Sách Nói] Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn - Chương 1
Giải khăn sô cho Huế

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Tuyết
Ngày gửi: 09h:37' 20-05-2024
Dung lượng: 2.0 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Tuyết
Ngày gửi: 09h:37' 20-05-2024
Dung lượng: 2.0 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
---❊ ❖ ❊--GIẢI KHĂN SÔ CHO HUẾ
Tác giả: Nhã Ca
Hồi kí
Nguồn text: Internet
Đóng ebook: Cùi Bắp
TỰA NHỎ : VIẾT ĐỂ CHỊU TỘI
Tôi được sinh ra ở Huế, lớn lên với Huế, nhưng khi trưởng thành, đã
rời gia đình, bỏ thành phố và ra đi biền biệt.
Hồi trước Tết Mậu thân, hôm 23 tháng chạp năm mùi, đang cùng
chồng con cúng ông táo, tôi bỗng nhận được điện tín từ Huế : về ngay,
ba hấp hối.
Với một gói hành lý vội vàng, đứa con hư hỏng của gia đình và thành
phố là tôi, đã trở lại Huế để chụi tang người cha thân yêu. Và rồi như
bao người khác, đã phải chịu luôn cái tang lớn cho cả thành phố, khi biến
cố tết Mậu Thân bùng nổ.
Sau cả tháng dài lạn lọn trong địa ngục Huế, khi sống sót trở về
Sàigòn, tôi đã thao thức mãi về việc phải thất một giải khăn sô cho Huế,
phải viết một hồi ký về những ngày giờ hấp hối của Huế. Nhưng thời sự
những ngày sau biến cố Tế Mậu Thân ồn ào quá, bên cạnh cơn khóc than
vật vã của Huế, người ta còn bận bịu với việc khai thác những chi tiết ly
kỳ của chiến cuộc, những thành tích chiến thắng trên tro tàn, thật chưa
phải là lúc viết ra những sót sa, tủi nhục, tuy tầm thường nhất, nhưng
cũng lại là sâu sác nhất của một thành phố hấp hói.
Chính vì vậy mà sau khi phác họa một vài nét đại cương trên nhật báo
Sông hồi ấy, mặc dù được tòa soạn yêu cầu tiếp tục và sau đó được
nhiều nhà xuất bản thúc dục, tôi cũng đã cố gắng ngưng lại. Phải ngưng
lại, để nếu không nghiền ngẫm được kỹ hơn, thì ít ra cũng tách rời được
khỏi những hậu ý xô bồ của thời cuộc, để chờ đợi một giây phút yên lặng
hơn, trầm tĩnh hơn, khi viết về Huế.
Cái thời gian chờ đợi ấy, đến nay, đã gần hai năm qua, Hai năm, hài
cốt cả chục ngàn dân Huế bị tàn sát, vùi nông ở bờ bụi, vứt bỏ xuống
đáy sông đáy suối, đã được thu nhặt dần. Những nấm mồ tập thể đã tạm
thời xanh cỏ. Những nền nhà đổ nát đã tạm thời dựng lại. Cơn khóc than
vật vã của Huế, những tiếng nói xô bồ về Huế, như vậy, cũng đã bớt ồn
ào.
Đây, chính là lúc chúng ta có thể cùng nhau chít lại giải khăn sô, đốt
lại nén hương nhỏ trong đêm tối mênh mông của chiến tranh và tang tóc,
để hồi tưởng về Huế.
Có nhiều loạt súng đạn, nhiều loại tang tóc, đã nổ và đã tàn phá Huế.
Công trình ấy không biết từ đâu, nhưng dù do đâu đi nữa, thì cái tội ác
tàn phá một thành phố lịch sử là Huế, chính thế hệ chúng ta, thời đại
chúng ta, phải chụi trách nhiệm.
Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có Đoan, một cô bạn học cùng lớp
với tôi ngày nào, đang ngồi trên ghế đại học ở Sàigòn, bỗng về Huế, đeo
băng đỏ nơi tay, dát súng lục bên hong, hâng hái đi lùng người này, bắc
người khác, để trở thành một nữ hung thần trên cơn hấp hối của Huế.
Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có Đắc một sinh viên trẻ trung,
hăng hái. Thời trước Đắc làm thơ, Đắc tranh đấu, rồi bỏ ra khu. Để rồi
trở lại Huế lập những phiên tòa nhân dân, kêu án tử hình hàng loặt
người, rồi đích tay đào một cái hố, bắt một bạn học cũ có xích mích từ
trước ra đứng bên hố, để xử tử. Cậu bạn của Đắc, tên Mậu tý, dơ cái
băng đỏ dấu hiệu giải phóng quân lên cao, lạy van Đắc :
- Em lạy anh. Bây giờ em theo các anh rồi mà. Em có mang băng đỏ rồi
mà. Cách mạng muôn năm... Hồ chủ tịch muôn năm.
Nhưng mặc Mậu Tý năn nỉ, hoan hô, Đắc vẫn nhất định nổ súng vào
người bạn nhỏ.
Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có từng đoàn người, hàng trăm
người, cha có, sư có, già có, con trẻ có, mỗi người cầm một lá cờ trắng
để ra dấu đầu hàng bất cứ phe nào, đi thất thểu trong một thành phố đầy
lửa cháy. Cứ như thế chạy ngược chạy xuôi, cho đến khi gục ngã gần
hết.
Cũng chính trong thời đại chúng ta, ngày thứ hai mươi mấy trong cơn
hấp hối của Huế, đã có một con chó nhỏ kẹt giữa hai lằn đạn, chạy ra
sủa bâng quơ ở bên bờ sông Bến Ngự. Con chó thành mục tiêu đùa rỡn
cho những mũi súng hờm rẵn từ bên kia sông. Họ bắn cho con vật khốn
khổ sợ hãi rơi xuống sông. Rồi lại bắn vào những bờ sông mà con chó
nhỏ đang lóp ngóp bơi vào. Những phát súng đùa cợt không có tình bắn
chết con chó nhỏ, mà chỉ có trêu chọc cho con chó chới với giữa giòng
nước, để có chuyện đùa chơi với máu lửa. Thành phố Huế, và có lẽ cả
quê hương khốn khổ của chúng ta nữa, có khác gì thân phận của con chó
nhỏ đã chới với giữa giồng nước ấy. Thế hệ chúng ta, cái thế hệ ưa
dùng những danh từ đẹp đẽ phô trương nhất, không những chúng ta phải
thắt một giải khăn sô cho Huế, cho quê hương bị tàn phá, mà còn phải
chịu tội với Huế, với quê hương nữa.
Gần hai năm đã qua, hôm nay, nhân ngày giỗ thứ hai của biến cố tàn
phá Huế sắp trở lại, tôi xin viết và xin gửi tới người đọc tập giải khăn sô
cho Huế này như một bó nhang dèn góp giỗ.
Xin mời bạn, chúng ta cùng thấp đèn, châm nhang, chịu tội với quê
hương, với Huế.
Sàigon, năm Dậu.
NHã CA
1
NHỮNG GIỜ ĐẦU TIÊN
Không biết tiếng súng đầu tiên nổ vào giờ khắc nào? Giữa đêm, tôi
đã choàng tỉnh dậy vì tiếng nổ xé toạc cả những giấc mơ vụn.
Vừa kịp lăn xuống khỏi tấm phản gỗ, tai tôi đã ù đi vì những tiếng nổ
ran bốn phía. Chuyện gì vậy? Không biết làm thế nào mà tôi lăn tròn từ
phòng ngoài vào phòng trong. Bàn tay ai kéo tôi giúi vào giữa phòng. Tôi
nằm đè lên da thịt ai non mát. Một tiếng kêu nhỏ tắc nghẽn vào âm thanh
hỗn độn của súng đạn bên ngoài. Khi tôi kịp định tỉnh lại tâm thần thì đứa
cháu nhỏ đã ngồi lên được, nằm gọn gàng trong lòng tôi. "Còn đứa mô
nữa? Vô hết đi. Vô một chỗ.” Tiếng má tôi thì thào. Que diêm tắt phụt
nhưng có ánh nến le lói từ phòng ngoài hắt vào. Ðứa em trai tôi trườn
theo làn ánh sáng mỏng đó, nó ngồi áp vào bên má tôi. “Làm ơn tắt giùm
ngọn nến ngoài bàn thờ đi, tắt luôn cả lư trầm nữa.” Ông anh lớn của tôi
vội vã làm theo lời má tôi, rồi nhảy đại rất nhanh vào ngồi dồn cùng một
đống. Lúc này tôi mới cảm thấy ngột ngạt đến muốn tắt thở vì hơi
người, vì mùi trầm hương và mùi nến khét.
Căn phòng quá chật, lại bị cái giường chiếm mất một nửa. Anh tôi
phải lăn xuống gầm giường. Người này nằm gác lên người kia. Cái bô
để dưới chân giường, thỉnh thoảng bị va chạm, vang những âm thanh rổn
rảng càng khua động thêm nỗi sợ hãi của mọi người.
Nằm im được một lát, hoàn hồn lại, mọi người bắt đầu nghe ngóng.
Tôi dán tai xuống nền gạch. Ðứa cháu gái đã lăn xuống nằm cạnh tôi, hai
tay nó ôm đầu, hai chân nó lọt vào hai chân tôi. Tôi hỏi nhỏ:
- Tina nằm có chật không?
- Không, cô ơi. Tina sợ quá.
- Ðừng có khóc.
Tôi vỗ về đứa cháu. Nhưng cùng lúc đó những tiếng nổ ình ình lại dội
thốc lên. Ðứa cháu bỏ tay, ôm chặt lấy tôi, người nó run cầm cập. Trời
ơi, súng bắn cả sau vườn mình. Tôi nghe tiếng súng đằng sau vườn thật
trong, thật buốt. Thằng em ghé vào tai tôi:
- AK. Thôi, tụi nó về rồi.
Tôi kéo nó:
- Mày nằm xuống đi.
- Không can chi mô chị. Ðể em ngồi.
Cánh cửa sổ bỗng bị bật ra và cứ thế, hai cánh cửa cứ dội mở ra, đóng
ập vào theo những tiếng nổ lớn. Tiếng đạn ở sau vườn bắn thật rát. Má
tôi thì thầm:
- Ðánh tới đồn vận tải.
- Không, đồn trường bia.
- Không, đánh cùng khắp. Con nghe phía vận tải, phía trường bia, phía
ruộng, phía sau đường rầy.
- Suỵt, im đi cho với. Trời ơi. Trời ơi. Trời ơi.
Tiếng trời ơi đất hỡi bỗng nằm ngay trên chót lưỡi. Bầu trời xoẹt lửa
sáng trưng, đất rung chuyển như địa chấn. Lên cơn rồi. Tôi cũng không
thể nằm yên để nghe tiếng dội tức cả ngực được. Tôi muốn ngồi nhổm
dậy để nghe ngóng, nhưng chỗ nằm chật không nhúc nhích được. Ðứa
em họ lúc này cũng chen được một chỗ, hai chân nó chuồi dưới giường,
đầu nó thò ra khỏi một nửa cửa phòng. Nó lại bật diêm, lại có tiếng la
nhỏ: con khỉ, tắt diêm đi. Ngọn diêm tắt phụt. Nhưng trong bóng tối, lúc
này tôi tưởng tượng ra được rồi. Tôi đồng điệu run với mạ tôi, anh tôi,
em gái tôi. Tôi đồng điệu co quắp, cố đè nén sự run rẩy, cố ưỡn tung lên
để tiếng nổ bớt dội ngực. Ðứa em họ tôi nghe ngóng một hồi rồi ngồi
dậy, nó bò ra gian nhà ngoài, chúng tôi nín thở chờ đợi. Chỉ một lát sau, nó
bò vào nói rỉ tai từng người:
- Nó ở đầy sân vườn nhà mình.
