ Lê Quý Ly), xã tắc lung lay,
đến thân mình cũng không giữ được”(*).
Tháng Chạp năm Mậu Thìn (tháng 1-1389), nghe theo lời Quý Ly,
Nghệ hoàng bắt giam và giáng Đế Hiện xuống làm Linh Đức Đại
vương. Các tướng chỉ huy các đội quân định đem binh vào phá nhà tù
cứu vua, nhưng lúc ấy vua Đế Hiện lại viết hai chữ “Giải giáp” đưa
https://thuviensach.vn
cho các tướng và bảo họ không được trái ý Thượng hoàng. Lát sau, Đế
Hiện bị dìu xuống phủ Thái Dương thắt cổ cho chết.
Lúc Đế Hiện được đưa lên ngôi thì người con út của Thượng hoàng
Nghệ Tông là Trần Ngung vừa sinh ra. Đến khi Đế Hiện bị phế thì
người con này được lập lên ngôi, tức vua Trần Thuận Tông, lúc đó vua
mới 11 tuổi.
Đầu năm 1389, Thuận Tông vừa lên ngôi thì được Quý Ly gả ngay
cho người con gái lớn của mình là Thánh Ngâu để làm Hoàng hậu. Từ
ấy, nhất là sau khi Thượng hoàng Nghệ Tông qua đời (1394) đến suốt
quãng đời làm vua của mình, Thuận Tông thực sự chỉ là một ông vua
bù nhìn, dưới quyền người cha vợ đang là Phụ chính Thái sư Lê Quý
Ly.
Vai trò của Trần Thuận Tông cũng như con ông sau này - Trần
Thiếu Đế, lên ngôi năm 1398, lúc mới 3 tuổi, “nhận truyền ngôi mà
không biết lạy”, mọi việc chính sự đều nằm trong tay ông ngoại là
Quốc tổ Chương hoàng Lê Quý Ly... Nhưng số phận của vua cha Thuận Tông có phần bi đát hơn vua con, bởi vua cha sau khi mất ngôi
đã bị bức tử bằng cách thắt cổ cho chết, còn con ông - Thiếu Đế thì vì
là cháu ngoại của Quý Ly nên không bị giết.
1.2. Triều đình suy thoái, phân hóa nghiêm trọng
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy đức hạnh của nhà vua như thế nào thì
đức hạnh của những nhân vật cận thần của vua cũng tương ứng như
vậy. Bởi, triều đình là bộ máy trước hết để thực hiện những ý đồ của
vua, thỏa mãn những thị hiếu của vua, đúng như lời Thượng hoàng
Minh Tông từng nói: “Nếu ta quả là hiền thì những người được ta
dùng cũng hiền, như Nghiêu, Thuấn đối với Tắc, Khiết, Quỳ Long
vậy. Nếu ta không hiền thì những kẻ mà ta dùng cũng không hiền, như
Kiệt, Trụ đối với Phi Liêm, Ác Lai vậy. Đó chính là đồng thanh tương
ứng, đồng khí tương cầu, cùng loại thì hợp nhau”(*).
https://thuviensach.vn
a) Dưới quyền Dụ Tông, trong triều có một đám cận thần phục vụ
những chuỗi ngày trác táng của vua; dưới quyền đám cận thần này tất
còn có những tay chân khác nữa. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Dụ
Tông ham chơi bời, lười chính sự, quyền thần nhiều kẻ làm trái phép
nước”(*). Trâu Canh bày vẽ cho vua những trò dâm dật, Canh lại dâm
dật với cung phi của vua cũng không phải tội. Bùi Khoan nhờ có tài
uống rượu hầu vua mà được thưởng tước 2 tư...
Bọn quyền thần đã lợi dụng sự tối tăm, sa đọa của vua để thi nhau
rượu chè be bét, làm mưa làm gió trong triều và ức hiếp dân chúng
ngoài xã hội. Các quan chức đổ xô chiếm hết nguồn sống của dân, gây
nên một tình thế xã hội vô cùng quẫn bách...
