Sách Nói] Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn - Chương 1
Huế tản văn: Áo bay khép mở nhièu tâm sự

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Thu Hằng
Ngày gửi: 10h:04' 21-03-2024
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Thu Hằng
Ngày gửi: 10h:04' 21-03-2024
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
HUẾ TẢN VĂN - ÁO BAY KHÉP MỞ NHIỀU TÂM SỰ
Tác giả: Nhiều tác giả
Thể loại: Tản văn
Nhà xuất bản: NXB Hội Nhà Văn
Ebook: Cuibap
Nguồn text: Waka.vn
https://thuviensach.vn
Lời Nói Đầu
" Tâm tư khép, mở đôi tà áo…" (Đinh Hùng)
Theo bước chân trường tồn của đôi bờ sông Hương, mái chùa Thiên
Mụ, tà áo dài Huế cùng chiếc nón bài thơ đã trở thành một biểu tượng đẹp
của xứ mộng mơ. Những tà áo tím bên dòng Hương Giang hay những tà áo
trắng của nữ sinh Đồng Khánh qua bến đò Thừa Phủ, qua cầu Trường
Tiền… tím buồn và trắng vui, khép mở bao niềm tâm sự. Áo dài Huế gần
gũi không chỉ với nữ sinh Đồng Khánh hay phụ nữ khuê các mà còn rất
mặn mà với giới bình dân mua gánh bán bưng. Trong tấm áo dài bạc màu
vì một nắng hai sương, nối tay, nối vạt vì thiếu vải hay may bằng nhung
điều quyền quý, người phụ nữ vẫn phảng phất nét đoan trang, dịu dàng đến
e ấp, nhẹ như tà áo bay bay trong gió thời gian…
Công ty Sách Phương Nam mong muốn gặp các tác giả hoặc đại diện
gia đình tác giả có bài viết được sử dụng trong cuốn sách này để gởi sách
biếu và nhuận bút. Mọi thông tin đóng góp vui lòng liên hệ theo địa chỉ:
Email: bbt.phuongnambook@gmail.com
Trân trọng
https://thuviensach.vn
Dòng Sông Hợp Lưu Văn Hóa
Trương Thị Cúc
Sông Hương, một dòng sông đẹp, sôi nổi với những ghềnh thác đầu
nguồn, mềm mại quàng lấy thành phố như một dải lụa, hài hòa tuyệt diệu
với thiên nhiên xinh đẹp và hệ thống thành quách, cung điện, lăng tẩm, đền
chùa; với hàng trăm điệu hò, điệu lý; với những ngày hội vật, hội đua trải,
đua ghe; với mảnh vườn và con người xứ Huế, là nguồn cảm hứng vô tận
của người nghệ sĩ, thu hút sự say mê của nhiều khách phương xa. Không
những là một dòng sông lịch sử, sông Hương còn là không gian văn hóa
làm nẩy sinh những loại hình nghệ thuật, những hội hè đình đám, là không
gian của thi ca, nhạc họa, là dòng chảy để văn hóa Huế luân lưu không
ngừng.
https://thuviensach.vn
Có lẽ ngay từ buổi đầu của lịch sử , khi những chiếc thuyền độc mộc
lững lờ trôi trên dòng sông cổ xưa, những câu hò mênh mang sông nước
cũng đã ra đời, làm sản sinh những điệu mái nhì, mái đẩy da diết của Huế
sau này. Âm điệu đặc trưng đó cũng thấm đượm trong những làn điệu lý
Huế, ca Huế, âm nhạc truyền thống cung đình Huế và còn lan mãi đến tận
những bài nhạc Huế bây giờ.
Bằng một giai điệu mượt mà, trầm bổng, chậm rãi và khoan thai, điệu
hò mái nhì xứ Huế bao giờ cũng ngân nga vang vọng, để rồi chùng xuống,
lắng dần với những lời tự tình man mác, trải nỗi buồn dài theo sông nước:
Núi Ngự Bình mơ màng trăng gió
Niềm tâm sự ai thấu rõ cho mình
Đoái nhìn sông Hương nước chảy thanh thanh
Sông bao nhiêu nước, dạ em thương mình bấy nhiêu
Biến thể của hò mái nhì, hò mái đẩy không ngân nga sâu lắng mà khỏe
khoắn hơn, nhanh hơn. Câu hò như muốn góp sức giúp thuyền chở nặng
https://thuviensach.vn
vượt qua những quãng sông dài, những dải đầm phá mênh mông. Nhưng
như một định mệnh gắn liền với dòng sông, hò mái đẩy của Huế cũng vẫn
da diết buồn:
Thiếp nhớ chàng tấm phên hư, nuột lạt đứt
Chàng nhớ thiếp khi đắng nước, nghẹn cơm
Ba trăng là mấy mươi hôm
Mai nam vắng trước, chiều nồm quạnh sau
(Gió nồm gió nam)
Cung bậc trầm lắng, mênh mang sông nước, gây xốn xang lòng người
của những điệu hò xứ Huế lại mang đậm âm hưởng xa xôi huyền bí của
vùng đất Ô Lý một thời để tạo ra loại ngũ cung Huế - "ngũ cung hơi nam
giọng ai"- trữ tình, sâu lắng. Từ những điệu hò da diết trên sông, lối hát
giao duyên tự tình Huế - lý Huế - đã ra đời bên dòng sông yên ả, mang đậm
dấu ấn những ngữ âm, ngữ điệu rất Huế.