- Suỵt.
Lại nhiều tiếng suỵt lọt ra khỏi cửa miệng như một hơi huýt gió nhỏ.
Anh tôi giọng hơi gay gắt:
- Nó bắn như pháo ở bên ngoài, vài tiếng động nhỏ làm sao nghe được.
Rồi anh tiếp:
- Quái gì, nó về đánh đồn trường bia rồi. Lần trước cũng đánh suốt
một đêm, sáng ra là rút hết.
Tôi mừng thầm. Chúng tôi chịu đựng có lẽ đến hai tiếng đồng hồ rồi.
Tôi cố đưa cổ tay lên để nhìn mặt chiếc đồng hồ, nhưng rủi cho tôi, tôi
mang đồng hồ không có kim dạ quang. Và ngoài tôi ra chẳng có ai kịp thì
giờ mang đồng hồ hết. Dù sao chúng tôi cũng hy vọng mong cho trời
sáng. Ông anh tôi không biết sao bỗng trở chứng kêu đau bụng bất thình
lình. Vậy là chiếc bô lại có dịp được dùng tới. Chúng tôi đau khổ vì lát lát
mấy đứa nhỏ đòi đi tiêu, đi tiểu. Lát lát anh tôi lại kêu đau bụng, mà cái
bô thì quá nhỏ. Mọi người vừa nằm vừa run, vừa cố giữ cho chân tay
khỏi lóng ngóng. Tôi cố nghĩ đến một cái gì để dằn cơn sợ hãi, nhưng
không, tôi không nghĩ gì được hết. Ðầu óc tôi vang dội tiếng súng. Tay
chân tôi cứ lật bật run rẩy bất chấp cả sự tự chủ vượt bực của tôi. Có
nhiều lúc ngay cả chân tay, thân thể mình cũng không nghe lời mình nữa.
Nhưng rồi nhờ sự chịu đựng quen dần, tôi bình tĩnh lại được và cơn
run rẩy biến mất. Hình như chúng tôi đã chịu đựng một thời gian khá dài
và bình minh sắp đến. Tôi nghe tiếng rục rịch trong chuồng gà ở đàng sau
tấm vách tường lọt vào nhờ hai cánh cửa sổ đã bật tung cùng với tiếng
súng đạn hỗn loạn. Thái, tên đứa em họ tôi, đã bình tĩnh ngồi dựa vào
tường, và phì phà trên môi điếu thuốc lá lúc nào. Tôi lần tay, nắm chặt
tay nó:
- Thái, liệu có yên được không?
- Em làm răng biết được, cái nớ thì chịu...
Tôi lại hỏi anh tôi, lúc đó đã nằm trên giường vì không chịu nổi sự
chen lấn dưới đất:
- Anh, sáng mai chắc yên há anh?
- Làm răng biết được, anh cũng chịu.
Tôi đâm ra thất vọng ngang. Những ánh lửa xẹt ngang dọc phía ngoài
cửa sổ không còn nữa, nhưng hai cánh cửa vẫn còn bị dội bật ra bật vào
vì những tiếng nổ lớn. Súng to, súng nhỏ đang nổ ran từ mặt quốc lộ, từ
miệt chùa, từ phía sau đường rầy. Căn nhà của chúng tôi nằm đơn lẻ,
chịu đựng bốn mặt đang đánh nhau. Quốc lộ và bờ ruộng ở ngay trước
mặt, đường rầy xe lửa ở đàng sau lưng. Hai phía hai bên, một xéo với
đồn trường bia, một xéo với đồn vận tải An Cựu.
Không thể nằm yên để chờ tới sáng, tôi lại khơi chuyện:
- Sáng ngày yên chắc ra đường dễ sợ lắm!
Thái phà thuốc trúng ngay vào mặt tôi:
- Buồn quá, lúc này có súng đỡ sợ hơn nhiều. Biết vậy tối qua em lên
đơn vị.
- Không biết tới sáng đã yên được chưa?
Tôi hỏi hoài một câu như người ngớ ngẩn: Biết đâu. Mà yên chứ. Sáng
ra mà súng đạn không ngừng thì chết hết.
- Trời ơi, đừng nói, tụi nó trong vườn.
Ðứa em gái của tôi cười nhỏ:
- Má sợ chi mà sợ dữ rứa. Chị Vân, sáng ra chị với em đi thăm trận
đánh nghe. Coi chừng về Sài Gòn viết một phóng sự chiến trường đầu
năm đầy gay cấn.
- Giỡn chi mà giỡn vô hậu tế đợi rứa. Mấy chuyện đó đừng có ham.
Má tôi cằn nhằn. Nhưng chúng tôi đã bớt dần cơn sợ hãi, bắt đầu nói
chuyện được, mà câu chuyện cũng bớt ngớ ngẩn. Lúc này tiếng súng ở
trong vườn đã dịu dần, nhưng xung quanh thì vẫn còn nổ ran. Tôi nằm mà
mắt không rời khỏi cánh cửa sổ phía trên đầu đứa em gái. Tôi nằm chờ,
cho tới khi bầu trời tối mịt bên ngoài kia bị hút bớt màu đen đặc.
Lúc này tôi cần sự bình tĩnh, cần sức mạnh. Tôi mong cho trời sáng thì
trời đã gần sáng rồi. Mấy chiếc lá cây phất phơ bên ngoài cửa sổ đã hiện
lờ mờ, rồi rõ dần. Mấy đứa cháu tôi kêu khát nước. Chúng tôi chờ đợi
cho tiếng súng bớt ồ ạt, Thái mới đi ra ngoài rót một ly nước cho hai đứa
nhỏ. Tiếng súng đã có vẻ thưa hơn, bức màn đêm đã bớt mắc kẹt đạn.
Anh tôi hy vọng hơn ai hết:
- Thái, coi yên súng đem xe Honda ra ngoài, anh muốn lên Từ Ðàm.
Chắc chị và mấy đứa nhỏ sợ ghê lắm.
Gia đình tôi lúc này đang chia làm hai. Chị dâu tôi và mấy đứa nhỏ còn
ở nhà trên đầu dốc Bến Ngự. Nên anh tôi là người lo lắng nhất. Nhưng
chắc không sao. Moị người tự an ủi. Ðến sáng là yên, vậy sáng rồi. Môi
má tôi đã bớt tím, tay chân bà cũng bớt run rẩy. Nhưng nỗi vui mừng của
chúng tôi không được lâu. Ðúng lúc tôi nghe tiếng gà gáy nơi chuồng gà
thì tiếng súng đã bắt đầu nổ lại. Rồi có tiếng đấm cửa rầm rầm, cùng
nhiều tiếng chân chạy ở ngoài sân:
- Mở cửa, mở cửa.
Thôi chết rồi. Chúng nó đã tới. Chúng nó sắp tràn vào nhà. Má tôi mặt
tái xanh, định chạy tới tắt ngọn đèn vừa mới thắp. Tiếng đại bác dưới
Phú Bài bắn lên ầm ầm. Tiếng súng nhỏ nổ chát chúa. Cánh cửa muốn
bật tung vì những tiếng đập. Thái bò ra giữa nhà.
- Suỵt, để con.
Rồi hắn chạy ra mở toang cửa. Có nhiều tiếng quen thuộc la hét bên
ngoài. Cánh cửa vừa mở tung ra, thì cả nhà đầy người. Chú tôi ở phía
dưới đường rầy, sát chân núi Tam Thái, cùng gia đình con dâu với những
gia đình hàng xóm khác chạy túa vào. Trẻ con người lớn chen chúc chật
cả một gian nhà giữa rộng rãi. Mấy đứa nhỏ hoảng sợ quá, ngã vật ra
giữa nhà, có đứa vừa run vừa đái ra quần. Chú tôi vừa khóc vừa kể:
- Sập hết rồi chị ơi. Trên đó bị mọt-chê câu, nhà mụ Nghệ bên cạnh đó
mất nửa cái nhà.
Bé, đứa con trai lớn của chú tôi ôm một lúc hai đứa con nhỏ, vừa thở
vừa nói không ra hơi:
- Tụi nó đông lắm. Trên con đầy nhà rồi bác.
Tôi tò mò:
- Làm sao em chạy xuống được?
- Dân họ chạy xuống dưới này hết. Trên đó mọt-chê câu sập hết nhà
cửa. Chạy giữa đường em thấy Việt cộng tụm năm tụm ba, nó ngồi cả
trước sân nhà người ta.
Chú tôi chợt nhìn quanh rồi hốt hoảng:
- Con Hồng đâu rồi, con Hồng bế thằng Ðiện chạy phía nào rồi. Thôi
chết con tôi cháu tôi...
Chú tôi chưa kịp dứt câu thì đã ngã phịch xuống vì một quả B-40 phạt
xuống mái ngói. Tôi đang há hốc mồm thì gạch vụn đã đầy một miệng.
Cái bô để dưới chân giường không biết bị ai đá vào tràn ra nhà. Tôi vừa
sát người xuống thì đã phát nôn vì một mùi thúi hoắc xông lên tận đầu,
nhưng không còn cách cựa quậy gì nữa. Nhiều đứa trẻ không chịu đựng
nổi ré khóc vang nhà. Nhưng tiếng khóc bị chận ngay vì những bàn tay đã
bịt miệng, hoặc những tràng súng cắt đứt. Trời ơi, đến sáng rồi sao
không yên? Tôi quay quắt hỏi đứa em:
- Lần trước có lâu như vầy không?
- Không, lần trước bắn ít hơn, không có đại bác câu nhiều như thế này.
Sáng ra là nó rút đi hết.
Bé bò lại phía tôi:
- Trời, chị không tưởng nổi mô. Em thấy tụi nó máu me cùng mình. Tụi
nó ngồi bên vườn thím Quyệt, em chạy xuống đây em thấy.
- Thấy mày chạy họ để yên à?
- Tụi họ cũng vừa chạy vừa bắn, mình cũng chạy đại. Ở trên đó chắc
chết quá chị ơi.
Nó vừa nói vừa ôm chặt đứa con gái trong lòng. Vợ nó khóc thảm
thiết:
- Anh coi đi tìm con Hồng với thằng cu Ðiện, không tui chạy ra cho
súng bắn cái đùng cho rồi.
Má tôi gắt:
- Chết đến nơi không lo, ai mượn tụi bây không chạy với nhau.
- Làm răng chạy với nhau được, mạnh ai nấy chạy, tưởng còn sống
đến chừ mô.
Hai vợ chồng nó nín im, nhưng chỉ một giây sau, tôi lại nghe chúng càu
nhàu cãi cọ. Một lát sau tiếng súng lại thưa dần. Bé vội chạy ra sân rồi
mò dần ra đường. Chừng hai mươi phút sau nó trở lại, một tay bế thằng
con.
- Chị...
Bé hạ giọng, tiếp:
- Em đi tìm con Hồng với thằng Cu, em phải đi bằng ngả sau vườn.
Ngang đường rầy em gặp tụi nó, nó hỏi em đi mô rồi bắt giữ em lại.
