BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU SỐ THƯ VIỆN TIỂU HỌC VÂN THÊ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    KehoachbaidayDaoducLop3BosachKetnoitrithuc2022tieuhocvn.jpg TiengViet4KetnoiTuan5Bai9Tiet3LuyentuvacauDongtuTrang41.jpg ClipartKey_135275.png TiengViet4KetnoiTuan29Bai20Tiet12ChieungoaioTrang93.jpg Toan5KetnoiBai9LuyentapchungTiet3Trang31.jpg ClipartKey_191402.png TiengViet4KetnoiTuan7Bai16Tiet1va2TruocngayxaqueTrang66.jpg TiengViet3KetnoiTuan5Bai9DocDihocvuisaotrang43.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai6Tiet12DocNghesitrongTrang26.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai5Tiet1DocthanlanxanhvatackeTrang23.jpg TiengViet3KetnoiTuan3Bai6Tiet1Doc_NhatkitapboiTrang26.jpg Motvaibienphaptochuctrochoihoctaptrongmondaoduclop2.jpg Thumbnail_Ca_chua.png GiaoantrinhchieuMonToan2Hocki1Bosachcanhdieu.jpg KHOANG_SAN_VN.jpg VietNamtrongDNA.jpg Download_2.png Screenshot_1309.png 35_Phieu_Bai_tap_cuoi_tuan_Mon_Toan_Lop_2_Bo_sach_Canh_dieu.jpg

    Sách Nói] Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn - Chương 1

    GIIA KHAN SO CHO HUE

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Thúy Hằng
    Ngày gửi: 08h:16' 14-04-2024
    Dung lượng: 2.0 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    ---❊ ❖ ❊--GIẢI KHĂN SÔ CHO HUẾ
    Tác giả: Nhã Ca
    Hồi kí
    Nguồn text: Internet
    Đóng ebook: Cùi Bắp

    TỰA NHỎ : VIẾT ĐỂ CHỊU TỘI

    Tôi được sinh ra ở Huế, lớn lên với Huế, nhưng khi trưởng thành, đã
    rời gia đình, bỏ thành phố và ra đi biền biệt.
    Hồi trước Tết Mậu thân, hôm 23 tháng chạp năm mùi, đang cùng
    chồng con cúng ông táo, tôi bỗng nhận được điện tín từ Huế : về ngay,
    ba hấp hối.
    Với một gói hành lý vội vàng, đứa con hư hỏng của gia đình và thành
    phố là tôi, đã trở lại Huế để chụi tang người cha thân yêu. Và rồi như
    bao người khác, đã phải chịu luôn cái tang lớn cho cả thành phố, khi biến
    cố tết Mậu Thân bùng nổ.
    Sau cả tháng dài lạn lọn trong địa ngục Huế, khi sống sót trở về
    Sàigòn, tôi đã thao thức mãi về việc phải thất một giải khăn sô cho Huế,
    phải viết một hồi ký về những ngày giờ hấp hối của Huế. Nhưng thời sự
    những ngày sau biến cố Tế Mậu Thân ồn ào quá, bên cạnh cơn khóc than
    vật vã của Huế, người ta còn bận bịu với việc khai thác những chi tiết ly
    kỳ của chiến cuộc, những thành tích chiến thắng trên tro tàn, thật chưa
    phải là lúc viết ra những sót sa, tủi nhục, tuy tầm thường nhất, nhưng
    cũng lại là sâu sác nhất của một thành phố hấp hói.
    Chính vì vậy mà sau khi phác họa một vài nét đại cương trên nhật báo
    Sông hồi ấy, mặc dù được tòa soạn yêu cầu tiếp tục và sau đó được
    nhiều nhà xuất bản thúc dục, tôi cũng đã cố gắng ngưng lại. Phải ngưng
    lại, để nếu không nghiền ngẫm được kỹ hơn, thì ít ra cũng tách rời được
    khỏi những hậu ý xô bồ của thời cuộc, để chờ đợi một giây phút yên lặng
    hơn, trầm tĩnh hơn, khi viết về Huế.
    Cái thời gian chờ đợi ấy, đến nay, đã gần hai năm qua, Hai năm, hài
    cốt cả chục ngàn dân Huế bị tàn sát, vùi nông ở bờ bụi, vứt bỏ xuống
    đáy sông đáy suối, đã được thu nhặt dần. Những nấm mồ tập thể đã tạm
    thời xanh cỏ. Những nền nhà đổ nát đã tạm thời dựng lại. Cơn khóc than

    vật vã của Huế, những tiếng nói xô bồ về Huế, như vậy, cũng đã bớt ồn
    ào.
    Đây, chính là lúc chúng ta có thể cùng nhau chít lại giải khăn sô, đốt
    lại nén hương nhỏ trong đêm tối mênh mông của chiến tranh và tang tóc,
    để hồi tưởng về Huế.
    Có nhiều loạt súng đạn, nhiều loại tang tóc, đã nổ và đã tàn phá Huế.
    Công trình ấy không biết từ đâu, nhưng dù do đâu đi nữa, thì cái tội ác
    tàn phá một thành phố lịch sử là Huế, chính thế hệ chúng ta, thời đại
    chúng ta, phải chụi trách nhiệm.
    Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có Đoan, một cô bạn học cùng lớp
    với tôi ngày nào, đang ngồi trên ghế đại học ở Sàigòn, bỗng về Huế, đeo
    băng đỏ nơi tay, dát súng lục bên hong, hâng hái đi lùng người này, bắc
    người khác, để trở thành một nữ hung thần trên cơn hấp hối của Huế.
    Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có Đắc một sinh viên trẻ trung,
    hăng hái. Thời trước Đắc làm thơ, Đắc tranh đấu, rồi bỏ ra khu. Để rồi
    trở lại Huế lập những phiên tòa nhân dân, kêu án tử hình hàng loặt
    người, rồi đích tay đào một cái hố, bắt một bạn học cũ có xích mích từ
    trước ra đứng bên hố, để xử tử. Cậu bạn của Đắc, tên Mậu tý, dơ cái
    băng đỏ dấu hiệu giải phóng quân lên cao, lạy van Đắc :
    - Em lạy anh. Bây giờ em theo các anh rồi mà. Em có mang băng đỏ rồi
    mà. Cách mạng muôn năm... Hồ chủ tịch muôn năm.
    Nhưng mặc Mậu Tý năn nỉ, hoan hô, Đắc vẫn nhất định nổ súng vào
    người bạn nhỏ.
    Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có từng đoàn người, hàng trăm
    người, cha có, sư có, già có, con trẻ có, mỗi người cầm một lá cờ trắng
    để ra dấu đầu hàng bất cứ phe nào, đi thất thểu trong một thành phố đầy
    lửa cháy. Cứ như thế chạy ngược chạy xuôi, cho đến khi gục ngã gần
    hết.