Canh một thơ thẩn vào ra
Chờ trăng, trăng xế, chờ hoa, hoa tàn
Canh hai thắp ngọn đèn loan
Chờ người quân tử thở than đôi lời
Canh ba sương nhuộm cành mai
Bóng trăng em ngỡ bóng ai mơ màng
Canh tư xích cửa then vàng
Một mình vò võ đêm trăng xế lần
Canh năm mê mẩn tâm thần
Đêm tàn, trăng lụn, rạng đông lên rồi.
Lý năm canh, lý hoài nam, lý hoài xuân, lý nam xang, lý vọng phu, lý
đoản xuân, lý tương tư, lý hành vân, lý trách ai, lý giao duyên, lý tiểu khúc,
lý ngựa ô, lý mười thương... những điệu lý Huế vừa mang theo âm hưởng
những câu hát giao duyên quen thuộc của miền Bắc, vừa tiếp nhận vô thức
âm nhạc sầu não trong dòng nhạc Chămpa đã tiếp tục sinh sôi, nảy nở, làm
phong phú thêm những điệu lý muôn màu muôn vẻ của phương Nam.
Và đến một ngày dòng sông Hương chuyển mình, rộn ràng với những
đoàn thuyền ngự của vua chúa, thướt tha với những tà áo dài bồi hồi hương
https://thuviensach.vn
phấn của kinh thành, những điệu lý Huế lại một lần nữa được các Nho sĩ,
quan lại say mê nghệ thuật trau chuốt nâng niu, lời ca ngày càng thêm mượt
mà, tao nhã, đường nét giai điệu ngày càng uyển chuyển, luyến láy điệu
nghệ hơn.
Từ đó, một hệ thống ca nhạc có tính bác học và cung đình là ca Huế
đã ra đời. Dù vẫn mang âm hưởng đậm đà của những điệu hò, điệu lý,
nhưng thanh âm và điệu thức của ca Huế đã được nâng cao và phát triển
phong phú với hệ thống những điệu Nam, điệu Bắc, hơi dựng, hơi ai; hệ
thống nhạc cụ tam tấu: tranh-nhị-nguyệt, tứ tuyệt: tranh-tỳ-nhị-nguyệt, ngũ
tuyệt: tranh-tỳ-nhị-nguyệt-tam, lục tuyệt: tranh-tỳ-nhị-nguyệt-tam-bầu, gắn
với sáo, kèn, song loan, sanh tiền, trống, tam âm... đa dạng, đòi hỏi một lối
chơi điệu nghệ, luôn phải tuân thủ những niêm luật nghiêm ngặt về khúc
thức, giai điệu và cung bậc.
Ra đời gắn liền với cung điện, dinh phủ ngào ngạt trầm hương, ca Huế
đã trở thành một hình thức âm nhạc thính phòng sang trọng của vùng đất đế
đô. Và rồi từ những bến nước kinh thành, trên dòng sông lững lờ thơ mộng,
ca Huế lại bước xuống những khoang thuyền để cùng với những tao nhân
mặc khách dạo lên những cung đàn, lời ca làm say đắm lòng người.
Hàng chục bài bản ca Huế: Cổ bản, Lộng điệp, Đoản xuân, Lưu thủy,
Phẩm tiết, Nguyên tiêu, Hồ Quảng, Liên hoàn, Bình bán, Tây mai, Kim
tiền, Xuân phong, Long hổ, Tẩu mã, Nam ai, Nam bình, Nam xuân, Hành
vân, Phú lục, Tứ đại cảnh... đã dần dần lược bỏ phần lời, tham gia cùng với
các bài Đăng đàn cung, Đảo ngũ cung, Ngũ đối thượng - hạ, Long ngâm,
Phụng vũ, Xàng xê, Bông man, Cung nam... hình thành hệ thống lễ nhạc
cung đình Huế với các dàn khí nhạc được tổ chức đầy tính chuyên nghiệp
như Đại nhạc, Nhã nhạc, Huyền nhạc... với những nghi thức trình tấu long
trọng trong các dịp tế lễ, yến tiệc, hội triều. Lễ nhạc cung đình Huế không
chỉ xuất hiện trong cung điện, lăng miếu, đền đài... mà còn réo rắt trên các
đội ngự thuyền của triều đình ngang dọc trên sông Hương.
Không chỉ là không gian làm sản sinh và nuôi dưỡng nghệ thuật diễn
xướng truyền thống, sông Hương còn là không gian lễ hội độc đáo của xứ
Huế.
https://thuviensach.vn
Từ lâu lắm rồi, Dương Văn An trong Ô Châu Cận Lục, viết giữa thế
kỷ XVI đã từng mô tả xứ Thuận Hóa là "xuân sang mở hội đua bơi, lụa là
chen chúc", dến nay người dân xứ Huế, nhất là cư dân sống dọc hai bờ
sông Hương vẫn còn say mê lễ hội đua ghe, đua trải. Khác với đua thuyền
truyền thống ở nhiều nơi, thuyền đua thường tập trung ở điểm xuất phát và
tranh nhau bơi về điểm đích, đua thuyền ở Huế - cả đua ghe và đua trải đều đặt nhà điều khiển ở ngay trung tâm với những nghi thức long trọng, có
trống lệnh, cờ ngũ hành, đôi khi còn có cả dàn nhạc bát âm trống kèn rộn
ràng để thúc giục các tay đua. Ghe đua phải xuất phát từ "vè rốn" bơi lên
"vè thượng", tranh về "vè hạ", liên tục "3 vòng 6 tráo" và lộn quanh "vè
rốn" để vào bến khẳng định vị trí của mình. Mỗi đợt "lộn vè" là một đợt
tranh chấp căng thẳng, người bơi phải giỏi bọc vè, biết xử lý khôn khéo
trong va chạm, tranh chấp. Tương truyền đây là hình thức tập luyện để thủy
binh gan dạ, dũng mãnh trong chiến đấu của chúa Nguyễn, vua Nguyễn
một thời. Đua thuyền ở Huế là một dấu ấn của văn hóa và lịch sử trên sông
nước của vùng kinh sư.