Chúng nó có ba đứa, một đứa bị thương. Em năn nỉ nói đi tìm con lạc, ban
đầu nhất định nó không cho, nó hỏi em làm nghề gì. Em nói thợ mộc, em
bị lạc con. Về sau nó cho đi. Em tính nếu nó bắt, em liều chết giựt súng.
Một thằng bị thương gần chết, một thằng bị thương nhẹ không cầm
súng được, còn thằng kia ốm yếu hơn em...
Hà, em gái tôi, nạt:
- Thôi, mi đừng có ba hoa, nói phách tấu...
- Em nói thiệt, người ta quân đội mà...
Rồi nó sực nhớ lại đồn trại và đồng đội, nó ngồi buồn hiu. Lát sau thở
dài:
- Lính tráng mà ngồi một xó như ri có nhục không?
Những người xóm trên vào nhà tôi bây giờ mới hoàn hồn lại. Người
vạch vú cho con bú, người bắt đầu kháo chuyện. Mỗi người kể một
chuyện đại để cũng thấy Việt cộng ra sao. Họ kể họ cũng chạy suýt
chết, cũng thấy viên đạn nó to và đỏ rực như đâm vào mặt mà không biết
sao lại không trúng.
Bỗng nhiên vào lúc 8 giờ sáng, tiếng súng như dồn về miệt Phú Cam.
Tiếng đại bác dưới Phú Bài không câu lên nữa. Lúc đó chúng tôi mới lần
ra sân. Vườn cây yên tĩnh không một bóng người, nhưng trên cỏ, trên đất,
còn lấm tấm những vạt máu khô đặc.
Một vài nhánh cây gãy, nơi bờ tre cuối đường ngả ăn thông ra mặt
đường rầy, những cành khô được banh ra, chừa những lối đi gọn. Mấy
chị em chúng tôi hết sức sung sướng hít thở, ai cũng mừng thầm như thế
này là đã yên. Anh tôi chuẩn bị để lên nhà ở Từ Ðàm. Tôi ra cái bể cạn
trước sân múc nước súc miệng, đánh răng. Những người trú ngụ trong
nhà tôi vội vã bồng bế nhau trở về xóm. Chú tôi là người chạy băng ra
khỏi nhà trước tiên. Ông quá lo lắng không biết nhà cửa còn hay đã mất.
Tôi cố nhón gót nhìn lên miệt núi, cũng không thấy được gì. Thái, em tôi,
hỏi:
- Chị nhìn chi rứa?
Tôi thở ra:
- Chắc đêm qua trên núi mồ mả bị chân đạp lung tung, mộ bác mới
chôn.
Mồ mả mới chôn đây là mộ của ba tôi. Từ Sài Gòn, những ngày cuối
năm vợ chồng con cái tôi đang chuẩn bị đầu năm về ăn Tết ở Huế thì tin
ba tôi hấp hối. Leo lên một chiếc máy bay quân sự chở thực phẩm cho
lính ở tiền đồn, tôi về tới vừa kịp những giờ cuối cùng của người cha.
Thái cúi đầu. Nó đi tới bể cạn múc nước. Tiếng má tôi kêu:
- Thái, con đem cái này đổ ra sau vườn.
Anh Lễ tôi đã mặc quần áo xong. Chiếc Honda đã được dựng sẵn. Tôi
nói:
- Cho em lên Từ Ðàm với.
Anh Lễ bảo:
- Ðể coi sao đã. Thấy không yên rồi, ngoài đường vắng tanh vắng
ngắt.
Nhưng lời anh tôi nói chưa dứt thì có nhiều tiếng động ì ầm của xe
chạy vào thành phố ngả quốc lộ. Chúng tôi đứng ở sân nhìn ra. Một đoàn
xe cam nhông chở lính Mỹ và những khẩu đại bác đang từ từ đỗ lại ngoài
đường nối hàng dài. Lính Mỹ nhảy xuống, Thái bật la to:
- Bác ơi, yên rồi, quân Mỹ đã lên. Mình ra đường, mình coi được rồi.
Má tôi kêu:
- Vào nhà hết, vào nhà không nó bắn.
Anh tôi cản:
- Ðứa nào ở đâu cứ ở đó. Ðứng yên đừng có chạy mà nó tưởng Việt
cộng chết hết cả giờ.
Ðoàn lính Mỹ đã xuống xe, tiến vào các khu vườn, nằm bò xuống vệ
đường, lủi xuống phía ruộng. Chỉ một phút sau vườn nhà tôi đã đầy lính
Mỹ.
Một vài người lính Mỹ nhìn chúng tôi dò chừng rồi lủi ra phía vườn
gườm súng chĩa vào các bụi cây trước khi băng qua vườn khác. Không có
gì xảy ra hết. Tình hình hoàn toàn yên tĩnh. Chúng tôi đi vào nhà ngồi yên
ở tấm ngựa gỗ. Ra đường lúc này nguy hiểm. Ai cũng nghĩ thế. Có lẽ
lính Mỹ đang đi lùng Việt cộng đây. Chúng tôi im lặng ngồi nhìn nhau,
hồi hộp chờ đợi. Hai người lính Mỹ đi ngang qua sân, hờm súng vào trong
nhà. Chúng tôi cố giữ vẻ mặt thật thản nhiên. Má tôi còn có vẻ cố gắng
làm ra vui mừng nữa. Hai người lính Mỹ dừng lại, rồi đưa mắt cho nhau,
đi vào bậc thềm, hất hàm ra hiệu cho chúng tôi ra đứng ở cửa hết. Một
người lính Mỹ nói hai tiếng gì đó không phải tiếng Mỹ.
Chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau, người lính Mỹ lộ vẻ tức giận, nạt lớn:
- Kên cượt.
Anh tôi hỏi một câu tiếng Anh, nhưng người Mỹ vẫn la:
- Kên cượt.
Má tôi là người hiểu ra đầu tiên, bà nói lớn:
- Ông Mỹ hỏi thẻ căn cước.
Người lính Mỹ gật đầu. Người đi cùng chỉ súng thẳng vào người
chúng tôi. Chúng tôi trình thẻ căn cước. Khi tôi đưa tấm thẻ của cơ quan
VOF (Voice of Freedom) thì người lính Mỹ gật đầu và khuyên chúng tôi
trong lúc này nên ở yên trong nhà. Trả thẻ lại, một người trọ trẹ nói tiếng
Việt cám ơn, rồi đi ra phía vườn. Chúng tôi chưa kịp ngồi xuống tấm
ngựa gỗ đã nghe mấy tiếng nổ lớn. Thái quen với súng đạn, kêu lên:
- Thôi, B-40 của Việt cộng rồi.
Tiếng B-40 từ phía núi, từ phía đường rầy bắn ra như mưa. Phía ngoài
đường, những xe thiết giáp mang súng cối 40 ly bắn trả lại kịch liệt.
Từng mảnh ngói bị sức ép, hoặc trúng sướt lằn đạn rơi tứ tung lên đầu
lên cổ. Cả nhà lại chui vào phòng trong. Cùng lúc đó những tiếng la khác
nổi lên như ri ở miệt ngoài đường. Cái gì vậy? Thái muốn chạy ra trước
tiên. Má tôi nắm áo giữ riệt nó lại, nhưng Thái cứ van nài mãi. Cuối cùng
hắn ló ra cửa, thụt lui thụt tới vì những tiếng súng bắn đi trả lại cứ vèo
vèo ngang qua mái nhà. Ầm. Ầm. Vài thân cây lớn ở ngoài vườn đổ
xuống. Chúng tôi ai nấy nằm sát xuống đất, buông trôi cho sự may rủi.
Lần này chắc chết quá. Cầu nguyện đi. Tiếng la khóc ở vườn bên, ở
trước mặt càng lúc càng thảm thiết. Rồi tiếng kêu chết kêu cháy vang
lên.
Mấy người lính Mỹ đang núp ở vườn sau vội chạy ra đường phía có
tiếng kêu khóc. Lúc này đạn bắn đi cứ như mưa, tiếng B-40 yếu dần rồi
tắt luôn. Tiếng kêu khóc đã nghe rõ mồn một. Chúng tôi không ai bảo ai
cùng một lượt chạy ra sân. Căn vườn mé mặt trước, đang có căn nhà bốc
cháy và lính Mỹ đang cố dập tắt lửa. Lúc này tôi mới hoàn hồn lại chút ít.
Má tôi lo sợ không biết lửa có lan sang căn nhà thờ của chúng tôi không.
Bà hét gọi mấy đứa cháu lo gói đồ lại, có gì còn mang ra được chút của
cải. Trong tiếng lửa nổ lốp đốp, trong âm thanh ồn ào của những tràng
tiểu liên bắn ran khắp các miệt vườn, tiếng khóc nổi lên thảm thiết: Dì
ơi, dượng ơi, má tui chết rồi. Ai cứu cho với. Tiếng kêu, tiếng khóc,
tiếng chân hàng xóm chạy thình thịch bất chấp cả súng đạn. Má tôi lùa
chúng tôi vào nhà. Thái được cử sang chữa lửa. Mấy người lính Mỹ đi
vòng lại, qua sân nhà, nhìn vào. Người Mỹ soát giấy chúng tôi lúc nãy
đưa mấy ngón tay và nói một câu tiếng Việt bập bẹ đại ý báo cho biết
ngoài đó có mấy người chết.
Xong rồi họ ra xe, đoàn xe rồ máy chạy vào thành phố, nhưng chỉ mấy
phút sau, có lẽ xe chưa kịp qua khoảng cầu An Cựu, thì chúng tôi nghe
miệt cầu đủ thứ súng nổ dữ dội. Một lát, đoàn xe Mỹ ầm ầm rút lui,
không còn kiêng nể gì nữa, cứ bắn như mưa dọc hai bên đường. Nhưng
lần này, xe trở về rất ít, hình như chỉ có đoàn xe đi sau. Có lẽ những
chiếc xe này về chở thêm súng đạn, và đoàn xe đi trước đã lọt ổ phục
kích.
Tiếng súng ở mạn cầu đã thưa thớt dần.
Chừng mười lăm phút sau, khi nhìn ra đường, chúng tôi thấy có một
đoàn người mặc quần áo màu vàng, vai vác súng đi đầu trần. Tôi lật đật
ra sân: Thôi đúng rồi, họ rút đi, và lính mình về. Tôi mừng rỡ như điên
định đưa tay vẫy thì chợt nhận ra nơi hông họ đeo cái bị rết. Lính quốc
gia thì mang ba lô chứ. Tôi sững lại. Ðoàn người cũng không đông lắm,
chỉ chừng vài chục người.
Thái lúc này mới thấy sợ hãi:
- Thôi chết em rồi. Họ vào biết em là cán bộ xây dựng nông thôn thì
không cách gì sống nổi.
Tôi bảo nó đưa giấy tờ cho tôi giữ. Tôi cẩn thận bỏ giấy tờ của nó
trong cái túi áo rồi xếp gọn đặt giữa mớ quần áo đang gói ngổn ngang
trong một tấm drap lớn. Anh tôi cố tin tưởng:
- Anh nhà giáo chắc không can chi. Nếu họ hỏi em, em nói em là học
sinh nghe.
Thái dạ nhưng nghe chừng yếu xìu. Gia đình Bé lại lật đật dọn xuống.