Trong hoàn cảnh bi đát đó, quan Tư nghiệp Quốc tử giám Chu Văn
An đã dâng lên vua Dụ Tông Thất trảm sớ để nghị chém 7 tên gian
thần để chấn chỉnh chính sự. Nhưng vua không nghe nên ông treo mũ
từ quan, về sống ẩn dật ở núi Chí Linh...
b) Từ đó, triều đình nhà Trần ngày càng có nhiều biểu hiện suy
thoái, trong triều có nhiều biến loạn. Các phe cánh mưu hại, đánh giết
lẫn nhau để giành lấy quyền lực, đặc biệt là sau vụ biến loạn Dương
Nhật Lễ... Trong lúc đó, có một bà phi đã dâng lên vua Trần Duệ Tông
tờ sớ để xin chấn chỉnh triều đình. Bài Kế minh thập sách của bà từ
phi Bích Châu cho thấy sự suy vi của triều đình cần được chấn chỉnh
ngay, chủ yếu cũng bởi do nhân sự quan lại đương thời quá thối nát,
bất tài, thất đức mà ra. Bài Kế minh thập sách có đoạn viết:
“Kính dâng mười chước, mong được một điều.
Một là bền gốc nước, kẻ bạo trừ, thì dân chúng được yên;
Hai là giữ nếp xưa, việc phiền bỏ, thì triều cương không rối;
Ba là nén kẻ lạm quyền để trừ mọt nước;
Bốn là đuổi bọn nhũng lại để bớt chài dân;
Năm là xin mở lối nho phong để ngòi lửa đóm được rạng soi
cùng nhật nguyệt;
https://thuviensach.vn
Sáu là xin tìm lời trực gián, để đường ngôn luận được mở rộng
như cửa thành;
Bảy là kén quân nên lấy hạng kiện hùng hơn là to vóc dạc;
Tám là chọn tướng nên tìm người thao lược hơn là bậc thế gia;
Chín là khí giới cốt sao cho tinh nhuệ, hà tất hoa hòe;
Mười là trận pháp tập cần phải chỉnh tề, không cần múa nhảy.”(*)
Bài Kế minh vang lên như một bản cáo trạng hùng hồn nhắm vào
tình thế suy bại lúc bấy giờ. Nhưng rồi vua ban khen mà không thấy
thực hiện.
c) Dưới quyền của Thượng hoàng Nghệ Tông và các vua trẻ tuổi
hữu danh vô thực, triều đình lại càng chia bè, kết cánh một cách
nghiêm trọng hơn. Đặc biệt việc phân hóa triều đình vào những năm
cuối nhà Trần đã không còn là sự tranh chấp phe cánh có tính cách
riêng tư do quyền lợi vật chất, danh vọng hay do tình cảm cá nhân nữa
mà đã bộc lộ sự mâu thuẫn gay gắt, đấu tranh quyết liệt giữa các
khuynh hướng chính trị khác nhau: giữa tầng lớp vương hầu quý tộc
nhà Trần với tầng lớp quan liêu nho sĩ về quyền lực, giành lấy chỗ
đứng cao hơn trong bộ máy chính quyền; giữa khuynh hướng bảo thủ
hết lòng bảo vệ sự tồn tại của vương triều Trần với khuynh hướng cấp
tiến muốn cải cách có thể tiến tới lật đổ ngai vàng của nhà vua... Cuộc
đấu tranh quyết liệt ấy được thể hiện công khai qua các vụ triệt hạ,
thanh toán thẳng tay với nhau bằng bạo lực, có khi âm ỉ ngấm ngầm
trong dư luận xã hội như nội dung thư của Bùi Mộng Hoa dâng lên
Thượng hoàng Nghệ Tông đại ý nói: “Thần nghe trẻ con có câu hát
rằng: “Thâm hiểm thay Thái sư họ Lê”, xem thế, Quý Ly nhất định có
ý dòm ngó ngôi báu”(*).
2. Nhân dân thống khổ vì bị thiên tai, địch họa, thuế má
nặng; giặc giã nổi lên khắp nơi; xã hội phân hóa trầm trọng
https://thuviensach.vn
Trong lúc từ vua đến triều đình ngày càng tỏ ra suy thoái, bệ rạc thì
đời sống dân chúng ngày càng thêm khó khăn, thắc ngặt, đói khổ...
2.1. Thiên tai
Trong thế kỷ XIV, nhất là từ năm đời vua Dụ Tông trở về sau, lũ lụt,
vỡ đê, hạn hán liên tiếp xảy ra.