Hàng năm sông Hương còn rộn lên với lễ hội điện Hòn Chén vào
tháng Ba, tháng Bảy âm lịch. Đây là dịp thiện nam tín nữ thờ cúng Thánh
Mẫu Thiên Y A Na, vị nữ thần Bà Mẹ Xứ Sở của Chămpa đã được Việt
hóa, kết những chiếc thuyền "bằng", thiết kế các hình thức thờ phụng
Thánh Mẫu, với cờ lễ, khăn áo hầu và điệu hát chầu văn theo sông Hương
để đến điện Hòn Chén, ngôi điện linh thiêng nằm sát một vực sâu bên dòng
sông Hương, từng được vua Đồng Khánh ban sắc tứ là điện Huệ Nam (ân
huệ trời Nam). Mỗi dịp lễ hội là những ngày sông Hương rợp bóng những
chiếc bằng, rộn ràng với nhịp phách sôi động của múa hát Chầu văn, nhất là
dịp tháng Bảy, lễ hội còn tổ chức trọng thể lễ rước long kiệu, sắc phong của
vua và các đồ tự khí về đình làng Hải Cát trên những đoàn thuyền rực rỡ,
trang nghiêm, rộn ràng với các cuộc hầu đồng, hát chầu văn và những bộ
trang phục đầy sắc màu hội hè.
Ở cuối dòng sông Hương, tại làng Thai Dương, từ xa xưa, vào ngày 23
tháng Chạp hàng năm lễ tế Thai Dương thần nữ đã từng là một quốc lễ
được tổ chức trang trọng với lễ tục tắm tượng trên tảng đá thiêng, nhắc nhở
https://thuviensach.vn
về vị nữ thần với cuộc tình bi thảm, cuộc tình giữa hai anh em ruột không
còn nhận biết nhau sau những tháng ngày lưu lạc. Và 3 năm một lần, lễ hội
cầu ngư từ mồng Mười đến Mười hai tháng Giêng lại diễn ra với nhiều lễ
nghi tế tự, đua thuyền sĩ - nông - công - thương, diễn trò bủa lưới bắt cá,
cầu mưa thuận gió hòa, thuyền đầy tôm cá của ngư dân vùng ven biển.
Cũng những ngày xuân, mồng Mười tháng Giêng, ngay ở bến nước
ngã ba sông Hương, sông Bồ, vào ngày chánh tế ngài khai canh, lễ hội vật
võ truyền thống làng Sình lại diễn ra hấp dẫn, dựng lại một hình thức thi
đấu vật võ để tuyển binh của vùng đất đế kinh một thời.
Và ngay tại Cồn Hến, vùng đất "tả phù" bên trái kinh thành, nơi sản
sinh món cơm hến độc đáo của xứ Huế, hàng năm vào ngày 26 tháng 6 âm
lịch lại diễn ra lễ hội rước hến của làng Cồn Soi, phường Giang Hến nhắc
lại sự kiện làng thắng kiện, được vua cho phép đi đãi hến khắp các vùng
sông nước. Lễ hội rước hến với những chiếc thuyền trang trí long trọng,
thiết kế án thờ, chiêng trống, phường nhạc bát âm tỏa về hai hướng - đầu
nguồn cuối nguồn để tế thần sông và trở về nhà thờ, rước thần khai canh về
đình hiệp tế. Lễ tế gắn liền với hình thức diễn trò múa chèo trên cạn, có
tiếng trống, tiếng nhạc rộn ràng cùng hòa nhịp.
Cả một vùng sông nước, từ thượng nguồn đến tận cửa biển, những lễ
hội truyền thống luôn gắn liền với dòng sông. Và dọc bờ sông, những lễ hội
https://thuviensach.vn
diều Huế, lễ tế tổ ngành tuồng, lễ cầu an, xuân tế, thu tế,... thường kỳ đã
diễn ra, hình thành một lối sống, lối sinh hoạt tâm linh độc đáo mà đặc
trưng nhất có lẽ là lễ phóng sinh đăng lung linh trên sông Hương vào những
đêm lễ vía, dần dần trở thành lễ hội hoa đăng và những cuộc chơi thả đèn
trên sông Hương gắn liền với thú nghe ca Huế đêm đêm, tạo nên một nét
rất riêng của dòng sông văn hóa. Phóng sinh đăng là xếp thuyền giấy, cắm
một đèn cầy đốt sáng, trong đó thả một cá sống. Khi thuyền trôi ra xa, cá
vẫy ra khỏi thuyền, nhập vào sông nước để sống.
Sông Hương còn là không gian của thi ca, nhạc họa và nhiều loại hình
nghệ thuật khác. Với thi ca, có người đã ví von có một dòng thi ca về sông
Hương, rằng "dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng
của các nghệ sĩ". Hầu hết những nhà thơ lớn từng sống ở Huế, từng một vài
lần đến Huế đều có những bài thơ hay viết về sông Hương.