Mấy bao bố đựng gạo, áo quần, mấy cái soong. Chú tôi không đi, má tôi
kêu trời kêu đất, nhưng tụi em tôi bảo chú ở lại giữ nhà. Trên đó đã có cái
hầm cũ làm sau vụ pháo kích lần trước. Má tôi không tin tưởng vào cái
hầm đó lắm. Bà bắt Bé đi gọi ông xuống nhà, nhưng Bé vừa đi một lát,
đã hớt ha hớt hải quay lại:
- Bác ui, họ về đông như kiến. Họ đang họp ngoài nghẹo, họ treo cờ,
họ hô hào. Họ lấy hết Huế rồi. Người ta bảo bên Phú Văn Lâu treo cái
cờ gì to thục lúc. Con vừa tới thấy họ đang bắc loa gọi, con lủi nhanh vào
vườn Bác Ái lủi về, may mà họ không thấy.
Tôi hỏi có ai bị thương không, Bé nói là thấy họ đông lắm, sáng thấy
có người bị thương, chừ đem đâu hết rồi. Má tôi nói liệu có di tản lên Từ
Ðàm được không thì Bé cho biết là đường sá họ gác hết rồi, góc nào cũng
có người đứng gác. Tôi hỏi đi hỏi lại là mày có thấy tận mắt không, nó
bực mình: “Thì thấy mới chạy thục mạng về đây. Ðồn vận tải thấy vắng
teo như không có người ở, tường thành gì cũng đổ nát hết...
Lúc đó khoảng mười một giờ. Chúng tôi hết đứng lại ngồi, lóng ngóng
nhìn ra đường. Lát lát má tôi sai một đứa cháu ra nhìn xem có ai đi lại
không. Nhưng đường xá vắng ngắt. Mấy lần nó định đi lần về phía
nghẹo đường xay, nhưng không đủ can đảm lê bước tới đó. Lúc này nó
đã nhìn thấy ở đó treo một lá cờ VC. Nó trở vào mặt mày rầu rỉ:
- Trời lính mà ai cũng như tui thì Huế mất là phải. Biết vậy đừng có
về cho xong. Ðã nghe lịnh cấm trại rồi mà còn về.
Bé buồn cũng phải. Ðáng nhẽ ra dù Huế còn hay mất nó cũng phải có
mặt với anh em. Nhưng ba tôi chết cuối năm, Bé được giấy phép mấy
ngày đầu năm để lo việc nhà. Lúc này, đèn đuốc trên bàn thờ ba tôi lại
sáng trưng, mỗi đứa chúng tôi đều thắp hương và cầu nguyện. Ðây là căn
nhà thờ duy nhất của dòng họ tôi mà phải suốt cả một đời lăn lộn cực
khổ làm ăn lương thiện, ba tôi mới gầy dựng nổi. Căn nhà chưa tu bổ thì
ba tôi đã có một chỗ ngồi trong căn nhà thờ này. Súng đạn đêm qua và
sáng nay đã nhân đức với căn nhà thờ của dòng họ chúng tôi ngoài mức
tưởng tượng.
Rồi chúng tôi cũng còn lo ăn nữa. Bữa cơm trưa được nấu vội vàng
nhưng không có đồ ăn. Ngày cuối năm thì xong việc đám ma. Ðến ngày
mồng một gia đình tôi nguyện ăn chay để cầu nguyện cho người chết.
Ðáng nhẽ phải ăn Tết ở ngôi nhà anh Lễ tôi ở Từ Ðàm, chúng tôi, kể cả
anh Lễ, má tôi, cô em gái, mấy đứa cháu nhỏ, cùng mấy đứa em con chú
đã tình nguyện ở lại để cầu kinh. Căn nhà thờ chứ không phải là nơi để
ở nên thiếu thốn đủ thứ. Chúng tôi phải nạy cửa nhà ngang, xuống căn
nhà phụ cho ông giáo Trường An Cựu thuê, vợ chồng họ về quê ăn Tết,
để lấy chén bát và tìm đồ gia vị như nước mắm, muối ớt. Khổ là vì
không định ở đây, chúng tôi không tích trữ gạo. Lúc này đã không còn
nghe tiếng súng, hoặc có thì cũng chỉ là tiếng súng nhỏ vọng xa xa, ở một
miệt nào đó. Như thế là nghĩa lý gì? Không có một chiếc máy bay, không
có một chiếc xe chạy.
Ðoàn xe Mỹ đã vào tới thành phố tan biến đi ngả nào. Những Việt
cộng vừa tụ họp tại nghẹo Hàng Xay bỗng tản đi đâu hết. Tại sao chú tôi
ở xóm trên chỉ cách một con đường rầy, mấy cái vườn, cũng không
xuống được. Lâu lâu lại thấy một đoàn người đi đâu ngoài đường phía
dưới quốc lộ, vào thành phố. Căn nhà thờ của chúng tôi nằm ở An Cựu,
sát ngoại ô, lại ngay đường quốc lộ nối Phú Bài với Huế.
Trong thành phố Huế lúc này ra sao, chúng tôi không tài nào đoán nổi.
Cả nhà hợp nhau lại sửa căn hầm cũ dưới nhà bếp. Tiếng súng càng về
chiều càng dữ dội. Ngoài đường bỗng vắng tanh. Ở nhà bếp, nhà trên,
dân trong xóm đến tỵ nạn nằm la liệt mấy căn buồng nhỏ được che hai
ba mặt tường. Má tôi sai đứa cháu dâu nhóm bếp nấu một nồi cháo, chắc
chẳng ai còn lòng dạ nào ngồi ăn cơm chiều. Nhưng nồi cháo nấu vừa
chín tới thì Thái đã nhìn thấy có người đi lại ở ngoài đường. Mặc kệ
tiếng súng đang nổ ran mọi phía, mặc kệ bom đạn có thể nổ ngay trên
đầu mình, cả nhà chúng tôi tràn ra sân, rồi ra đường cái. Một hai người
đạp xe từ phía cầu An Cựu đi lui đi tới, Thái vẫy lại hỏi: “Ngoài nớ có ai
đi không?” “Người ta tản cư qua bên sông hết.” Má tôi la lớn:
- Lên Bến Ngự Từ Ðàm được không?
- Chắc được.
Nghe tiếng “chắc được” thôi mà cả gia đình tôi cũng tràn trề hy vọng.
Mấy đứa cháu giục phải di tản qua bên kia sông hoặc lên Từ Ðàm chứ ở
đây chắc chết hết. Việt cộng đã về đóng kín hết mọi nhà, mọi đường
phố. Nhà chúng tôi lại nằm ngay giữa hai cái đồn và ngọn đồi Thánh Giá
nằm ngay phía đàng sau lưng. Nếu xáp lá cà ở đây một trận chắc cả làng
An Cựu ra tro hết. Má tôi vơ vội một ít quần áo của ba tôi những thứ còn
bỏ lại, không đem liệm cho người chết. Bà gói lại cẩn thận. Gia đình
mấy đứa em họ tôi thì lo gánh gạo, quần áo, nồi chảo và những dụng cụ
cần thiết. Tôi xách cái ví tay, cái xách nhỏ. Anh tôi dắt chiếc Honda chở
em gái tôi với hai đứa cháu đi trước. Tới gần cầu An Cựu, má tôi nói anh
cứ đi trước đi, chở con và em lên rồi trở lại đón từng người bằng xe cho
mau. Thái lấy chiếc xe đạp tìm đường sang phố. Chúng tôi chia tay ở
trước đồn vận tải. Từng đoàn người cắm cúi lật đật, bồng bế, xách gói
chạy qua phía cầu. Chúng tôi theo họ nhưng tới cầu cả bọn không được
đi về phía Tân Lăng, Phú Cam mà cứ bị xua lại cầu. Lúc chúng tôi chạy
tới, một trong hai người đàn ông gác cầu đưa tay chận lại:
- Ði đâu, bà con ai ở yên trong nhà, không được chạy.
Tôi đứng sững đàng sau lưng má tôi. Hai người đàn ông mặc quần áo
ka ki vàng, nhưng chân đi dép. Không phải là lính quốc gia rồi; chắc họ là
quân giải phóng. Tôi nhìn sững họ không nói được một câu, miệng tôi
cứng lại. Má tôi nói như muốn khóc:
- Nhà cửa sập rồi mấy ông ơi, còn chi mà ở. Tui sang nhà bà con bên
kia sông.
Lúc đó tôi không còn thấy bóng em tôi chở em gái và cháu tôi đâu nữa.
Tôi nghĩ là anh đã đi thoát rồi. Hai người lính vẫy cho chúng tôi qua cầu.
Mấy vũng máu đọng giữa cầu chưa khô, ruồi nhặng bu đen xì. Chỉ một
đoạn đường ngắn mà tôi nhìn thấy biết bao nhiêu dép, giày vớ, quần áo
rách, bị rết, ba lô văng bừa bãi, dính lẫn với máu và những mảnh thịt.
Má tôi bảo qua cầu rồi cứ đi dọc bờ sông tìm đường lên căn nhà ở Từ
Ðàm. Nhưng đi được một đoạn, chúng tôi thấy những người đi trước lúp
xúp chạy trở lại, vừa chạy vừa khóc. Chúng tôi hỏi họ không nói ra
được, cứ làm dấu vẫy lui. Tôi chận một cô nhỏ:
- Sao trở lui vậy em?
- Trên nớ, nơi cầu Phủ Cam họ đứng đầy, họ gác, họ đuổi lui.
- Cứ đi tràn không được à?
- Họ bắn hai ba người.
Má tôi níu chúng tôi lại. Mấy đứa em tôi cũng hốt hoảng bảo vợ con
tất tưởi đi lui. Chúng là lính gặp họ chắc không ổn rồi.
Không hiểu nhờ phép lạ nào mà khi qua cầu họ không hỏi tỉ mỉ. Khi
má tôi xin qua cầu được, cả đoàn cứ nối đuôi nhau mà chạy. Cũng có lẽ
họ còn bận với những đoàn người đi sau.
Qua được cầu rồi, lúc này tôi mới dám nhìn hai bên đường phố. Chợ
An Cựu như một bãi chiến trường, máu còn chưa khô, máu in đỏ trên
những bức tường loang lổ vết đạn. Một chiếc xe tăng lủi vào lề đường
đâm vào một căn phố, tấm bảng hiệu còn treo lủng lẳng. Hai ba căn phố
không còn hình dáng gì. Không một căn nhà trước đường nào còn nguyên.
Giữa đường đầy rẫy chướng ngại vật, máu me, quần áo, rác, sắt vụn, gỗ
ván. Chúng tôi len lỏi mà đi. Không một đôi mắt nhìn ra cửa, những căn
nhà như đã hoang vắng hết. Không còn biết đâu yên mà chạy tới nữa.
Thôi cứ liều, má tôi nói liều mà tìm đường lên Từ Ðàm, gia đình họp lại
sống chết có nhau. Chúng tôi đi hết con đường ngắn, dọc xuống Lê Lợi.
Con đường đàng trước mặt dẫn sang nhà bưu điện và cầu Tràng Tiền sao
vắng ngắt. Tiếng súng ở mặt nhà dây thép nổ như bắp rang. Ðoàn người
này đi tới, đoàn người kia chạy lui, không kịp nghe nhau trả lời, cứ thế,
chạy loanh quanh trong những khu vực chưa bị kiểm soát. Cuối cùng
chúng tôi dồn vào khu nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế.
Không còn chạy đi đâu được nữa, phía trước mặt người ta đã chạy lui
lại hết. Phía đàng sau cũng không còn đường trở lui. Má tôi kêu trời kêu
đất. Anh tôi đã mất tăm dạng. Ngoài đường thưa người dần và nhiều
tiếng súng gần tới nơi. Mọi người chạy ào vào bên t...