    Cũng chính trong thời đại chúng ta, ngày thứ hai mươi mấy trong cơn
    hấp hối của Huế, đã có một con chó nhỏ kẹt giữa hai lằn đạn, chạy ra
    sủa bâng quơ ở bên bờ sông Bến Ngự. Con chó thành mục tiêu đùa rỡn
    cho những mũi súng hờm rẵn từ bên kia sông. Họ bắn cho con vật khốn
    khổ sợ hãi rơi xuống sông. Rồi lại bắn vào những bờ sông mà con chó
    nhỏ đang lóp ngóp bơi vào. Những phát súng đùa cợt không có tình bắn
    chết con chó nhỏ, mà chỉ có trêu chọc cho con chó chới với giữa giòng
    nước, để có chuyện đùa chơi với máu lửa. Thành phố Huế, và có lẽ cả
    quê hương khốn khổ của chúng ta nữa, có khác gì thân phận của con chó
    nhỏ đã chới với giữa giồng nước ấy. Thế hệ chúng ta, cái thế hệ ưa
    dùng những danh từ đẹp đẽ phô trương nhất, không những chúng ta phải
    thắt một giải khăn sô cho Huế, cho quê hương bị tàn phá, mà còn phải
    chịu tội với Huế, với quê hương nữa.
    Gần hai năm đã qua, hôm nay, nhân ngày giỗ thứ hai của biến cố tàn
    phá Huế sắp trở lại, tôi xin viết và xin gửi tới người đọc tập giải khăn sô
    cho Huế này như một bó nhang dèn góp giỗ.
    Xin mời bạn, chúng ta cùng thấp đèn, châm nhang, chịu tội với quê
    hương, với Huế.
    Sàigon, năm Dậu.
    NHã CA

    1

    NHỮNG GIỜ ĐẦU TIÊN

    Không biết tiếng súng đầu tiên nổ vào giờ khắc nào? Giữa đêm, tôi
    đã choàng tỉnh dậy vì tiếng nổ xé toạc cả những giấc mơ vụn.
    Vừa kịp lăn xuống khỏi tấm phản gỗ, tai tôi đã ù đi vì những tiếng nổ
    ran bốn phía. Chuyện gì vậy? Không biết làm thế nào mà tôi lăn tròn từ
    phòng ngoài vào phòng trong. Bàn tay ai kéo tôi giúi vào giữa phòng. Tôi
    nằm đè lên da thịt ai non mát. Một tiếng kêu nhỏ tắc nghẽn vào âm thanh
    hỗn độn của súng đạn bên ngoài. Khi tôi kịp định tỉnh lại tâm thần thì đứa
    cháu nhỏ đã ngồi lên được, nằm gọn gàng trong lòng tôi. "Còn đứa mô
    nữa? Vô hết đi. Vô một chỗ.” Tiếng má tôi thì thào. Que diêm tắt phụt
    nhưng có ánh nến le lói từ phòng ngoài hắt vào. Ðứa em trai tôi trườn
    theo làn ánh sáng mỏng đó, nó ngồi áp vào bên má tôi. “Làm ơn tắt giùm
    ngọn nến ngoài bàn thờ đi, tắt luôn cả lư trầm nữa.” Ông anh lớn của tôi
    vội vã làm theo lời má tôi, rồi nhảy đại rất nhanh vào ngồi dồn cùng một
    đống. Lúc này tôi mới cảm thấy ngột ngạt đến muốn tắt thở vì hơi
    người, vì mùi trầm hương và mùi nến khét.
    Căn phòng quá chật, lại bị cái giường chiếm mất một nửa. Anh tôi
    phải lăn xuống gầm giường. Người này nằm gác lên người kia. Cái bô

    để dưới chân giường, thỉnh thoảng bị va chạm, vang những âm thanh rổn
    rảng càng khua động thêm nỗi sợ hãi của mọi người.
    Nằm im được một lát, hoàn hồn lại, mọi người bắt đầu nghe ngóng.
    Tôi dán tai xuống nền gạch. Ðứa cháu gái đã lăn xuống nằm cạnh tôi, hai
    tay nó ôm đầu, hai chân nó lọt vào hai chân tôi. Tôi hỏi nhỏ:
    - Tina nằm có chật không?
    - Không, cô ơi. Tina sợ quá.
    - Ðừng có khóc.
    Tôi vỗ về đứa cháu. Nhưng cùng lúc đó những tiếng nổ ình ình lại dội
    thốc lên. Ðứa cháu bỏ tay, ôm chặt lấy tôi, người nó run cầm cập. Trời
    ơi, súng bắn cả sau vườn mình. Tôi nghe tiếng súng đằng sau vườn thật
    trong, thật buốt. Thằng em ghé vào tai tôi:
    - AK. Thôi, tụi nó về rồi.
    Tôi kéo nó:
    - Mày nằm xuống đi.
    - Không can chi mô chị. Ðể em ngồi.
    Cánh cửa sổ bỗng bị bật ra và cứ thế, hai cánh cửa cứ dội mở ra, đóng
    ập vào theo những tiếng nổ lớn. Tiếng đạn ở sau vườn bắn thật rát. Má
    tôi thì thầm:
    - Ðánh tới đồn vận tải.
    - Không, đồn trường bia.
    - Không, đánh cùng khắp. Con nghe phía vận tải, phía trường bia, phía
    ruộng, phía sau đường rầy.
    - Suỵt, im đi cho với. Trời ơi. Trời ơi. Trời ơi.