Nguyễn Du, nhà thơ đa cảm, từng sống gắn bó với Huế một thời, trong
một mùa thu tới đã thấy mảnh trăng sông Hương gợi lên cả mối sầu muôn
thuở:
Hương Giang nhất phiến nguyệt
Kim cổ hứa đa sầu
(Thu chí)
Cao Bá Quát, một kẻ sĩ "bất đắc chí" phải tự giam mình ở chốn đế
kinh đã có cái nhìn khác hơn. Với ông, sông Hương không hiện ra với tính
chất trữ tình, sầu muộn mà ngược lại, sông dài như kiếm dựng giữa trời
xanh, thúc giục trong ông một thái độ phản kháng sau nầy:
Vạn chướng như bôn nhiễu lục điền
Trường giang như kiếm lập thanh thiên
(Hiểu quá Hương Giang)
Vua Thiệu Trị, cũng là một nhà thơ, nhưng là nhà thơ thiên tử ngự trị
trên ngai vàng, mỗi bài thơ là một bài "ngự chế". Tổng kết những danh
thắng của chốn kinh sư, nhà vua đã có "Thần kinh nhị thập cảnh", sông
Hương buổi sáng sớm không những là một cảnh đẹp mà còn là một nhánh
nguồn sâu thẳm bảo vệ kinh thành
Nhất phiến uyên nguyên hộ đế thành
https://thuviensach.vn
(Hương Giang hiểu phiếm)
Với Hàn Mặc Tử, sông Hương lại gắn với thôn Vĩ, với những hàng
cau và ngôi vườn xanh mướt lúc nắng lên, và khi đêm xuống, sông Hương
trở thành một dòng sông trăng:
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay
(Đây thôn Vỹ)
Văn Cao, trong một đêm đàn lạnh trên sông Hương thưở nào đã không
thể quên hình ảnh của một vạt áo xanh tri âm, tri kỷ:
Em cạn lời thôi anh dứt nhạc
Biệt ly đôi phách ngó đàn tranh
Một đêm đàn lạnh trên sông Huế
Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh
(Một đêm đàn lạnh trên sông Huế)
Cũng trên dòng sông đó, với trời trong veo, nước trong veo, nhưng Tố
Hữu, con chim đầu đàn của thi ca cách mạng Việt Nam, thuở đất nước còn
chìm trong đêm dài nô lệ đã xót thương cho thân phận của những cô gái
trên sông:
Tình ơi gian dối là tình
Thuyền em rách nát còn lành được không?
Răng không cô gái trên sông
Ngày mai cô sẽ từ trong tới ngoài
Thơm như hương nhụy hoa lài
Sạch như nước suối ban mai giữa rừng
(Tiếng hát sông Hương)
Số phận của dòng sông cũng gắn liền với số phận của lịch sử, số phận
của một vùng văn hóa. Đến một ngày sông Hương lại an lành, trở về với
nguyên dạng một dòng sông trong xanh, sạch bóng quân xâm lược. Sông
lại chảy rất sâu vào lòng người như Thu Bồn đã nhận ra:
Con sông dùng dằng con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu
(Tạm biệt Huế)
https://thuviensach.vn
Trở về với dáng vẻ muôn đời, như núi Ngự, sông Hương vẫn cùng đi
với Huế mà nhà thơ tiên cảm Bùi Giáng đã khẳng định:
Rằng thưa xứ Huế bây giờ
Ngự Bình vẫn đứng bên bờ sông Hương
Con sông đó đã từ thơ vào với nhạc, với họa, với đời sống văn hóa
muôn vẻ của Huế một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, không chút gượng ép. Bài
tình ca đầu tiên về Huế của Nguyễn Văn Thương viết từ năm 1936, cũng là
tình khúc hiện đại sớm nhất của Việt Nam, bài hát đã gắn ngay với sông
Hương: "Trên sông Hương". Từ đó, những bài hát về Huế không thoát nổi
những ám ảnh của dòng sông xanh chở đầy tiếng ca này. Lần lượt là "Tiếng
sông Hương" của Phạm Đình Chương, "Hương Giang còn tôi chờ" của
Châu Kỳ, "Nhắn về sông Hương" của Minh Kỳ, "Thành phố bên bờ sông
Hương" của Tân Huyền, "Dòng sông ai đã đặt tên" của Trần Hữu Pháp,
"Người sông Hương" của Hồng Đăng, "Dòng sông em đã mang tên" của
Phạm Trọng Cầu, "Chiều thu bên sông Hương" của Thế Bảo, "Sông
Hương" của Xuân Cửu, "Mơ sông Hương" của Hà Chí Hiếu, "Chiều sông
Hương" của Vĩnh Phúc, "Có một dòng sông" của Trần Hữu Dàng, "Lời ru
dòng sông" của Lê Phùng, v.v... và cho dù không nhắc đến sông Hương
trong tiêu đề thì hầu như những tình khúc đã hát về Huế là hát về sông
Hương:
Hoàng hôn rơi ngơ ngẩn hàng thùy dương. Lạnh lùng trong bóng
chiều dòng sông Hương
(Khúc tình ca xứ Huế - Trần Đại Mỹ)
Hàng cây soi bóng nước Hương, thuyền xa đậu bến Tiêu Tương lưu
luyến thay phút say hương dịu buồn
(Đêm tàn Bến Ngự - Dương Thiệu Tước)
Ngày mai lênh đênh trên sông Hương. Theo gió mơ hồ hồn về đâu
sông sầu còn...
(Gợi giấc mơ xưa - Lê Hoàng Long)
Một chiều lang thang bên dòng Hương Giang, tôi gặp một tà áo tím,
nhẹ thấp thoáng trong nắng vương
(Tà áo tím - Hoàng Nguyên)
https://thuviensach.vn
Cả những khi không cần nhắc tên dòng sông, không nhắc đến Huế,
nhưng câu ca vẫn nói về dòng Hương Giang:
Tiếng đàn xao xuyến, phím tơ lưu luyến, mấy cung u huyền, mấy cung
trìu mến như nước reo mạn thuyền. Âm ba thoáng rung cánh đào rơi. Nao
nao bầu sương khói phủ quanh trời
(Thiên thai - Văn Cao).