Tác giả: Nhã Ca
Hồi kí
Nguồn text: Internet
Đóng ebook: Cùi Bắp
TỰA NHỎ : VIẾT ĐỂ CHỊU TỘI
Tôi được sinh ra ở Huế, lớn lên với Huế, nhưng khi trưởng thành, đã
rời gia đình, bỏ thành phố và ra đi biền biệt.
Hồi trước Tết Mậu thân, hôm 23 tháng chạp năm mùi, đang cùng
chồng con cúng ông táo, tôi bỗng nhận được điện tín từ Huế : về ngay,
ba hấp hối.
Với một gói hành lý vội vàng, đứa con hư hỏng của gia đình và thành
phố là tôi, đã trở lại Huế để chụi tang người cha thân yêu. Và rồi như
bao người khác, đã phải chịu luôn cái tang lớn cho cả thành phố, khi biến
cố tết Mậu Thân bùng nổ.
Sau cả tháng dài lạn lọn trong địa ngục Huế, khi sống sót trở về
Sàigòn, tôi đã thao thức mãi về việc phải thất một giải khăn sô cho Huế,
phải viết một hồi ký về những ngày giờ hấp hối của Huế. Nhưng thời sự
những ngày sau biến cố Tế Mậu Thân ồn ào quá, bên cạnh cơn khóc than
vật vã của Huế, người ta còn bận bịu với việc khai thác những chi tiết ly
kỳ của chiến cuộc, những thành tích chiến thắng trên tro tàn, thật chưa
phải là lúc viết ra những sót sa, tủi nhục, tuy tầm thường nhất, nhưng
cũng lại là sâu sác nhất của một thành phố hấp hói.
Chính vì vậy mà sau khi phác họa một vài nét đại cương trên nhật báo
Sông hồi ấy, mặc dù được tòa soạn yêu cầu tiếp tục và sau đó được
nhiều nhà xuất bản thúc dục, tôi cũng đã cố gắng ngưng lại. Phải ngưng
lại, để nếu không nghiền ngẫm được kỹ hơn, thì ít ra cũng tách rời được
khỏi những hậu ý xô bồ của thời cuộc, để chờ đợi một giây phút yên lặng
hơn, trầm tĩnh hơn, khi viết về Huế.
Cái thời gian chờ đợi ấy, đến nay, đã gần hai năm qua, Hai năm, hài
cốt cả chục ngàn dân Huế bị tàn sát, vùi nông ở bờ bụi, vứt bỏ xuống
đáy sông đáy suối, đã được thu nhặt dần. Những nấm mồ tập thể đã tạm
thời xanh cỏ. Những nền nhà đổ nát đã tạm thời dựng lại. Cơn khóc than
vật vã của Huế, những tiếng nói xô bồ về Huế, như vậy, cũng đã bớt ồn
ào.
Đây, chính là lúc chúng ta có thể cùng nhau chít lại giải khăn sô, đốt
lại nén hương nhỏ trong đêm tối mênh mông của chiến tranh và tang tóc,
để hồi tưởng về Huế.
Có nhiều loạt súng đạn, nhiều loại tang tóc, đã nổ và đã tàn phá Huế.
Công trình ấy không biết từ đâu, nhưng dù do đâu đi nữa, thì cái tội ác
tàn phá một thành phố lịch sử là Huế, chính thế hệ chúng ta, thời đại
chúng ta, phải chụi trách nhiệm.
Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có Đoan, một cô bạn học cùng lớp
với tôi ngày nào, đang ngồi trên ghế đại học ở Sàigòn, bỗng về Huế, đeo
băng đỏ nơi tay, dát súng lục bên hong, hâng hái đi lùng người này, bắc
người khác, để trở thành một nữ hung thần trên cơn hấp hối của Huế.
Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có Đắc một sinh viên trẻ trung,
hăng hái. Thời trước Đắc làm thơ, Đắc tranh đấu, rồi bỏ ra khu. Để rồi
trở lại Huế lập những phiên tòa nhân dân, kêu án tử hình hàng loặt
người, rồi đích tay đào một cái hố, bắt một bạn học cũ có xích mích từ
trước ra đứng bên hố, để xử tử. Cậu bạn của Đắc, tên Mậu tý, dơ cái
băng đỏ dấu hiệu giải phóng quân lên cao, lạy van Đắc :
- Em lạy anh. Bây giờ em theo các anh rồi mà. Em có mang băng đỏ rồi
mà. Cách mạng muôn năm... Hồ chủ tịch muôn năm.
Nhưng mặc Mậu Tý năn nỉ, hoan hô, Đắc vẫn nhất định nổ súng vào
người bạn nhỏ.
Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có từng đoàn người, hàng trăm
người, cha có, sư có, già có, con trẻ có, mỗi người cầm một lá cờ trắng
để ra dấu đầu hàng bất cứ phe nào, đi thất thểu trong một thành phố đầy
lửa cháy. Cứ như thế chạy ngược chạy xuôi, cho đến khi gục ngã gần
hết.
Cũng chính trong thời đại chúng ta, ngày thứ hai mươi mấy trong cơn
hấp hối của Huế, đã có một con chó nhỏ kẹt giữa hai lằn đạn, chạy ra
sủa bâng quơ ở bên bờ sông Bến Ngự. Con chó thành mục tiêu đùa rỡn
cho những mũi súng hờm rẵn từ bên kia sông. Họ bắn cho con vật khốn
khổ sợ hãi rơi xuống sông. Rồi lại bắn vào những bờ sông mà con chó
nhỏ đang lóp ngóp bơi vào. Những phát súng đùa cợt không có tình bắn
chết con chó nhỏ, mà chỉ có trêu chọc cho con chó chới với giữa giòng
nước, để có chuyện đùa chơi với máu lửa. Thành phố Huế, và có lẽ cả
quê hương khốn khổ của chúng ta nữa, có khác gì thân phận của con chó
nhỏ đã chới với giữa giồng nước ấy. Thế hệ chúng ta, cái thế hệ ưa
dùng những danh từ đẹp đẽ phô trương nhất, không những chúng ta phải
thắt một giải khăn sô cho Huế, cho quê hương bị tàn phá, mà còn phải
chịu tội với Huế, với quê hương nữa.
Gần hai năm đã qua, hôm nay, nhân ngày giỗ thứ hai của biến cố tàn
phá Huế sắp trở lại, tôi xin viết và xin gửi tới người đọc tập giải khăn sô
cho Huế này như một bó nhang dèn góp giỗ.
Xin mời bạn, chúng ta cùng thấp đèn, châm nhang, chịu tội với quê
hương, với Huế.
Sàigon, năm Dậu.
NHã CA
1
NHỮNG GIỜ ĐẦU TIÊN
Không biết tiếng súng đầu tiên nổ vào giờ khắc nào? Giữa đêm, tôi
đã choàng tỉnh dậy vì tiếng nổ xé toạc cả những giấc mơ vụn.
Vừa kịp lăn xuống khỏi tấm phản gỗ, tai tôi đã ù đi vì những tiếng nổ
ran bốn phía. Chuyện gì vậy? Không biết làm thế nào mà tôi lăn tròn từ
phòng ngoài vào phòng trong. Bàn tay ai kéo tôi giúi vào giữa phòng. Tôi
nằm đè lên da thịt ai non mát. Một tiếng kêu nhỏ tắc nghẽn vào âm thanh
hỗn độn của súng đạn bên ngoài. Khi tôi kịp định tỉnh lại tâm thần thì đứa
cháu nhỏ đã ngồi lên được, nằm gọn gàng trong lòng tôi. "Còn đứa mô
nữa? Vô hết đi. Vô một chỗ.” Tiếng má tôi thì thào. Que diêm tắt phụt
nhưng có ánh nến le lói từ phòng ngoài hắt vào. Ðứa em trai tôi trườn
theo làn ánh sáng mỏng đó, nó ngồi áp vào bên má tôi. “Làm ơn tắt giùm
ngọn nến ngoài bàn thờ đi, tắt luôn cả lư trầm nữa.” Ông anh lớn của tôi
vội vã làm theo lời má tôi, rồi nhảy đại rất nhanh vào ngồi dồn cùng một
đống. Lúc này tôi mới cảm thấy ngột ngạt đến muốn tắt thở vì hơi
người, vì mùi trầm hương và mùi nến khét.
Căn phòng quá chật, lại bị cái giường chiếm mất một nửa. Anh tôi
phải lăn xuống gầm giường. Người này nằm gác lên người kia. Cái bô
để dưới chân giường, thỉnh thoảng bị va chạm, vang những âm thanh rổn
rảng càng khua động thêm nỗi sợ hãi của mọi người.
Nằm im được một lát, hoàn hồn lại, mọi người bắt đầu nghe ngóng.
Tôi dán tai xuống nền gạch. Ðứa cháu gái đã lăn xuống nằm cạnh tôi, hai
tay nó ôm đầu, hai chân nó lọt vào hai chân tôi. Tôi hỏi nhỏ:
- Tina nằm có chật không?
- Không, cô ơi. Tina sợ quá.
- Ðừng có khóc.
Tôi vỗ về đứa cháu. Nhưng cùng lúc đó những tiếng nổ ình ình lại dội
thốc lên. Ðứa cháu bỏ tay, ôm chặt lấy tôi, người nó run cầm cập. Trời
ơi, súng bắn cả sau vườn mình. Tôi nghe tiếng súng đằng sau vườn thật
trong, thật buốt. Thằng em ghé vào tai tôi:
- AK. Thôi, tụi nó về rồi.
Tôi kéo nó:
- Mày nằm xuống đi.
- Không can chi mô chị. Ðể em ngồi.
Cánh cửa sổ bỗng bị bật ra và cứ thế, hai cánh cửa cứ dội mở ra, đóng
ập vào theo những tiếng nổ lớn. Tiếng đạn ở sau vườn bắn thật rát. Má
tôi thì thầm:
- Ðánh tới đồn vận tải.
- Không, đồn trường bia.
- Không, đánh cùng khắp. Con nghe phía vận tải, phía trường bia, phía
ruộng, phía sau đường rầy.
- Suỵt, im đi cho với. Trời ơi. Trời ơi. Trời ơi.
Tiếng trời ơi đất hỡi bỗng nằm ngay trên chót lưỡi. Bầu trời xoẹt lửa
sáng trưng, đất rung chuyển như địa chấn. Lên cơn rồi. Tôi cũng không
thể nằm yên để nghe tiếng dội tức cả ngực được. Tôi muốn ngồi nhổm
dậy để nghe ngóng, nhưng chỗ nằm chật không nhúc nhích được. Ðứa
em họ lúc này cũng chen được một chỗ, hai chân nó chuồi dưới giường,
đầu nó thò ra khỏi một nửa cửa phòng. Nó lại bật diêm, lại có tiếng la
nhỏ: con khỉ, tắt diêm đi. Ngọn diêm tắt phụt. Nhưng trong bóng tối, lúc
này tôi tưởng tượng ra được rồi. Tôi đồng điệu run với mạ tôi, anh tôi,
em gái tôi. Tôi đồng điệu co quắp, cố đè nén sự run rẩy, cố ưỡn tung lên
để tiếng nổ bớt dội ngực. Ðứa em họ tôi nghe ngóng một hồi rồi ngồi
dậy, nó bò ra gian nhà ngoài, chúng tôi nín thở chờ đợi. Chỉ một lát sau, nó
bò vào nói rỉ tai từng người:
- Nó ở đầy sân vườn nhà mình.