Dưới đời các vua Trần mạt, có hơn 11 lần bão lụt, mưa to gió lớn,
nước dâng cao làm vỡ đê. Cụ thể như các trận lũ lụt vào các năm Mậu
Tý (1348), Tân Mão (1351), Nhâm Thìn (1352), Ất Mùi (1355), Kỷ
Hợi (1359), Canh Tý (1360), Kỷ Dậu (1369), Mậu Ngọ (1378), Nhâm
Tuất (1382), Canh Ngọ (1390), Quý Dậu (1393)... Mỗi trận nước lớn
tràn ngập làm vỡ đê, lúa thóc bị chìm ngập, nước cuốn trôi cả nhà cửa
của dân.
Cùng với những trận lũ lụt cũng xảy ra liên tiếp những vụ hạn hán,
sâu rầy phá hoại mùa màng, tôm cá bị chết nhiều... Những trận hạn lớn
xảy ra vào các năm Quý Mùi (1343), Giáp Thân (1344), Ất Dậu
(1345), Mậu Tý (1348), Ất Mùi (1355), Mậu Tuất (1358), Nhâm Dần
(1362), Giáp Dẩn (1374), Kỷ Mùi (1379), Quý Dậu (1393)... Có
những năm vừa mưa to, nước lớn vừa có hạn hán xảy ra (vào các năm
1348,1355). Nặng nề nhất là vào năm Quý Dậu (1393): tháng 6 hạn
hán; tháng 7 gió dữ, mưa lớn; tháng 8 động đất, nước to; tháng 9 sâu
rầy phá hoại mùa màng... Những trận sâu rầy phá hoại lúa nặng nề xảy
ra vào các năm Giáp Ngọ (1354), Mậu Tuất (1358), Quý Dậu (1393)...
Những trận động đẩt, lở núi xảy ra vào các năm Ất Mùi (1355), Nhâm
Dần (1362), Quý Dậu (1393)...
2.2. Địch họa
Chiêm Thành tiến hành liên tiếp những cuộc hành quân xâm lược
nước ta một phần nhằm thực hiện ý đồ chính trị, giành giật đất đai;
một phần nhằm cướp bóc tài sản, lùa trâu, bắt người đem đi, đốt phá
nhà cửa, phá hủy hoa màu của dân Việt... Những thảm cảnh ấy nhân
dân dưới các triều vua cuối đời Trần đã phải gánh chịu.
https://thuviensach.vn
Để có đủ binh lính, phu tải khí giới, lương thực cung cấp phục vụ
các cuộc chiến tranh với Ai Lao và Chiêm Thành, nhà Trần đã tận lực
huy động nhân lực, tài nguyên, sản vật trong dân, có khi lúc dân đói
nhà vua vẫn có lệnh thu gom, tích trữ thóc gạo để chuẩn bị chiến tranh
với Chiêm...
2.3. Thuế má nặng
Dưới các triều đại quân chủ ban đầu ở nước ta, vì công nghiệp và
thương mại chưa phát triển nên nguồn thu thuế để tăng cường công
quỹ chủ yếu chú trọng vào hai sắc thuế đinh và thuế điền, vì lúc ấy chỉ
có người và ruộng là hai nguồn tài nguyên cơ bản của đất nước.
Kinh qua các triều Lý, Trần, đến đời Trần Phế Đế, việc thu thuế
Nhà nước vẫn căn cứ theo số ruộng sở hữu của mỗi người, đánh lũy
tiến tăng dần theo diện tích ruộng chứ không chỉ cán cứ vào mỗi đầu
người để tính thuế đồng loạt như nhau. Đến năm 1378, vì kho tàng
trống rỗng, Đỗ Tử Bình đã đề nghị vua áp dụng cách đánh thuế dung
của nhà Đường, mỗi đinh nam mỗi năm phải nộp 3 quan tiền, không
phân biệt có ruộng đất hay không.
Sử cũ của nước ta (Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám
cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí, Việt sử tiêu án...) đều
nhận xét, theo đề nghị của Đỗ Tử Bình, vua Trần đã tăng thuế nặng
hơn. Mỗi đinh nam đều phải nộp thuế, trừ binh lính mới được miễn.
Việc táng thuế, nhất là gặp lúc dân chúng bị mất mùa, đói khổ, đã gây
nên nhiều mối ác cảm đối với triều đình...
2.4. Giặc giã, cướp bóc
Sử thần Phan Phu Tiên đã mô tả tình hình giặc giã lúc này qua Đại
Việt sử ký toàn thư: “Nhà Trần từ sau khi Dụ Tông hoang d...
 