Em đi qua chuyến đò, lắng nghe con sông nằm kể, trăng ơi trăng rất
tệ, mày đi nhớ chóng về
(Biết đâu nguồn cội - Trịnh Công Sơn)
Con sông nhẹ như thơ, như nhạc cũng đã đi vào tranh, vào ảnh, vào
những tác phẩm mỹ thuật, mỹ nghệ với những sắc màu lung linh và đường
nét gợi cảm. Cũng bởi thế mà tranh vẽ về sông Hương, ảnh ghi lại những
phút giây vô thường của dòng sông nầy cũng là những tác phẩm đắc ý của
nhiều tác giả.
Vẻ đẹp sơn thủy hữu tình của sông Hương còn gắn liền hài hòa với
kinh thành, lăng tẩm, đền chùa, với các công trình kiến trúc và những mảnh
vườn xanh tươi của xứ Huế. Ven hai bờ sông Hương, một dãy kinh thành
cổ kính với các tòa Nghinh Lương đình, Phu Văn lâu, Thương Bạc đình và
các cửa thành thâm nghiêm, gắn kết với những cung điện thấp thoáng trên
bờ, với hệ thống lăng tẩm kiến trúc xinh xắn của các bậc vua chúa, với
chùa Linh Mụ, điện Hòn Chén, đồi Vọng Cảnh, gò Long Thọ một thời trầm
mặc soi bóng xuống dòng sông.
Con sông nửa thực nửa mơ nhưng đã làm nên thần thái của Huế. Có ai
đó - hình như là Nguyễn Tuân - đã từng đưa ra một câu hỏi tàn khốc "Giả
như Huế không còn sông Hương". Chỉ "giả như" thôi mà đã làm rúng động
lòng người. Không cần phải đến lúc dòng sông mất đi, chỉ cần những ngày
dòng sông vẩn đục bất thường thì từ trên những trang văn, trang báo đã
bàng hoàng lên tiếng báo động "Ai cứu lấy dòng sông Hương?" và cả trên
trang thơ cũng ngậm ngùi:
Thuyền chao chạnh bao ngày sông bệnh
Để rồi lại reo vui
Dòng Hương Giang chớm mùa xanh lại
https://thuviensach.vn
Nghe niềm vui chan chứa đôi bờ
(Chiều cuối năm - Lê Hương Huyền)
Mà quả thật chỉ cần giữ cho dòng sông như suối tóc xanh, cài lên dòng
sông "một chiếc lược ngà sáu vài mười hai nhịp" như thi sĩ Nguyễn Bính đã
ví von là sông Hương với cầu Trường Tiền duyên dáng sẽ trở thành một
biểu tượng về Huế, về một vùng văn hóa đậm chất thơ, chất nhạc, chất lễ
hội.
Và Huế dang chuyển mình từ một cố đô thành một thành phố Festival.
Vẫn dáng xưa trầm mặc, vẫn hiền hòa trang nhã, nhưng sẽ không phai
những nét sang trọng của vùng đất kinh kỳ văn vật. Đêm đêm, Huế lại thắp
lên những ngọn nến huyền ảo, thả xuống dòng sông để đèn hoa cùng trôi
theo tiếng đàn, tiếng hát. Đêm đêm cầu Trường Tiền bắc qua dòng sông lại
tô thêm những mảng sáng nghệ thuật, tạo thêm cho sông Hương một vẻ lấp
lánh tân kỳ. Và đã bừng lên trong một mùa lễ hội - Festival Huế 2002 sông Hương, với cầu Trường Tiền đã vươn dậy, trải lên mình lớp lớp những
chiếc chiếu hoa, biến thành một sân khấu nghệ thuật hoành tráng, nâng lấy
bước đi của hàng trăm nữ sinh xứ Huế, với vô vàn những chiếc áo dài đầy
sắc màu lung linh tuôn chảy để tôn vinh vẻ đẹp truyền thống của phụ nữ
Việt Nam, làm thăng hoa hình ảnh chiếc áo dài độc đáo đã sản sinh từ xứ
Huế.
Cao điểm trong những lễ hội của Huế còn là những đêm Hoa đăng lấp
lánh thuyền hoa, đèn hoa, pháo hoa... thắp sáng cả dòng sông Hương, sáng
cả đôi bờ, tạo ra một Huế lung linh huyền ảo về đêm. Với hàng vạn chiếc
đèn hoa thả xuống dòng sông, người Huế mong muốn gởi theo những ước
nguyện tốt đẹp, cầu chúc vạn sự an lành.. Cùng với dòng sông Hương, một
dòng văn hóa đậm đà truyền thống của Huế cũng đã ra đời và sẽ chảy mãi
đến tận mai sau, chảy vô tận trong tâm hồn nhiều thế hệ.
https://thuviensach.vn
Hồn Thơ Huế Thi Sĩ Hàn Mặc Tử
Lê Văn Lân - Trần Thanh Địch
Hàn Mặc Tử: một kiếp khổ đau!
Cách đây 65 năm, vào buổi trưa ngày 11 tháng 11 năm 1940, một
người nằm xuống sau nhiều năm tháng đau đớn, nứt nở thịt da. Ông ta là
bệnh nhân của trại cùi Quy Hòa mang số hiệu 1314. Trên cây Thánh giá
trồng trên mộ phần của ông, ghi hàng chữ Phêrô Phanxico Nguyễn Trọng
Trí. Đây chính là nhà thơ Hàn Mặc Tử.. Ông vừa giống lại vừa khác thế
nhân chúng ta. Giống ở chỗ cùng mang kiếp nhân sinh, với thịt xương và
một cấu trúc thần kinh cao đẳng, biết ăn, biết ngủ, biết cảm xúc, biết tư duy.