- Suỵt.
Lại nhiều tiếng suỵt lọt ra khỏi cửa miệng như một hơi huýt gió nhỏ.
Anh tôi giọng hơi gay gắt:
- Nó bắn như pháo ở bên ngoài, vài tiếng động nhỏ làm sao nghe được.
Rồi anh tiếp:
- Quái gì, nó về đánh đồn trường bia rồi. Lần trước cũng đánh suốt
một đêm, sáng ra là rút hết.
Tôi mừng thầm. Chúng tôi chịu đựng có lẽ đến hai tiếng đồng hồ rồi.
Tôi cố đưa cổ tay lên để nhìn mặt chiếc đồng hồ, nhưng rủi cho tôi, tôi
mang đồng hồ không có kim dạ quang. Và ngoài tôi ra chẳng có ai kịp thì
giờ mang đồng hồ hết. Dù sao chúng tôi cũng hy vọng mong cho trời
sáng. Ông anh tôi không biết sao bỗng trở chứng kêu đau bụng bất thình
lình. Vậy là chiếc bô lại có dịp được dùng tới. Chúng tôi đau khổ vì lát lát
mấy đứa nhỏ đòi đi tiêu, đi tiểu. Lát lát anh tôi lại kêu đau bụng, mà cái
bô thì quá nhỏ. Mọi người vừa nằm vừa run, vừa cố giữ cho chân tay
khỏi lóng ngóng. Tôi cố nghĩ đến một cái gì để dằn cơn sợ hãi, nhưng
không, tôi không nghĩ gì được hết. Ðầu óc tôi vang dội tiếng súng. Tay
chân tôi cứ lật bật run rẩy bất chấp cả sự tự chủ vượt bực của tôi. Có
nhiều lúc ngay cả chân tay, thân thể mình cũng không nghe lời mình nữa.
Nhưng rồi nhờ sự chịu đựng quen dần, tôi bình tĩnh lại được và cơn
run rẩy biến mất. Hình như chúng tôi đã chịu đựng một thời gian khá dài
và bình minh sắp đến. Tôi nghe tiếng rục rịch trong chuồng gà ở đàng sau
tấm vách tường lọt vào nhờ hai cánh cửa sổ đã bật tung cùng với tiếng
súng đạn hỗn loạn. Thái, tên đứa em họ tôi, đã bình tĩnh ngồi dựa vào
tường, và phì phà trên môi điếu thuốc lá lúc nào. Tôi lần tay, nắm chặt
tay nó:
- Thái, liệu có yên được không?
- Em làm răng biết được, cái nớ thì chịu...
Tôi lại hỏi anh tôi, lúc đó đã nằm trên giường vì không chịu nổi sự
chen lấn dưới đất:
- Anh, sáng mai chắc yên há anh?
- Làm răng biết được, anh cũng chịu.
Tôi đâm ra thất vọng ngang. Những ánh lửa xẹt ngang dọc phía ngoài
cửa sổ không còn nữa, nhưng hai cánh cửa vẫn còn bị dội bật ra bật vào
vì những tiếng nổ lớn. Súng to, súng nhỏ đang nổ ran từ mặt quốc lộ, từ
miệt chùa, từ phía sau đường rầy. Căn nhà của chúng tôi nằm đơn lẻ,
chịu đựng bốn mặt đang đánh nhau. Quốc lộ và bờ ruộng ở ngay trước
mặt, đường rầy xe lửa ở đàng sau lưng. Hai phía hai bên, một xéo với
đồn trường bia, một xéo với đồn vận tải An Cựu.
Không thể nằm yên để chờ tới sáng, tôi lại khơi chuyện:
- Sáng ngày yên chắc ra đường dễ sợ lắm!
Thái phà thuốc trúng ngay vào mặt tôi:
- Buồn quá, lúc này có súng đỡ sợ hơn nhiều. Biết vậy tối qua em lên
đơn vị.
- Không biết tới sáng đã yên được chưa?
Tôi hỏi hoài một câu như người ngớ ngẩn: Biết đâu. Mà yên chứ. Sáng
ra mà súng đạn không ngừng thì chết hết.
- Trời ơi, đừng nói, tụi nó trong vườn.
Ðứa em gái của tôi cười nhỏ:
- Má sợ chi mà sợ dữ rứa. Chị Vân, sáng ra chị với em đi thăm trận
đánh nghe. Coi chừng về Sài Gòn viết một phóng sự chiến trường đầu
năm đầy gay cấn.
- Giỡn chi mà giỡn vô hậu tế đợi rứa. Mấy chuyện đó đừng có ham.
Má tôi cằn nhằn. Nhưng chúng tôi đã bớt dần cơn sợ hãi, bắt đầu nói
chuyện được, mà câu chuyện cũng bớt ngớ ngẩn. Lúc này tiếng súng ở
trong vườn đã dịu dần, nhưng xung quanh thì vẫn còn nổ ran. Tôi nằm mà
mắt không rời khỏi cánh cửa sổ phía trên đầu đứa em gái. Tôi nằm chờ,
cho tới khi bầu trời tối mịt bên ngoài kia bị hút bớt màu đen đặc.
Lúc này tôi cần sự bình tĩnh, cần sức mạnh. Tôi mong cho trời sáng thì
trời đã gần sáng rồi. Mấy chiếc lá cây phất phơ bên ngoài cửa sổ đã hiện
lờ mờ, rồi rõ dần. Mấy đứa cháu tôi kêu khát nước. Chúng tôi chờ đợi
cho tiếng súng bớt ồ ạt, Thái mới đi ra ngoài rót một ly nước cho hai đứa
nhỏ. Tiếng súng đã có vẻ thưa hơn, bức màn đêm đã bớt mắc kẹt đạn.
Anh tôi hy vọng hơn ai hết:
- Thái, coi yên súng đem xe Honda ra ngoài, anh muốn lên Từ Ðàm.
Chắc chị và mấy đứa nhỏ sợ ghê lắm.
Gia đình tôi lúc này đang chia làm hai. Chị dâu tôi và mấy đứa nhỏ còn
ở nhà trên đầu dốc Bến Ngự. Nên anh tôi là người lo lắng nhất. Nhưng
chắc không sao. Moị người tự an ủi. Ðến sáng là yên, vậy sáng rồi. Môi
má tôi đã bớt tím, tay chân bà cũng bớt run rẩy. Nhưng nỗi vui mừng của
chúng tôi không được lâu. Ðúng lúc tôi nghe tiếng gà gáy nơi chuồng gà
thì tiếng súng đã bắt đầu nổ lại. Rồi có tiếng đấm cửa rầm rầm, cùng
nhiều tiếng chân chạy ở ngoài sân:
- Mở cửa, mở cửa.
Thôi chết rồi. Chúng nó đã tới. Chúng nó sắp tràn vào nhà. Má tôi mặt
tái xanh, định chạy tới tắt ngọn đèn vừa mới thắp. Tiếng đại bác dưới
Phú Bài bắn lên ầm ầm. Tiếng súng nhỏ nổ chát chúa. Cánh cửa muốn
bật tung vì những tiếng đập. Thái bò ra giữa nhà.
- Suỵt, để con.
Rồi hắn chạy ra mở toang cửa. Có nhiều tiếng quen thuộc la hét bên
ngoài. Cánh cửa vừa mở tung ra, thì cả nhà đầy người. Chú tôi ở phía
dưới đường rầy, sát chân núi Tam Thái, cùng gia đình con dâu với những
gia đình hàng xóm khác chạy túa vào. Trẻ con người lớn chen chúc chật
cả một gian nhà giữa rộng rãi. Mấy đứa nhỏ hoảng sợ quá, ngã vật ra
giữa nhà, có đứa vừa run vừa đái ra quần. Chú tôi vừa khóc vừa kể:
- Sập hết rồi chị ơi. Trên đó bị mọt-chê câu, nhà mụ Nghệ bên cạnh đó
mất nửa cái nhà.
Bé, đứa con trai lớn của chú tôi ôm một lúc hai đứa con nhỏ, vừa thở
vừa nói không ra hơi:
- Tụi nó đông lắm. Trên con đầy nhà rồi bác.
Tôi tò mò:
- Làm sao em chạy xuống được?
- Dân họ chạy xuống dưới này hết. Trên đó mọt-chê câu sập hết nhà
cửa. Chạy giữa đường em thấy Việt cộng tụm năm tụm ba, nó ngồi cả
trước sân nhà người ta.
Chú tôi chợt nhìn quanh rồi hốt hoảng:
- Con Hồng đâu rồi, con Hồng bế thằng Ðiện chạy phía nào rồi. Thôi
chết con tôi cháu tôi...
Chú tôi chưa kịp dứt câu thì đã ngã phịch xuống vì một quả B-40 phạt
xuống mái ngói. Tôi đang há hốc mồm thì gạch vụn đã đầy một miệng.
Cái bô để dưới chân giường không biết bị ai đá vào tràn ra nhà. Tôi vừa
sát người xuống thì đã phát nôn vì một mùi thúi hoắc xông lên tận đầu,
nhưng không còn cách cựa quậy gì nữa. Nhiều đứa trẻ không chịu đựng
nổi ré khóc vang nhà. Nhưng tiếng khóc bị chận ngay vì những bàn tay đã
bịt miệng, hoặc những tràng súng cắt đứt. Trời ơi, đến sáng rồi sao
không yên? Tôi quay quắt hỏi đứa em:
- Lần trước có lâu như vầy không?
- Không, lần trước bắn ít hơn, không có đại bác câu nhiều như thế này.
Sáng ra là nó rút đi hết.
Bé bò lại phía tôi:
- Trời, chị không tưởng nổi mô. Em thấy tụi nó máu me cùng mình. Tụi
nó ngồi bên vườn thím Quyệt, em chạy xuống đây em thấy.
- Thấy mày chạy họ để yên à?
- Tụi họ cũng vừa chạy vừa bắn, mình cũng chạy đại. Ở trên đó chắc
chết quá chị ơi.
Nó vừa nói vừa ôm chặt đứa con gái trong lòng. Vợ nó khóc thảm
thiết:
- Anh coi đi tìm con Hồng với thằng cu Ðiện, không tui chạy ra cho
súng bắn cái đùng cho rồi.
Má tôi gắt:
- Chết đến nơi không lo, ai mượn tụi bây không chạy với nhau.
- Làm răng chạy với nhau được, mạnh ai nấy chạy, tưởng còn sống
đến chừ mô.
Hai vợ chồng nó nín im, nhưng chỉ một giây sau, tôi lại nghe chúng càu
nhàu cãi cọ. Một lát sau tiếng súng lại thưa dần. Bé vội chạy ra sân rồi
mò dần ra đường. Chừng hai mươi phút sau nó trở lại, một tay bế thằng
con.
- Chị...
Bé hạ giọng, tiếp:
- Em đi tìm con Hồng với thằng Cu, em phải đi bằng ngả sau vườn.
Ngang đường rầy em gặp tụi nó, nó hỏi em đi mô rồi bắt giữ em lại.
Chúng nó có ba đứa, một đứa bị thương. Em năn nỉ nói đi tìm con lạc, ban
đầu nhất định nó không cho, nó hỏi em làm nghề gì. Em nói thợ mộc, em
bị lạc con. Về sau nó cho đi. Em tính nếu nó bắt, em liều chết giựt súng.