    Tiếng trời ơi đất hỡi bỗng nằm ngay trên chót lưỡi. Bầu trời xoẹt lửa
    sáng trưng, đất rung chuyển như địa chấn. Lên cơn rồi. Tôi cũng không
    thể nằm yên để nghe tiếng dội tức cả ngực được. Tôi muốn ngồi nhổm
    dậy để nghe ngóng, nhưng chỗ nằm chật không nhúc nhích được. Ðứa
    em họ lúc này cũng chen được một chỗ, hai chân nó chuồi dưới giường,
    đầu nó thò ra khỏi một nửa cửa phòng. Nó lại bật diêm, lại có tiếng la
    nhỏ: con khỉ, tắt diêm đi. Ngọn diêm tắt phụt. Nhưng trong bóng tối, lúc
    này tôi tưởng tượng ra được rồi. Tôi đồng điệu run với mạ tôi, anh tôi,
    em gái tôi. Tôi đồng điệu co quắp, cố đè nén sự run rẩy, cố ưỡn tung lên
    để tiếng nổ bớt dội ngực. Ðứa em họ tôi nghe ngóng một hồi rồi ngồi
    dậy, nó bò ra gian nhà ngoài, chúng tôi nín thở chờ đợi. Chỉ một lát sau, nó
    bò vào nói rỉ tai từng người:
    - Nó ở đầy sân vườn nhà mình.
    - Suỵt.
    Lại nhiều tiếng suỵt lọt ra khỏi cửa miệng như một hơi huýt gió nhỏ.
    Anh tôi giọng hơi gay gắt:
    - Nó bắn như pháo ở bên ngoài, vài tiếng động nhỏ làm sao nghe được.
    Rồi anh tiếp:
    - Quái gì, nó về đánh đồn trường bia rồi. Lần trước cũng đánh suốt
    một đêm, sáng ra là rút hết.
    Tôi mừng thầm. Chúng tôi chịu đựng có lẽ đến hai tiếng đồng hồ rồi.
    Tôi cố đưa cổ tay lên để nhìn mặt chiếc đồng hồ, nhưng rủi cho tôi, tôi
    mang đồng hồ không có kim dạ quang. Và ngoài tôi ra chẳng có ai kịp thì
    giờ mang đồng hồ hết. Dù sao chúng tôi cũng hy vọng mong cho trời
    sáng. Ông anh tôi không biết sao bỗng trở chứng kêu đau bụng bất thình
    lình. Vậy là chiếc bô lại có dịp được dùng tới. Chúng tôi đau khổ vì lát lát
    mấy đứa nhỏ đòi đi tiêu, đi tiểu. Lát lát anh tôi lại kêu đau bụng, mà cái
    bô thì quá nhỏ. Mọi người vừa nằm vừa run, vừa cố giữ cho chân tay
    khỏi lóng ngóng. Tôi cố nghĩ đến một cái gì để dằn cơn sợ hãi, nhưng

    không, tôi không nghĩ gì được hết. Ðầu óc tôi vang dội tiếng súng. Tay
    chân tôi cứ lật bật run rẩy bất chấp cả sự tự chủ vượt bực của tôi. Có
    nhiều lúc ngay cả chân tay, thân thể mình cũng không nghe lời mình nữa.
    Nhưng rồi nhờ sự chịu đựng quen dần, tôi bình tĩnh lại được và cơn
    run rẩy biến mất. Hình như chúng tôi đã chịu đựng một thời gian khá dài
    và bình minh sắp đến. Tôi nghe tiếng rục rịch trong chuồng gà ở đàng sau
    tấm vách tường lọt vào nhờ hai cánh cửa sổ đã bật tung cùng với tiếng
    súng đạn hỗn loạn. Thái, tên đứa em họ tôi, đã bình tĩnh ngồi dựa vào
    tường, và phì phà trên môi điếu thuốc lá lúc nào. Tôi lần tay, nắm chặt
    tay nó:
    - Thái, liệu có yên được không?
    - Em làm răng biết được, cái nớ thì chịu...
    Tôi lại hỏi anh tôi, lúc đó đã nằm trên giường vì không chịu nổi sự
    chen lấn dưới đất:
    - Anh, sáng mai chắc yên há anh?
    - Làm răng biết được, anh cũng chịu.
    Tôi đâm ra thất vọng ngang. Những ánh lửa xẹt ngang dọc phía ngoài
    cửa sổ không còn nữa, nhưng hai cánh cửa vẫn còn bị dội bật ra bật vào
    vì những tiếng nổ lớn. Súng to, súng nhỏ đang nổ ran từ mặt quốc lộ, từ
    miệt chùa, từ phía sau đường rầy. Căn nhà của chúng tôi nằm đơn lẻ,
    chịu đựng bốn mặt đang đánh nhau. Quốc lộ và bờ ruộng ở ngay trước
    mặt, đường rầy xe lửa ở đàng sau lưng. Hai phía hai bên, một xéo với
    đồn trường bia, một xéo với đồn vận tải An Cựu.
    Không thể nằm yên để chờ tới sáng, tôi lại khơi chuyện:
    - Sáng ngày yên chắc ra đường dễ sợ lắm!
    Thái phà thuốc trúng ngay vào mặt tôi:

    - Buồn quá, lúc này có súng đỡ sợ hơn nhiều. Biết vậy tối qua em lên
    đơn vị.
    - Không biết tới sáng đã yên được chưa?
    Tôi hỏi hoài một câu như người ngớ ngẩn: Biết đâu. Mà yên chứ. Sáng
    ra mà súng đạn không ngừng thì chết hết.
    - Trời ơi, đừng nói, tụi nó trong vườn.
    Ðứa em gái của tôi cười nhỏ:
    - Má sợ chi mà sợ dữ rứa. Chị Vân, sáng ra chị với em đi thăm trận
    đánh nghe. Coi chừng về Sài Gòn viết một phóng sự chiến trường đầu
    năm đầy gay cấn.
    - Giỡn chi mà giỡn vô hậu tế đợi rứa. Mấy chuyện đó đừng có ham.
    Má tôi cằn nhằn. Nhưng chúng tôi đã bớt dần cơn sợ hãi, bắt đầu nói
    chuyện được, mà câu chuyện cũng bớt ngớ ngẩn. Lúc này tiếng súng ở
    trong vườn đã dịu dần, nhưng xung quanh thì vẫn còn nổ ran. Tôi nằm mà
    mắt không rời khỏi cánh cửa sổ phía trên đầu đứa em gái. Tôi nằm chờ,
    cho tới khi bầu trời tối mịt bên ngoài kia bị hút bớt màu đen đặc.
    Lúc này tôi cần sự bình tĩnh, cần sức mạnh. Tôi mong cho trời sáng thì
    trời đã gần sáng rồi. Mấy chiếc lá cây phất phơ bên ngoài cửa sổ đã hiện
    lờ mờ, rồi rõ dần. Mấy đứa cháu tôi kêu khát nước. Chúng tôi chờ đợi
    cho tiếng súng bớt ồ ạt, Thái mới đi ra ngoài rót một ly nước cho hai đứa
    nhỏ. Tiếng súng đã có vẻ thưa hơn, bức màn đêm đã bớt mắc kẹt đạn.
    Anh tôi hy vọng hơn ai hết:
    - Thái, coi yên súng đem xe Honda ra ngoài, anh muốn lên Từ Ðàm.
    Chắc chị và mấy đứa nhỏ sợ ghê lắm.
    Gia đình tôi lúc này đang chia làm hai. Chị dâu tôi và mấy đứa nhỏ còn
    ở nhà trên đầu dốc Bến Ngự. Nên anh tôi là người lo lắng nhất. Nhưng
    chắc không sao. Moị người tự an ủi. Ðến sáng là yên, vậy sáng rồi. Môi

    má tôi đã bớt tím, tay chân bà cũng bớt run rẩy. Nhưng nỗi vui mừng của
    chúng tôi không được lâu. Ðúng lúc tôi nghe tiếng gà gáy nơi chuồng gà
    thì tiếng súng đã bắt đầu nổ lại. Rồi có tiếng đấm cửa rầm rầm, cùng
    nhiều tiếng chân chạy ở ngoài sân:
    - Mở cửa, mở cửa.
    Thôi chết rồi. Chúng nó đã tới. Chúng nó sắp tràn vào nhà. Má tôi mặt
    tái xanh, định chạy tới tắt ngọn đèn vừa mới thắp. Tiếng đại bác dưới
    Phú Bài bắn lên ầm ầm. Tiếng súng nhỏ nổ chát chúa. Cánh cửa muốn
    bật tung vì những tiếng đập. Thái bò ra giữa nhà.
    - Suỵt, để con.
    Rồi hắn chạy ra mở toang cửa. Có nhiều tiếng quen thuộc la hét bên
    ngoài. Cánh cửa vừa mở tung ra, thì cả nhà đầy người. Chú tôi ở phía
    dưới đường rầy, sát chân núi Tam Thái, cùng gia đình con dâu với những
    gia đình hàng xóm khác chạy túa vào. Trẻ con người lớn chen chúc chật
    cả một gian nhà giữa rộng rãi. Mấy đứa nhỏ hoảng sợ quá, ngã vật ra
    giữa nhà, có đứa vừa run vừa đái ra quần. Chú tôi vừa khóc vừa kể:
    - Sập hết rồi chị ơi. Trên đó bị mọt-chê câu, nhà mụ Nghệ bên cạnh đó
    mất nửa cái nhà.
    Bé, đứa con trai lớn của chú tôi ôm một lúc hai đứa con nhỏ, vừa thở
    vừa nói không ra hơi:
    - Tụi nó đông lắm. Trên con đầy nhà rồi bác.
    Tôi tò mò:
    - Làm sao em chạy xuống được?
    - Dân họ chạy xuống dưới này hết. Trên đó mọt-chê câu sập hết nhà
    cửa. Chạy giữa đường em thấy Việt cộng tụm năm tụm ba, nó ngồi cả
    trước sân nhà người ta.

    Chú tôi chợt nhìn quanh rồi hốt hoảng:
    - Con Hồng đâu rồi, con Hồng bế thằng Ðiện chạy phía nào rồi. Thôi
    chết con tôi cháu tôi...
    Chú tôi chưa kịp dứt câu thì đã ngã phịch xuống vì một quả B-40 phạt
    xuống mái ngói. Tôi đang há hốc mồm thì gạch vụn đã đầy một miệng.
    Cái bô để dưới chân giường không biết bị ai đá vào tràn ra nhà. Tôi vừa
    sát người xuống thì đã phát nôn vì một mùi thúi hoắc xông lên tận đầu,
    nhưng không còn cách cựa quậy gì nữa. Nhiều đứa trẻ không chịu đựng
    nổi ré khóc vang nhà. Nhưng tiếng khóc bị chận ngay vì những bàn tay đã
    bịt miệng, hoặc những tràng súng cắt đứt. Trời ơi, đến sáng rồi sao
    không yên? Tôi quay quắt hỏi đứa em:
    - Lần trước có lâu như vầy không?
    - Không, lần trước bắn ít hơn, không có đại bác câu nhiều như thế này.
    Sáng ra là nó rút đi hết.
    Bé bò lại phía tôi:
    - Trời, chị không tưởng nổi mô. Em thấy tụi nó máu me cùng mình. Tụi
    nó ngồi bên vườn thím Quyệt, em chạy xuống đây em thấy.
    - Thấy mày chạy họ để yên à?
    - Tụi họ cũng vừa chạy vừa bắn, mình cũng chạy đại. Ở trên đó chắc
    chết quá chị ơi.
    Nó vừa nói vừa ôm chặt đứa con gái trong lòng. Vợ nó khóc thảm
    thiết:
    - Anh coi đi tìm con Hồng với thằng cu Ðiện, không tui chạy ra cho
    súng bắn cái đùng cho rồi.
    Má tôi gắt:

    - Chết đến nơi không lo, ai mượn tụi bây không chạy với nhau.
    - Làm răng chạy với nhau được, mạnh ai nấy chạy, tưởng còn sống
    đến chừ mô.
    Hai vợ chồng nó nín im, nhưng chỉ một giây sau, tôi lại nghe chúng càu
    nhàu cãi cọ. Một lát sau tiếng súng lại thưa dần. Bé vội chạy ra sân rồi
    mò dần ra đường. Chừng hai mươi phút sau nó trở lại, một tay bế thằng
    con.
    - Chị...
    Bé hạ giọng, tiếp:
    - Em đi tìm con Hồng với thằng Cu, em phải đi bằng ngả sau vườn.
    Ngang đường rầy em gặp tụi nó, nó hỏi em đi mô rồi bắt giữ em lại.
    Chúng nó có ba đứa, một đứa bị thương. Em năn nỉ nói đi tìm con lạc, ban
    đầu nhất định nó không cho, nó hỏi em làm nghề gì. Em nói thợ mộc, em
    bị lạc con. Về sau nó cho đi. Em tính nếu nó bắt, em liều chết giựt súng.
    Một thằng bị thương gần chết, một thằng bị thương nhẹ không cầm
    súng được, còn thằng kia ốm yếu hơn em...
    Hà, em gái tôi, nạt:
    - Thôi, mi đừng có ba hoa, nói phách tấu...
    - Em nói thiệt, người ta quân đội mà...
    Rồi nó sực nhớ lại đồn trại và đồng đội, nó ngồi buồn hiu. Lát sau thở
    dài:
    - Lính tráng mà ngồi một xó như ri có nhục không?
    Những người xóm trên vào nhà tôi bây giờ mới hoàn hồn lại. Người
    vạch vú cho con bú, người bắt đầu kháo chuyện. Mỗi người kể một
    chuyện đại để cũng thấy Việt cộng ra sao. Họ kể họ cũng chạy suýt

    chết, cũng thấy viên đạn nó to và đỏ rực như đâm vào mặt mà không biết
    sao lại không trúng.
    Bỗng nhiên vào lúc 8 giờ sáng, tiếng súng như dồn về miệt Phú Cam.
    Tiếng đại bác dưới Phú Bài không câu lên nữa. Lúc đó chúng tôi mới lần
    ra sân. Vườn cây yên tĩnh không một bóng người, nhưng trên cỏ, trên đất,
    còn lấm tấm những vạt máu khô đặc.
    Một vài nhánh cây gãy, nơi bờ tre cuối đường ngả ăn thông ra mặt
    đường rầy, những cành khô được banh ra, chừa những lối đi gọn. Mấy
    chị em chúng tôi hết sức sung sướng hít thở, ai cũng mừng thầm như thế
    này là đã yên. Anh tôi chuẩn bị để lên nhà ở Từ Ðàm. Tôi ra cái bể cạn
    trước sân múc nước súc miệng, đánh răng. Những người trú ngụ trong
    nhà tôi vội vã bồng bế nhau trở về xóm. Chú tôi là người chạy băng ra
    khỏi nhà trước tiên. Ông quá lo lắng không biết nhà cửa còn hay đã mất.
    Tôi cố nhón gót nhìn lên miệt núi, cũng không thấy được gì. Thái, em tôi,
    hỏi:
    - Chị nhìn chi rứa?
    Tôi thở ra:
    - Chắc đêm qua trên núi mồ mả bị chân đạp lung tung, mộ bác mới
    chôn.
    Mồ mả mới chôn đây là mộ của ba tôi. Từ Sài Gòn, những ngày cuối
    năm vợ chồng con cái tôi đang chuẩn bị đầu năm về ăn Tết ở Huế thì tin
    ba tôi hấp hối. Leo lên một chiếc máy bay quân sự chở thực phẩm cho
    lính ở tiền đồn, tôi về tới vừa kịp những giờ cuối cùng của người cha.
    Thái cúi đầu. Nó đi tới bể cạn múc nước. Tiếng má tôi kêu:
    - Thái, con đem cái này đổ ra sau vườn.
    Anh Lễ tôi đã mặc quần áo xong. Chiếc Honda đã được dựng sẵn. Tôi
    nói:

    - Cho em lên Từ Ðàm với.
    Anh Lễ bảo:
    - Ðể coi sao đã. Thấy không yên rồi, ngoài đường vắng tanh vắng
    ngắt.
    Nhưng lời anh tôi nói chưa dứt thì có nhiều tiếng động ì ầm của xe
    chạy vào thành phố ngả quốc lộ. Chúng tôi đứng ở sân nhìn ra. Một đoàn
    xe cam nhông chở lính Mỹ và những khẩu đại bác đang từ từ đỗ lại ngoài
    đường nối hàng dài. Lính Mỹ nhảy xuống, Thái bật la to:
    - Bác ơi, yên rồi, quân Mỹ đã lên. Mình ra đường, mình coi được rồi.
    Má tôi kêu:
    - Vào nhà hết, vào nhà không nó bắn.
    Anh tôi cản:
    - Ðứa nào ở đâu cứ ở đó. Ðứng yên đừng có chạy mà nó tưởng Việt
    cộng chết hết cả giờ.
    Ðoàn lính Mỹ đã xuống xe, tiến vào các khu vườn, nằm bò xuống vệ
    đường, lủi xuống phía ruộng. Chỉ một phút sau vườn nhà tôi đã đầy lính
    Mỹ.
    Một vài người lính Mỹ nhìn chúng tôi dò chừng rồi lủi ra phía vườn
    gườm súng chĩa vào các bụi cây trước khi băng qua vườn khác. Không có
    gì xảy ra hết. Tình hình hoàn toàn yên tĩnh. Chúng tôi đi vào nhà ngồi yên
    ở tấm ngựa gỗ. Ra đường lúc này nguy hiểm. Ai cũng nghĩ thế. Có lẽ
    lính Mỹ đang đi lùng Việt cộng đây. Chúng tôi im lặng ngồi nhìn nhau,
    hồi hộp chờ đợi. Hai người lính Mỹ đi ngang qua sân, hờm súng vào trong
    nhà. Chúng tôi cố giữ vẻ mặt thật thản nhiên. Má tôi còn có vẻ cố gắng
    làm ra vui mừng nữa. Hai người lính Mỹ dừng lại, rồi đưa mắt cho nhau,
    đi vào bậc thềm, hất hàm ra hiệu cho chúng tôi ra đứng ở cửa hết. Một
    người lính Mỹ nói hai tiếng gì đó không phải tiếng Mỹ.

    Chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau, người lính Mỹ lộ vẻ tức giận, nạt lớn:
    - Kên cượt.
    Anh tôi hỏi một câu tiếng Anh, nhưng người Mỹ vẫn la:
    - Kên cượt.
    Má tôi là người hiểu ra đầu tiên, bà nói lớn:
    - Ông Mỹ hỏi thẻ căn cước.
    Người lính Mỹ gật đầu. Người đi cùng chỉ súng thẳng vào người
    chúng tôi. Chúng tôi trình thẻ căn cước. Khi tôi đưa tấm thẻ của cơ quan
    VOF (Voice of Freedom) thì người lính Mỹ gật đầu và khuyên chúng tôi
    trong lúc này nên ở yên trong nhà. Trả thẻ lại, một người trọ trẹ nói tiếng
    Việt cám ơn, rồi đi ra phía vườn. Chúng tôi chưa kịp ngồi xuống tấm
    ngựa gỗ đã nghe mấy tiếng nổ lớn. Thái quen với súng đạn, kêu lên:
    - Thôi, B-40 của Việt cộng rồi.
    Tiếng B-40 từ phía núi, từ phía đường rầy bắn ra như mưa. Phía ngoài
    đường, những xe thiết giáp mang súng cối 40 ly bắn trả lại kịch liệt.
    Từng mảnh ngói bị sức ép, hoặc trúng sướt lằn đạn rơi tứ tung lên đầu
    lên cổ. Cả nhà lại chui vào phòng trong. Cùng lúc đó những tiếng la khác
    nổi lên như ri ở miệt ngoài đường. Cái gì vậy? Thái muốn chạy ra trước
    tiên. Má tôi nắm áo giữ riệt nó lại, nhưng Thái cứ van nài mãi. Cuối cùng
    hắn ló ra cửa, thụt lui thụt tới vì những tiếng súng bắn đi trả lại cứ vèo
    vèo ngang qua mái nhà. Ầm. Ầm. Vài thân cây lớn ở ngoài vườn đổ
    xuống. Chúng tôi ai nấy nằm sát xuống đất, buông trôi cho sự may rủi.
    Lần này chắc chết quá. Cầu nguyện đi. Tiếng la khóc ở vườn bên, ở
    trước mặt càng lúc càng thảm thiết. Rồi tiếng kêu chết kêu cháy vang
    lên.
    Mấy người lính Mỹ đang núp ở vườn sau vội chạy ra đường phía có
    tiếng kêu khóc. Lúc này đạn bắn đi cứ như mưa, tiếng B-40 yếu dần rồi
    tắt luôn. Tiếng kêu khóc đã nghe rõ mồn một. Chúng tôi không ai bảo ai
    cùng một lượt chạy ra sân. Căn vườn mé mặt trước, đang có căn nhà bốc

    cháy và lính Mỹ đang cố dập tắt lửa. Lúc này tôi mới hoàn hồn lại chút ít.
    Má tôi lo sợ không biết lửa có lan sang căn nhà thờ của chúng tôi không.
    Bà hét gọi mấy đứa cháu lo gói đồ lại, có gì còn mang ra được chút của
    cải. Trong tiếng lửa nổ lốp đốp, trong âm thanh ồn ào của những tràng
    tiểu liên bắn ran khắp các miệt vườn, tiếng khóc nổi lên thảm thiết: Dì
    ơi, dượng ơi, má tui chết rồi. Ai cứu cho với. Tiếng kêu, tiếng khóc,
    tiếng chân hàng xóm chạy thình thịch bất chấp cả súng đạn. Má tôi lùa
    chúng tôi vào nhà. Thái được cử sang chữa lửa. Mấy người lính Mỹ đi
    vòng lại, qua sân nhà, nhìn vào. Người Mỹ soát giấy chúng tôi lúc nãy
    đưa mấy ngón tay và nói một câu tiếng Việt bập bẹ đại ý báo cho biết
    ngoài đó có mấy người chết.
    Xong rồi họ ra xe, đoàn xe rồ máy chạy vào thành phố, nhưng chỉ mấy
    phút sau, có lẽ xe chưa kịp qua khoảng cầu An Cựu, thì chúng tôi nghe
    miệt cầu đủ thứ súng nổ dữ dội. Một lát, đoàn xe Mỹ ầm ầm rút lui,
    không còn kiêng nể gì nữa, cứ bắn như mưa dọc hai bên đường. Nhưng
    lần này, xe trở về rất ít, hình như chỉ có đoàn xe đi sau. Có lẽ những
    chiếc xe này về chở thêm súng đạn, và đoàn xe đi trước đã lọt ổ phục
    kích.
    Tiếng súng ở mạn cầu đã thưa thớt dần.
    Chừng mười lăm phút sau, khi nhìn ra đường, chúng tôi thấy có một
    đoàn người mặc quần áo màu vàng, vai vác súng đi đầu trần. Tôi lật đật
    ra sân: Thôi đúng rồi, họ rút đi, và lính mình về. Tôi mừng rỡ như điên
    định đưa tay vẫy thì chợt nhận ra nơi hông họ đeo cái bị rết. Lính quốc
    gia thì mang ba lô chứ. Tôi sững lại. Ðoàn người cũng không đông lắm,
    chỉ chừng vài chục người.
    Thái lúc này mới thấy sợ hãi:
    - Thôi chết em rồi. Họ vào biết em là cán bộ xây dựng nông thôn thì
    không cách gì sống nổi.
    Tôi bảo nó đưa giấy tờ cho tôi giữ. Tôi cẩn thận bỏ giấy tờ của nó
    trong cái túi áo rồi xếp gọn đặt giữa mớ quần áo đang gói ngổn ngang
    trong một tấm drap lớn. Anh tôi cố tin tưởng:

    - Anh nhà giáo chắc không can chi. Nếu họ hỏi em, em nói em là học
    sinh nghe.
    Thái dạ nhưng nghe chừng yếu xìu. Gia đình Bé lại lật đật dọn xuống.
    Mấy bao bố đựng gạo, áo quần, mấy cái soong. Chú tôi không đi, má tôi
    kêu trời kêu đất, nhưng tụi em tôi bảo chú ở lại giữ nhà. Trên đó đã có cái
    hầm cũ làm sau vụ pháo kích lần trước. Má tôi không tin tưởng vào cái
    hầm đó lắm. Bà bắt Bé đi gọi ông xuống nhà, nhưng Bé vừa đi một lát,
    đã hớt ha hớt hải quay lại:
    - Bác ui, họ về đông như kiến. Họ đang họp ngoài nghẹo, họ treo cờ,
    họ hô hào. Họ lấy hết Huế rồi. Người ta bảo bên Phú Văn Lâu treo cái
    cờ gì to thục lúc. Con vừa tới thấy họ đang bắc loa gọi, con lủi nhanh vào
    vườn Bác Ái lủi về, may mà họ không thấy.
    Tôi hỏi có ai bị thương không, Bé nói là thấy họ đông lắm, sáng thấy
    có người bị thương, chừ đem đâu hết rồi. Má tôi nói liệu có di tản lên Từ
    Ðàm được không thì Bé cho biết là đường sá họ gác hết rồi, góc nào cũng
    có người đứng gác. Tôi hỏi đi hỏi lại là mày có thấy tận mắt không, nó
    bực mình: “Thì thấy mới chạy thục mạng về đây. Ðồn vận tải thấy vắng
    teo như không có người ở, tường thành gì cũng đổ nát hết...
    Lúc đó khoảng mười một giờ. Chúng tôi hết đứng lại ngồi, lóng ngóng
    nhìn ra đường. Lát lát má tôi sai một đứa cháu ra nhìn xem có ai đi lại
    không. Nhưng đường xá vắng ngắt. Mấy lần nó định đi lần về phía
    nghẹo đường xay, nhưng không đủ can đảm lê bước tới đó. Lúc này nó
    đã nhìn thấy ở đó treo một lá cờ VC. Nó trở vào mặt mày rầu rỉ:
    - Trời lính mà ai cũng như tui thì Huế mất là phải. Biết vậy đừng có
    về cho xong. Ðã nghe lịnh cấm trại rồi mà còn về.
    Bé buồn cũng phải. Ðáng nhẽ ra dù Huế còn hay mất nó cũng phải có
    mặt với anh em. Nhưng ba tôi chết cuối năm, Bé được giấy phép mấy
    ngày đầu năm để lo việc nhà. Lúc này, đèn đuốc trên bàn thờ ba tôi lại
    sáng trưng, mỗi đứa chúng tôi đều thắp hương và cầu nguyện. Ðây là căn
    nhà thờ duy nhất của dòng họ tôi mà phải suốt cả một đời lăn lộn cực
    khổ làm ăn lương thiện, ba tôi mới gầy dựng nổi. Căn nhà chưa tu bổ thì

    ba tôi đã có một chỗ ngồi trong căn nhà thờ này. Súng đạn đêm qua và
    sáng nay đã nhân đức với căn nhà thờ của dòng họ chúng tôi ngoài mức
    tưởng tượng.
    Rồi chúng tôi cũng còn lo ăn nữa. Bữa cơm trưa được nấu vội vàng
    nhưng không có đồ ăn. Ngày cuối năm thì xong việc đám ma. Ðến ngày
    mồng một gia đình tôi nguyện ăn chay để cầu nguyện cho người chết.
    Ðáng nhẽ phải ăn Tết ở ngôi nhà anh Lễ tôi ở Từ Ðàm, chúng tôi, kể cả
    anh Lễ, má tôi, cô em gái, mấy đứa cháu nhỏ, cùng mấy đứa em con chú
    đã tình nguyện ở lại để cầu kinh. Căn nhà thờ chứ không phải là nơi để
    ở nên thiếu thốn đủ thứ. Chúng tôi phải nạy cửa nhà ngang, xuống căn
    nhà phụ cho ông giáo Trường An Cựu thuê, vợ chồng họ về quê ăn Tết,
    để lấy chén bát và tìm đồ gia vị như nước mắm, muối ớt. Khổ là vì
    không định ở đây, chúng tôi không tích trữ gạo. Lúc này đã không còn
    nghe tiếng súng, hoặc có thì cũng chỉ là tiếng súng nhỏ vọng xa xa, ở một
    miệt nào đó. Như thế là nghĩa lý gì? Không có một chiếc máy bay, không
    có một chiếc xe chạy.
    Ðoàn xe Mỹ đã vào tới thành phố tan biến đi ngả nào. Những Việt
    cộng vừa tụ họp tại nghẹo Hàng Xay bỗng tản đi đâu hết. Tại sao chú tôi
    ở xóm trên chỉ cách một con đường rầy, mấy cái vườn, cũng không
    xuống được. Lâu lâu lại thấy một đoàn người đi đâu ngoài đường phía
    dưới quốc lộ, vào thành phố. Căn nhà thờ của chúng tôi nằm ở An Cựu,
    sát ngoại ô, lại ngay đường quốc lộ nối Phú Bài với Huế.
    Trong thành phố Huế lúc này ra sao, chúng tôi không tài nào đoán nổi.
    Cả nhà hợp nhau lại sửa căn hầm cũ dưới nhà bếp. Tiếng súng càng về
    chiều càng dữ dội. Ngoài đường bỗng vắng tanh. Ở nhà bếp, nhà trên,
    dân trong xóm đến tỵ nạn nằm la liệt mấy căn buồng nhỏ được che hai
    ba mặt tường. Má tôi sai đứa cháu dâu nhóm bếp nấu một nồi cháo, chắc
    chẳng ai còn lòng dạ nào ngồi ăn cơm chiều. Nhưng nồi cháo nấu vừa
    chín tới thì Thái đã nhìn thấy có người đi lại ở ngoài đường. Mặc kệ
    tiếng súng đang nổ ran mọi phía, mặc kệ bom đạn có thể nổ ngay trên
    đầu mình, cả nhà chúng tôi tràn ra sân, rồi ra đường cái. Một hai người
    đạp xe từ phía cầu An Cựu đi lui đi tới, Thái vẫy lại hỏi: “Ngoài nớ có ai
    đi không?” “Người ta tản cư qua bên sông hết.” Má tôi la lớn:

    - Lên Bến Ngự Từ Ðàm được không?
    - Chắc được.
    Nghe tiếng “chắc được” thôi mà cả gia đình tôi cũng tràn trề hy vọng.
    Mấy đứa cháu giục phải di tản qua bên kia sông hoặc lên Từ Ðàm chứ ở
    đây chắc chết hết. Việt cộng đã về đóng kín hết mọi nhà, mọi đường
    phố. Nhà chúng tôi lại nằm ngay giữa hai cái đồn và ngọn đồi Thánh Giá
    nằm ngay phía đàng sau lưng. Nếu xáp lá cà ở đây một trận chắc cả làng
    An Cựu ra tro hết. Má tôi vơ vội một ít quần áo của ba tôi những thứ còn
    bỏ lại, không đem liệm cho người chết. Bà gói lại cẩn thận. Gia đình
    mấy đứa em họ tôi thì lo gánh gạo, quần áo, nồi chảo và những dụng cụ
    cần thiết. Tôi xách cái ví tay, cái xách nhỏ. Anh tôi dắt chiếc Honda chở
    em gái tôi với hai đứa cháu đi trước. Tới gần cầu An Cựu, má tôi nói anh
    cứ đi trước đi, chở con và em lên rồi trở lại đón từng người bằng xe cho
    mau. Thái lấy chiếc xe đạp tìm đường sang phố. Chúng tôi chia tay ở
    trước đồn vận tải. Từng đoàn người cắm cúi lật đật, bồng bế, xách gói
    chạy qua phía cầu. Chúng tôi theo họ nhưng tới cầu cả bọn không được
    đi về phía Tân Lăng, Phú Cam mà cứ bị xua lại cầu. Lúc chúng tôi chạy
    tới, một trong hai người đàn ông gác cầu đưa tay chận lại:
    - Ði đâu, bà con ai ở yên trong nhà, không được chạy.
    Tôi đứng sững đàng sau lưng má tôi. Hai người đàn ông mặc quần áo
    ka ki vàng, nhưng chân đi dép. Không phải là lính quốc gia rồi; chắc họ là
    quân giải phóng. Tôi nhìn sững họ không nói được một câu, miệng tôi
    cứng lại. Má tôi nói như muốn khóc:
    - Nhà cửa sập rồi mấy ông ơi, còn chi mà ở. Tui sang nhà bà con bên
    kia sông.
    Lúc đó tôi không còn thấy bóng em tôi chở em gái và cháu tôi đâu nữa.
    Tôi nghĩ là anh đã đi thoát rồi. Hai người lính vẫy cho chúng tôi qua cầu.
    Mấy vũng máu đọng giữa cầu chưa khô, ruồi nhặng bu đen xì. Chỉ một
    đoạn đường ngắn mà tôi nhìn thấy biết bao nhiêu dép, giày vớ, quần áo
    rách, bị rết, ba lô văng bừa bãi, dính lẫn với máu và những mảnh thịt.

    Má tôi bảo qua cầu rồi cứ đi dọc bờ sông tìm đường lên căn nhà ở Từ
    Ðàm. Nhưng đi được một đoạn, chúng tôi thấy những người đi trước lúp
    xúp chạy trở lại, vừa chạy vừa khóc. Chúng tôi hỏi họ không nói ra
    được, cứ làm dấu vẫy lui. Tôi chận một cô nhỏ:
    - Sao trở lui vậy em?
    - Trên nớ, nơi cầu Phủ Cam họ đứng đầy, họ gác, họ đuổi lui.
    - Cứ đi tràn không được à?
    - Họ bắn hai ba người.
    Má tôi níu chúng tôi lại. Mấy đứa em tôi cũng hốt hoảng bảo vợ con
    tất tưởi đi lui. Chúng là lính gặp họ chắc không ổn rồi.
    Không hiểu nhờ phép lạ nào mà khi qua cầu họ không hỏi tỉ mỉ. Khi
    má tôi xin qua cầu được, cả đoàn cứ nối đuôi nhau mà chạy. Cũng có lẽ
    họ còn bận với những đoàn người đi sau.
    Qua được cầu rồi, lúc này tôi mới dám nhìn hai bên đường phố. Chợ
    An Cựu như một bãi chiến trường, máu còn chưa khô, máu in đỏ trên
    những bức tường loang lổ vết đạn. Một chiếc xe tăng lủi vào lề đường
    đâm vào một căn phố, tấm bảng hiệu còn treo lủng lẳng. Hai ba căn phố
    không còn hình dáng gì. Không một căn nhà trước đường nào còn nguyên.
    Giữa đường đầy rẫy chướng ngại vật, máu me, quần áo, rác, sắt vụn, gỗ
    ván. Chúng tôi len lỏi mà đi. Không một đôi mắt nhìn ra cửa, những căn
    nhà như đã hoang vắng hết. Không còn biết đâu yên mà chạy tới nữa.
    Thôi cứ liều, má tôi nói liều mà tìm đường lên Từ Ðàm, gia đình họp lại
    sống chết có nhau. Chúng tôi đi hết con đường ngắn, dọc xuống Lê Lợi.
    Con đường đàng trước mặt dẫn sang nhà bưu điện và cầu Tràng Tiền sao
    vắng ngắt. Tiếng súng ở mặt nhà dây thép nổ như bắp rang. Ðoàn người
    này đi tới, đoàn người kia chạy lui, không kịp nghe nhau trả lời, cứ thế,
    chạy loanh quanh trong những khu vực chưa bị kiểm soát. Cuối cùng
    chúng tôi dồn vào khu nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế.

    Không còn chạy đi đâu được nữa, phía trước mặt người ta đã chạy lui
    lại hết. Phía đàng sau cũng không còn đường trở lui. Má tôi kêu trời kêu
    đất. Anh tôi đã mất tăm dạng. Ngoài đường thưa người dần và nhiều
    tiếng súng gần tới nơi. Mọi người chạy ào vào bên t...
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG VÂN THÊ - HƯƠNG THUỶ - THỪA THIÊN HUẾ !