Nhưng khác ở chỗ: Thế nhân chết đi thì rơi vào quên lãng, tĩnh mịch còn
Hàn Mặc Tử chết rồi nhưng tiếng thơ còn mãi! Chúng ta chết rồi, linh hồn
có thể còn khắc khoải chưa biết về đâu vì không trang bị. Một niềm tin
tưởng siêu linh, còn Hàn Mặc Tử thuở sanh tiền đã đối đầu và tôi luyện
trong niềm đau khổ cực điểm nên linh hồn đã được thăng hoa trong một
niềm tin vào Chúa!
https://thuviensach.vn
Hàn Mặc Tử: Một linh hồn vượt hẳn cõi nhân gian!
Nhìn lại phong trào thơ mới ở Việt Nam khoảng 1932-1945, sự xuất
hiện của tiếng thơ dồi dào và sâu đậm nhất trong khuynh hướng nói về cõi
Chết, về siêu hình, nhất là về Chúa thì độc nhất có Hàn Mặc Tử .
Tập Thơ "Điên" của Hàn Mặc Tử khiến người đọc bỗng hoàn toàn rời
khỏi cái thế giới thực tại của thế nhân đến nỗi nhà bình thơ Hoài Thanh
trong cuốn "Thi nhân Việt Nam" phải thảng thốt viết rằng:
"Một tác phẩm như thế, ta không thể nói hay hay dở, nó đã ra ngoài
vòng nhân gian, nhân gian không có quyền phê phán. Ta chỉ biết trong văn
thơ cổ kim không có gì kinh dị hơn... Ta chỉ biết ta đang đứng trước một
người sượng sần vì bệnh hoạn, điên cuồng vì đã quá đau khổ trong tình
yêu..."
Ông Hoài Thanh thú nhận rằng ông phải bỏ ra ròng rã "ngót một tháng
trời" để đọc toàn bộ thơ của Hàn Mặc Tử và ông "đã mệt lả" (sick) (tr.205).
Kể ra thật đúng khi ta tìm gặp rất nhiều câu thơ như sau:
Hồn của Hàn Mặc Tử không những chỉ vất vưởng trong cõi vô hình
mà nhiều lúc đã:
https://thuviensach.vn
Cười như điên sặc sụa cả mùi trăng...
Gào thét một hồi cho rởn óc
Cả thiên đàng, trần gian và địa ngục
(Hồn là ai?)
Hồn có lúc lạc vào nơi
thiên sầu, địa thảm giới Lâm bô [1],
có lúc lại bay ra ngoài vũ trụ để:
Tắm gội trong nguồn ánh sáng,
Ca những điệu ngọc vàng cao sang sảng.
Hoặc có lúc tinh khiết, nhẹ nhàng ngoài mức ngôn ngữ phàm tục:
Thượng thanh khí tiết ra nguồn tinh khí
Xa xôi đồi trăng mọc nước Huyền vi
Đây miên trường, đây vĩnh cửu, tề phi
(Đừng cho lòng bay xa)
Hàn Mặc Tử: một viên kim cương trong dòng thơ Kitô giáo ở Việt
Nam!
Hàn Mặc Tử đã sống đạo, chết đạo và sáng tác thơ Đạo một cách tha
thiết khiến nhiều người cho Tử là một "nhà thơ tôn giáo", nhưng thực sự Tử
đã vượt hẳn lên cái mục đích "truyền bá đức tin" của những thừa sai và giáo
đồ trong giai đoạn tiên khởi ở Việt Nam. Thơ của Hàn Mặc Tử là một sự
cảm nghiệm độc đáo! Đọc thơ Tử, người ta bèn thấy nguồn đạo trong thơ
Tử không hạn hẹp với ý nghĩa một tôn giáo mà là một cái gì thuộc về hoàn
vũ (universel).
Hoài Thanh trong cuốn Thi Nhân Việt Nam (1941) nhận định rất đúng
rằng:
"Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên, cả hai đều chịu rất nặng ảnh hưởng
Baudelaire và qua Baudelaire, ảnh hưởng nhà văn Mỹ Edgar Poe, tác giả
tập Chuyện lạ. Có khác chăng là Chế Lan Viên đã đi từ Baudelaire, Edgar
Poe đến thơ Đường, mà Hàn Mặc Tử đã đi ngược lại từ thơ Đường đến
Baudelaire, Edgar Poe và đi thêm một đoạn nữa cho gặp Thánh Kinh của
đạo Thiên Chúa.
https://thuviensach.vn
Chính nhờ Thánh Kinh và tinh thần Tin Mến Cậy sốt sắng vào Thiên
Chúa. Thơ Hàn Mặc Tử đưa người đọc gần Chúa vô cùng!
Hàn Mặc Tử vướng vào bệnh cùi lúc tuổi còn trẻ đang lúc yêu đời.
Bệnh này như một định mệnh đã đọa đầy Hàn Mặc Tử trong một vũng đau
thương tuyệt vọng:
...Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?
Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?
(Những giọt lệ)
...Thân tàn ma dại đi rồi
Rầu rầu nước mắt bồi hồi ruột gan
(Muôn năm sầu thảm)
Hàn Mặc Tử trong bài "Hồn là ai" đã tự mô tả cái hành hạ thể xác
bằng giọng thống thiết sau:
...Áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng
Hồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiến
Thịt da tôi sượng sần và tê điếng
Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên...