Một thằng bị thương gần chết, một thằng bị thương nhẹ không cầm
súng được, còn thằng kia ốm yếu hơn em...
Hà, em gái tôi, nạt:
- Thôi, mi đừng có ba hoa, nói phách tấu...
- Em nói thiệt, người ta quân đội mà...
Rồi nó sực nhớ lại đồn trại và đồng đội, nó ngồi buồn hiu. Lát sau thở
dài:
- Lính tráng mà ngồi một xó như ri có nhục không?
Những người xóm trên vào nhà tôi bây giờ mới hoàn hồn lại. Người
vạch vú cho con bú, người bắt đầu kháo chuyện. Mỗi người kể một
chuyện đại để cũng thấy Việt cộng ra sao. Họ kể họ cũng chạy suýt
chết, cũng thấy viên đạn nó to và đỏ rực như đâm vào mặt mà không biết
sao lại không trúng.
Bỗng nhiên vào lúc 8 giờ sáng, tiếng súng như dồn về miệt Phú Cam.
Tiếng đại bác dưới Phú Bài không câu lên nữa. Lúc đó chúng tôi mới lần
ra sân. Vườn cây yên tĩnh không một bóng người, nhưng trên cỏ, trên đất,
còn lấm tấm những vạt máu khô đặc.
Một vài nhánh cây gãy, nơi bờ tre cuối đường ngả ăn thông ra mặt
đường rầy, những cành khô được banh ra, chừa những lối đi gọn. Mấy
chị em chúng tôi hết sức sung sướng hít thở, ai cũng mừng thầm như thế
này là đã yên. Anh tôi chuẩn bị để lên nhà ở Từ Ðàm. Tôi ra cái bể cạn
trước sân múc nước súc miệng, đánh răng. Những người trú ngụ trong
nhà tôi vội vã bồng bế nhau trở về xóm. Chú tôi là người chạy băng ra
khỏi nhà trước tiên. Ông quá lo lắng không biết nhà cửa còn hay đã mất.
Tôi cố nhón gót nhìn lên miệt núi, cũng không thấy được gì. Thái, em tôi,
hỏi:
- Chị nhìn chi rứa?
Tôi thở ra:
- Chắc đêm qua trên núi mồ mả bị chân đạp lung tung, mộ bác mới
chôn.
Mồ mả mới chôn đây là mộ của ba tôi. Từ Sài Gòn, những ngày cuối
năm vợ chồng con cái tôi đang chuẩn bị đầu năm về ăn Tết ở Huế thì tin
ba tôi hấp hối. Leo lên một chiếc máy bay quân sự chở thực phẩm cho
lính ở tiền đồn, tôi về tới vừa kịp những giờ cuối cùng của người cha.
Thái cúi đầu. Nó đi tới bể cạn múc nước. Tiếng má tôi kêu:
- Thái, con đem cái này đổ ra sau vườn.
Anh Lễ tôi đã mặc quần áo xong. Chiếc Honda đã được dựng sẵn. Tôi
nói:
- Cho em lên Từ Ðàm với.
Anh Lễ bảo:
- Ðể coi sao đã. Thấy không yên rồi, ngoài đường vắng tanh vắng
ngắt.
Nhưng lời anh tôi nói chưa dứt thì có nhiều tiếng động ì ầm của xe
chạy vào thành phố ngả quốc lộ. Chúng tôi đứng ở sân nhìn ra. Một đoàn
xe cam nhông chở lính Mỹ và những khẩu đại bác đang từ từ đỗ lại ngoài
đường nối hàng dài. Lính Mỹ nhảy xuống, Thái bật la to:
- Bác ơi, yên rồi, quân Mỹ đã lên. Mình ra đường, mình coi được rồi.
Má tôi kêu:
- Vào nhà hết, vào nhà không nó bắn.
Anh tôi cản:
- Ðứa nào ở đâu cứ ở đó. Ðứng yên đừng có chạy mà nó tưởng Việt
cộng chết hết cả giờ.
Ðoàn lính Mỹ đã xuống xe, tiến vào các khu vườn, nằm bò xuống vệ
đường, lủi xuống phía ruộng. Chỉ một phút sau vườn nhà tôi đã đầy lính
Mỹ.
Một vài người lính Mỹ nhìn chúng tôi dò chừng rồi lủi ra phía vườn
gườm súng chĩa vào các bụi cây trước khi băng qua vườn khác. Không có
gì xảy ra hết. Tình hình hoàn toàn yên tĩnh. Chúng tôi đi vào nhà ngồi yên
ở tấm ngựa gỗ. Ra đường lúc này nguy hiểm. Ai cũng nghĩ thế. Có lẽ
lính Mỹ đang đi lùng Việt cộng đây. Chúng tôi im lặng ngồi nhìn nhau,
hồi hộp chờ đợi. Hai người lính Mỹ đi ngang qua sân, hờm súng vào trong
nhà. Chúng tôi cố giữ vẻ mặt thật thản nhiên. Má tôi còn có vẻ cố gắng
làm ra vui mừng nữa. Hai người lính Mỹ dừng lại, rồi đưa mắt cho nhau,
đi vào bậc thềm, hất hàm ra hiệu cho chúng tôi ra đứng ở cửa hết. Một
người lính Mỹ nói hai tiếng gì đó không phải tiếng Mỹ.
Chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau, người lính Mỹ lộ vẻ tức giận, nạt lớn:
- Kên cượt.
Anh tôi hỏi một câu tiếng Anh, nhưng người Mỹ vẫn la:
- Kên cượt.
Má tôi là người hiểu ra đầu tiên, bà nói lớn:
- Ông Mỹ hỏi thẻ căn cước.
Người lính Mỹ gật đầu. Người đi cùng chỉ súng thẳng vào người
chúng tôi. Chúng tôi trình thẻ căn cước. Khi tôi đưa tấm thẻ của cơ quan
VOF (Voice of Freedom) thì người lính Mỹ gật đầu và khuyên chúng tôi
trong lúc này nên ở yên trong nhà. Trả thẻ lại, một người trọ trẹ nói tiếng
Việt cám ơn, rồi đi ra phía vườn. Chúng tôi chưa kịp ngồi xuống tấm
ngựa gỗ đã nghe mấy tiếng nổ lớn. Thái quen với súng đạn, kêu lên:
- Thôi, B-40 của Việt cộng rồi.
Tiếng B-40 từ phía núi, từ phía đường rầy bắn ra như mưa. Phía ngoài
đường, những xe thiết giáp mang súng cối 40 ly bắn trả lại kịch liệt.
Từng mảnh ngói bị sức ép, hoặc trúng sướt lằn đạn rơi tứ tung lên đầu
lên cổ. Cả nhà lại chui vào phòng trong. Cùng lúc đó những tiếng la khác
nổi lên như ri ở miệt ngoài đường. Cái gì vậy? Thái muốn chạy ra trước
tiên. Má tôi nắm áo giữ riệt nó lại, nhưng Thái cứ van nài mãi. Cuối cùng
hắn ló ra cửa, thụt lui thụt tới vì những tiếng súng bắn đi trả lại cứ vèo
vèo ngang qua mái nhà. Ầm. Ầm. Vài thân cây lớn ở ngoài vườn đổ
xuống. Chúng tôi ai nấy nằm sát xuống đất, buông trôi cho sự may rủi.
Lần này chắc chết quá. Cầu nguyện đi. Tiếng la khóc ở vườn bên, ở
trước mặt càng lúc càng thảm thiết. Rồi tiếng kêu chết kêu cháy vang
lên.
Mấy người lính Mỹ đang núp ở vườn sau vội chạy ra đường phía có
tiếng kêu khóc. Lúc này đạn bắn đi cứ như mưa, tiếng B-40 yếu dần rồi
tắt luôn. Tiếng kêu khóc đã nghe rõ mồn một. Chúng tôi không ai bảo ai
cùng một lượt chạy ra sân. Căn vườn mé mặt trước, đang có căn nhà bốc
cháy và lính Mỹ đang cố dập tắt lửa. Lúc này tôi mới hoàn hồn lại chút ít.
Má tôi lo sợ không biết lửa có lan sang căn nhà thờ của chúng tôi không.
Bà hét gọi mấy đứa cháu lo gói đồ lại, có gì còn mang ra được chút của
cải. Trong tiếng lửa nổ lốp đốp, trong âm thanh ồn ào của những tràng
tiểu liên bắn ran khắp các miệt vườn, tiếng khóc nổi lên thảm thiết: Dì
ơi, dượng ơi, má tui chết rồi. Ai cứu cho với. Tiếng kêu, tiếng khóc,
tiếng chân hàng xóm chạy thình thịch bất chấp cả súng đạn. Má tôi lùa
chúng tôi vào nhà. Thái được cử sang chữa lửa. Mấy người lính Mỹ đi
vòng lại, qua sân nhà, nhìn vào. Người Mỹ soát giấy chúng tôi lúc nãy
đưa mấy ngón tay và nói một câu tiếng Việt bập bẹ đại ý báo cho biết
ngoài đó có mấy người chết.
Xong rồi họ ra xe, đoàn xe rồ máy chạy vào thành phố, nhưng chỉ mấy
phút sau, có lẽ xe chưa kịp qua khoảng cầu An Cựu, thì chúng tôi nghe
miệt cầu đủ thứ súng nổ dữ dội. Một lát, đoàn xe Mỹ ầm ầm rút lui,
không còn kiêng nể gì nữa, cứ bắn như mưa dọc hai bên đường. Nhưng
lần này, xe trở về rất ít, hình như chỉ có đoàn xe đi sau. Có lẽ những
chiếc xe này về chở thêm súng đạn, và đoàn xe đi trước đã lọt ổ phục
kích.
Tiếng súng ở mạn cầu đã thưa thớt dần.
Chừng mười lăm phút sau, khi nhìn ra đường, chúng tôi thấy có một
đoàn người mặc quần áo màu vàng, vai vác súng đi đầu trần. Tôi lật đật
ra sân: Thôi đúng rồi, họ rút đi, và lính mình về. Tôi mừng rỡ như điên
định đưa tay vẫy thì chợt nhận ra nơi hông họ đeo cái bị rết. Lính quốc
gia thì mang ba lô chứ. Tôi sững lại. Ðoàn người cũng không đông lắm,
chỉ chừng vài chục người.
Thái lúc này mới thấy sợ hãi:
- Thôi chết em rồi. Họ vào biết em là cán bộ xây dựng nông thôn thì
không cách gì sống nổi.
Tôi bảo nó đưa giấy tờ cho tôi giữ. Tôi cẩn thận bỏ giấy tờ của nó
trong cái túi áo rồi xếp gọn đặt giữa mớ quần áo đang gói ngổn ngang
trong một tấm drap lớn. Anh tôi cố tin tưởng:
- Anh nhà giáo chắc không can chi. Nếu họ hỏi em, em nói em là học
sinh nghe.
Thái dạ nhưng nghe chừng yếu xìu. Gia đình Bé lại lật đật dọn xuống.