Dựa vào sự phát triển của bệnh cùi trong đời ông, ta thấy ba giai đoạn
tương ứng trong thi nghiệp của ông:
1. Giai đoạn tiền bệnh: trước năm 1936 (nghĩa là trước lúc vô bệnh
viện Quy Hòa (1937), đánh dấu bằng những tập "Đường luật" và "Gái Quê"
với một giọng trong sáng, nồng thắm, yêu đời cuồng nhiệt, một khí lực
phương cương dồi dào tính dục trong lứa tuổi đôi mươi.
2. Giai đoạn bệnh phát lộ đánh dấu bằng tập thơ "Đau Thương", "Thơ
Điên" nên tiếng thơ thống thiết, cực kỳ bi thảm như một con chim biết rằng
mình sắp chết. Thiên kiến của người đời xa lánh mình cộng vào đó sự đau
khổ vì tình duyên trắc trở đã làm Hàn Mặc Tử càng đau khổ:
Lòng ta sầu thảm hơn mùa lạnh
Hơn hết u buồn của nước mây
Của những tình duyên thương lỡ dở
Của lời rên siết gió heo may
https://thuviensach.vn
3. Giai đoạn cuối cùng của Hàn Mặc Tử được định mốc bằng tập thơ
"Xuân Như Ý". Khi ý thức rằng mình không còn hy vọng sống lâu Hàn
Mặc Tử càng tìm nguồn giải thoát cho linh hồn khắc khoải qua tôn giáo và
những khải thị siêu phàm. Giọng thơ không còn rên rỉ, mà thanh thoát,
thăng hoa.
Vào bệnh viện Quy Hòa, thi nhân đã tập được đức tính an vui trong
nguồn đau khổ. Trong một lá thơ gửi cho ông bạn thân là Trần Thanh Địch,
Tử kể lại rằng mỗi ngày đều đều ông liên tiếp ít nhất năm sáu lần vừa đọc
kinh vừa ngâm thơ.
Nhưng ba tháng sau, cơ thể quá suy kiệt và thêm bị chứng kiết lỵ nên
vài ngày thì tạ thế (ngày 11 tháng 11 năm 1940 hưởng dương 29 tuổi).
Trên giường bệnh, biết mình sắp chết, tâm hồn thi nhân vẫn vô cùng
sáng suốt và giữ một thái độ bình thản như sốt sắng viết một bản kinh
nguyện bằng tiếng Pháp là La Pureté de l'âme. (Sự thanh khiết của linh
hồn) để dọn mình về với Chúa.
[1] Theo nghĩa từ điển tiếng Anh Linbon nơi giam cầm người chết mà
không làm đủ phép bí tích theo Công giáo.
https://thuviensach.vn
Từ Bài Tới Ra Bài Chòi, Bài Thai
Hoàng Phủ Ngọc Phan
Từ Nam chí Bắc, mỗi nơi có một loại bài để chơi bài tiêu biểu. Như
Bắc có Tổ Tôm, Mạt Chược, Nam có Tứ Sắc, riêng Huế là có bài Tới. Bài
Tới ngoài 6 người ngồi chơi trên chiếu còn để chơi bài Thai và bài Chòi.
Chưa biết tác giả vô danh nào đó đã sáng tác ra bộ bài này với nhiều hình
tượng tiêu biểu trong đời sống dân dã. Sau đây là nội dung chi tiết.
Bài Tới không phải là cờ bạc
Cách đây vài ba thập kỷ, bài Tới là một trò chơi giải trí rất thịnh hành
ở các tỉnh miền Trung. Ngày Tết những người trong gia đình ngồi lại với
nhau, xây một sòng bài Tới, đặt một chút tiền tượng trưng, ăn thua nhỏ chỉ
cốt gây không khí vui vẻ, đầm ấm.
Trong khi các loại bài khác đều có nguồn gốc ngoại lai, bộ bài mắc
tiền, cách chơi phức tạp, ăn thua lớn thì bài Tới là một sáng kiến thuần túy
Việt Nam. Bộ bài rẻ tiền, gọn nhẹ, cách chơi đơn giản, tên các lá bài nôm
na mộc mạc dễ nhớ và vui tai: nhất Trò, nhị Đấu, tam Quăn, tứ Cẳng... Rõ
ràng, người sáng chế ra bộ bài Tới đã có ý thức tìm một lối giải trí lành
mạnh để phục vụ số đông đồng bào bình dân kể cả người già, trẻ em.
Những người này không thể và cũng không muốn bước vào sân chơi của
dân cờ bạc.
Trong gia đình, bài Tới có thể chơi từ ít nhất là 2 người, nhiều nhất là
6 người chia làm hai phe. Nhưng vào dịp Tết, yêu cầu giải trí cao hơn, do
đó bài Tới được nâng cấp thành bài Chòi, mỗi lần có 12 người tham dự,
chơi một hội 12 ván, kéo dài chừng vài giờ, ăn hay thua nhiều nhất cũng
chỉ có 1 ván. Cái thú vị của bài Chòi không phải ở chỗ ăn thua tiền bạc mà
ở không khí đông vui. Nhà cái ngồi ở chòi trung tâm để điều khiển cuộc
chơi. Nhà con ngồi trong những chòi cách biệt. Chòi làm bằng tranh tre, có
sạp chắc chắn, ngồi được vài ba người. Nhân vật quan trọng nhất là người
https://thuviensach.vn
rao bài và liên lạc giữa các chòi. Kết thúc ván bài có chiêng trống nổi lên
chúc mừng. Chòi nào tới (thắng) một ván được cắm trước cửa chòi một lá
cờ. Cách chơi này không thể có cách gì gian lận được.