Mấy bao bố đựng gạo, áo quần, mấy cái soong. Chú tôi không đi, má tôi
kêu trời kêu đất, nhưng tụi em tôi bảo chú ở lại giữ nhà. Trên đó đã có cái
hầm cũ làm sau vụ pháo kích lần trước. Má tôi không tin tưởng vào cái
hầm đó lắm. Bà bắt Bé đi gọi ông xuống nhà, nhưng Bé vừa đi một lát,
đã hớt ha hớt hải quay lại:
- Bác ui, họ về đông như kiến. Họ đang họp ngoài nghẹo, họ treo cờ,
họ hô hào. Họ lấy hết Huế rồi. Người ta bảo bên Phú Văn Lâu treo cái
cờ gì to thục lúc. Con vừa tới thấy họ đang bắc loa gọi, con lủi nhanh vào
vườn Bác Ái lủi về, may mà họ không thấy.
Tôi hỏi có ai bị thương không, Bé nói là thấy họ đông lắm, sáng thấy
có người bị thương, chừ đem đâu hết rồi. Má tôi nói liệu có di tản lên Từ
Ðàm được không thì Bé cho biết là đường sá họ gác hết rồi, góc nào cũng
có người đứng gác. Tôi hỏi đi hỏi lại là mày có thấy tận mắt không, nó
bực mình: “Thì thấy mới chạy thục mạng về đây. Ðồn vận tải thấy vắng
teo như không có người ở, tường thành gì cũng đổ nát hết...
Lúc đó khoảng mười một giờ. Chúng tôi hết đứng lại ngồi, lóng ngóng
nhìn ra đường. Lát lát má tôi sai một đứa cháu ra nhìn xem có ai đi lại
không. Nhưng đường xá vắng ngắt. Mấy lần nó định đi lần về phía
nghẹo đường xay, nhưng không đủ can đảm lê bước tới đó. Lúc này nó
đã nhìn thấy ở đó treo một lá cờ VC. Nó trở vào mặt mày rầu rỉ:
- Trời lính mà ai cũng như tui thì Huế mất là phải. Biết vậy đừng có
về cho xong. Ðã nghe lịnh cấm trại rồi mà còn về.
Bé buồn cũng phải. Ðáng nhẽ ra dù Huế còn hay mất nó cũng phải có
mặt với anh em. Nhưng ba tôi chết cuối năm, Bé được giấy phép mấy
ngày đầu năm để lo việc nhà. Lúc này, đèn đuốc trên bàn thờ ba tôi lại
sáng trưng, mỗi đứa chúng tôi đều thắp hương và cầu nguyện. Ðây là căn
nhà thờ duy nhất của dòng họ tôi mà phải suốt cả một đời lăn lộn cực
khổ làm ăn lương thiện, ba tôi mới gầy dựng nổi. Căn nhà chưa tu bổ thì
ba tôi đã có một chỗ ngồi trong căn nhà thờ này. Súng đạn đêm qua và
sáng nay đã nhân đức với căn nhà thờ của dòng họ chúng tôi ngoài mức
tưởng tượng.
Rồi chúng tôi cũng còn lo ăn nữa. Bữa cơm trưa được nấu vội vàng
nhưng không có đồ ăn. Ngày cuối năm thì xong việc đám ma. Ðến ngày
mồng một gia đình tôi nguyện ăn chay để cầu nguyện cho người chết.
Ðáng nhẽ phải ăn Tết ở ngôi nhà anh Lễ tôi ở Từ Ðàm, chúng tôi, kể cả
anh Lễ, má tôi, cô em gái, mấy đứa cháu nhỏ, cùng mấy đứa em con chú
đã tình nguyện ở lại để cầu kinh. Căn nhà thờ chứ không phải là nơi để
ở nên thiếu thốn đủ thứ. Chúng tôi phải nạy cửa nhà ngang, xuống căn
nhà phụ cho ông giáo Trường An Cựu thuê, vợ chồng họ về quê ăn Tết,
để lấy chén bát và tìm đồ gia vị như nước mắm, muối ớt. Khổ là vì
không định ở đây, chúng tôi không tích trữ gạo. Lúc này đã không còn
nghe tiếng súng, hoặc có thì cũng chỉ là tiếng súng nhỏ vọng xa xa, ở một
miệt nào đó. Như thế là nghĩa lý gì? Không có một chiếc máy bay, không
có một chiếc xe chạy.
Ðoàn xe Mỹ đã vào tới thành phố tan biến đi ngả nào. Những Việt
cộng vừa tụ họp tại nghẹo Hàng Xay bỗng tản đi đâu hết. Tại sao chú tôi
ở xóm trên chỉ cách một con đường rầy, mấy cái vườn, cũng không
xuống được. Lâu lâu lại thấy một đoàn người đi đâu ngoài đường phía
dưới quốc lộ, vào thành phố. Căn nhà thờ của chúng tôi nằm ở An Cựu,
sát ngoại ô, lại ngay đường quốc lộ nối Phú Bài với Huế.
Trong thành phố Huế lúc này ra sao, chúng tôi không tài nào đoán nổi.
Cả nhà hợp nhau lại sửa căn hầm cũ dưới nhà bếp. Tiếng súng càng về
chiều càng dữ dội. Ngoài đường bỗng vắng tanh. Ở nhà bếp, nhà trên,
dân trong xóm đến tỵ nạn nằm la liệt mấy căn buồng nhỏ được che hai
ba mặt tường. Má tôi sai đứa cháu dâu nhóm bếp nấu một nồi cháo, chắc
chẳng ai còn lòng dạ nào ngồi ăn cơm chiều. Nhưng nồi cháo nấu vừa
chín tới thì Thái đã nhìn thấy có người đi lại ở ngoài đường. Mặc kệ
tiếng súng đang nổ ran mọi phía, mặc kệ bom đạn có thể nổ ngay trên
đầu mình, cả nhà chúng tôi tràn ra sân, rồi ra đường cái. Một hai người
đạp xe từ phía cầu An Cựu đi lui đi tới, Thái vẫy lại hỏi: “Ngoài nớ có ai
đi không?” “Người ta tản cư qua bên sông hết.” Má tôi la lớn:
- Lên Bến Ngự Từ Ðàm được không?
- Chắc được.
Nghe tiếng “chắc được” thôi mà cả gia đình tôi cũng tràn trề hy vọng.
Mấy đứa cháu giục phải di tản qua bên kia sông hoặc lên Từ Ðàm chứ ở
đây chắc chết hết. Việt cộng đã về đóng kín hết mọi nhà, mọi đường
phố. Nhà chúng tôi lại nằm ngay giữa hai cái đồn và ngọn đồi Thánh Giá
nằm ngay phía đàng sau lưng. Nếu xáp lá cà ở đây một trận chắc cả làng
An Cựu ra tro hết. Má tôi vơ vội một ít quần áo của ba tôi những thứ còn
bỏ lại, không đem liệm cho người chết. Bà gói lại cẩn thận. Gia đình
mấy đứa em họ tôi thì lo gánh gạo, quần áo, nồi chảo và những dụng cụ
cần thiết. Tôi xách cái ví tay, cái xách nhỏ. Anh tôi dắt chiếc Honda chở
em gái tôi với hai đứa cháu đi trước. Tới gần cầu An Cựu, má tôi nói anh
cứ đi trước đi, chở con và em lên rồi trở lại đón từng người bằng xe cho
mau. Thái lấy chiếc xe đạp tìm đường sang phố. Chúng tôi chia tay ở
trước đồn vận tải. Từng đoàn người cắm cúi lật đật, bồng bế, xách gói
chạy qua phía cầu. Chúng tôi theo họ nhưng tới cầu cả bọn không được
đi về phía Tân Lăng, Phú Cam mà cứ bị xua lại cầu. Lúc chúng tôi chạy
tới, một trong hai người đàn ông gác cầu đưa tay chận lại:
- Ði đâu, bà con ai ở yên trong nhà, không được chạy.
Tôi đứng sững đàng sau lưng má tôi. Hai người đàn ông mặc quần áo
ka ki vàng, nhưng chân đi dép. Không phải là lính quốc gia rồi; chắc họ là
quân giải phóng. Tôi nhìn sững họ không nói được một câu, miệng tôi
cứng lại. Má tôi nói như muốn khóc:
- Nhà cửa sập rồi mấy ông ơi, còn chi mà ở. Tui sang nhà bà con bên
kia sông.
Lúc đó tôi không còn thấy bóng em tôi chở em gái và cháu tôi đâu nữa.
Tôi nghĩ là anh đã đi thoát rồi. Hai người lính vẫy cho chúng tôi qua cầu.
Mấy vũng máu đọng giữa cầu chưa khô, ruồi nhặng bu đen xì. Chỉ một
đoạn đường ngắn mà tôi nhìn thấy biết bao nhiêu dép, giày vớ, quần áo
rách, bị rết, ba lô văng bừa bãi, dính lẫn với máu và những mảnh thịt.
Má tôi bảo qua cầu rồi cứ đi dọc bờ sông tìm đường lên căn nhà ở Từ
Ðàm. Nhưng đi được một đoạn, chúng tôi thấy những người đi trước lúp
xúp chạy trở lại, vừa chạy vừa khóc. Chúng tôi hỏi họ không nói ra
được, cứ làm dấu vẫy lui. Tôi chận một cô nhỏ:
- Sao trở lui vậy em?
- Trên nớ, nơi cầu Phủ Cam họ đứng đầy, họ gác, họ đuổi lui.
- Cứ đi tràn không được à?
- Họ bắn hai ba người.
Má tôi níu chúng tôi lại. Mấy đứa em tôi cũng hốt hoảng bảo vợ con
tất tưởi đi lui. Chúng là lính gặp họ chắc không ổn rồi.
Không hiểu nhờ phép lạ nào mà khi qua cầu họ không hỏi tỉ mỉ. Khi
má tôi xin qua cầu được, cả đoàn cứ nối đuôi nhau mà chạy. Cũng có lẽ
họ còn bận với những đoàn người đi sau.
Qua được cầu rồi, lúc này tôi mới dám nhìn hai bên đường phố. Chợ
An Cựu như một bãi chiến trường, máu còn chưa khô, máu in đỏ trên
những bức tường loang lổ vết đạn. Một chiếc xe tăng lủi vào lề đường
đâm vào một căn phố, tấm bảng hiệu còn treo lủng lẳng. Hai ba căn phố
không còn hình dáng gì. Không một căn nhà trước đường nào còn nguyên.
Giữa đường đầy rẫy chướng ngại vật, máu me, quần áo, rác, sắt vụn, gỗ
ván. Chúng tôi len lỏi mà đi. Không một đôi mắt nhìn ra cửa, những căn
nhà như đã hoang vắng hết. Không còn biết đâu yên mà chạy tới nữa.
Thôi cứ liều, má tôi nói liều mà tìm đường lên Từ Ðàm, gia đình họp lại
sống chết có nhau. Chúng tôi đi hết con đường ngắn, dọc xuống Lê Lợi.
Con đường đàng trước mặt dẫn sang nhà bưu điện và cầu Tràng Tiền sao
vắng ngắt. Tiếng súng ở mặt nhà dây thép nổ như bắp rang. Ðoàn người
này đi tới, đoàn người kia chạy lui, không kịp nghe nhau trả lời, cứ thế,
chạy loanh quanh trong những khu vực chưa bị kiểm soát. Cuối cùng
chúng tôi dồn vào khu nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế.
Không còn chạy đi đâu được nữa, phía trước mặt người ta đã chạy lui
lại hết. Phía đàng sau cũng không còn đường trở lui. Má tôi kêu trời kêu
đất. Anh tôi đã mất tăm dạng. Ngoài đường thưa người dần và nhiều
tiếng súng gần tới nơi. Mọi người chạy ào vào bên t...
 