Để cuộc chơi thêm phần tao nhã hào hứng, người rao bài phải học
thuộc một số câu hò vè do các văn nhân thi sĩ sáng tác, ví dụ:
Tóc quăn lấy đá mà đằn
Đá bay đường đá, tóc quăn lên trời
(Là con Quăn)
Một sáng kiến đậm nét văn hóa của bài Tới là bài Thai. Trong cách
chơi bài Thai, tên của mỗi lá bài được nhà cái giới thiệu bằng cách rao lên
một vài câu bóng bẩy để nhà con suy đoán. Những thai đố này là trò chơi
chữ, thoạt nghe tưởng dễ nhưng mà rất khó, ví dụ:
Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh phao câu làm mề...
Nghe hai chữ tiết hạnh có người đoán là con Bạch Tuyết. Nghe bốn
chữ phao câu làm mề ai cũng liên tưởng đến con Gà. Nhưng khi nhà cái
khui bài thì đó là con Bằng đầu. Lại có câu rất văn hoa lãng mạn:
Sầu tương tư đêm cũng như ngày
Hai má hồng đào em phai phấn
Hai mái tóc dày em hóa sưa (thưa)
Đã thương nhau nói mấy cho vừa
Xin hỏi người quân tử:
Vậy là con Sưa hay con Dày?
Có thể nói bài Tới là trò chơi mang đậm màu sắc lễ hội, văn hóa dân
gian, không thể lẫn lộn với bất cứ một trò cờ bạc nào khác.
Bộ bài Tới có 30 đôi, phỏng theo bài Tổ Tôm mà chia làm ba pho văn,
vạn, sách, gồm:
- 9 đôi vẽ mặt người có tên: nhất Trò, nhị Đấu, tam Quăn, tứ Cẳng,
ngũ Trưa, lục Xơ (chuôm), thất Nhọn, bát Bồng, cửa Bệp (thầy chùa).
- 9 đôi có hình bán nguyệt là: Trường Hai, Trường Ba, Rún Liễu, 6
Tiền, 8 Tiền, Voi, Xe và Bạch Tuyết (Bạch Huê).
https://thuviensach.vn
- 9 đôi vẽ với hình sọc ngang, có nút tròn gồm: Nghèo, Gà, Gióng,
Bằng đầu, Dày, Sưa, 8 Dây, Gối và con Nọc Đượng.
Ngoài ra có ba đôi bài chủ có đóng dấu đỏ nên gọi là bài đỏ: Thái tử,
ông Âm, Đỏ Mỏ.
Những tên gọi nôm na của các lá bài ấy khiến ta liên tưởng đến hình
ảnh của một xã hội Việt Nam thời phong kiến còn thịnh. Nhất Trò là anh
học trò với cái "mác" kẻ sĩ, đứng đầu trong các thành phần giai cấp. Nhị
Đấu là binh lính hoặc con nhà võ. Còn tam Quăn với đầu tóc Quăn - có lẽ
là hình ảnh của ngoại kiều như người Chà Và (Ấn Độ) hoặc các nhà truyền
giáo phương Tây vốn có mặt rất sớm ở nước ta, gây ảnh hưởng và ấn tượng
rất đáng kể. Ngũ Trưa là loại cậu ấm, lười biếng vô tích sự. Lục Xơ là nông
dân đói rách. Thất Nhọn (nhọn mồm) là loại thầy cung thầy kiện, miệng
lưỡi sắc bén đáng sợ. Bát Bồng là ông pháp sư, thầy cúng. Cửu Bệp là nhà
sư.
Ngoài ra ở các lá bài đỏ có Thái Tử tượng trưng cho thế lực giai cấp
phong kiến, quý tộc thống trị. Ông Ầm là thiên lôi trên trời giáng xuống
gây thiên tai như sấm sét, bão tố. Đỏ Mỏ là thần trùng đỏ mỏ gây thổ tả,
dịch hạch. Cả ba thứ trên đều là những quyền lực đáng sợ đối với quần
chúng bình dân.
Những pho bài còn lại có lá dễ hiểu như Gióng, Gối, Gà, Xe, Voi... Có
những lá mang tên khó hiểu như Bằng đầu, 8 Dây. Đặc biệt có ba lá bài chỉ
những bộ phận kín đáo trong cơ thể là Rún, Bạch Tuyết, Nọc Đượng hẳn là
để giúp người chơi bài những phút đùa cợt thư giãn. Hai lá bài Trường Hai
và Trường Ba là tên hai kỳ thi ngày xưa. Những kỳ thi này đến năm 1916
đã bị bãi bỏ. Do đó có thể suy đoán, bài Tới có thể đã ra đời trễ nhất là vào
khoảng đầu thế kỷ 20. Xã hội trong bộ bài Tới phản ánh sinh hoạt của quần
chúng bình dân nên trò chơi này rất phát triển ở nông thôn.
Tính biểu trưng không chỉ thể hiện ở tên gọi các lá bài mà đặc biệt còn
thể hiện ở lối vẽ của người họa sĩ. Những lá bài hình mặt người có lẽ mô
phỏng theo cách hóa trang của các nhân vật trên sân khấu hát bội. Nhưng
những con Gà, Gióng thì rõ là nét vẽ của một trường phái hội họa rất hiện
đại. Một ng...
HUẾ TẢN VĂN - ÁO BAY KHÉP MỞ NHIỀU TÂM SỰ
Tác giả: Nhiều tác giả
Thể loại: Tản văn
Nhà xuất bản: NXB Hội Nhà Văn
Ebook: Cuibap
Nguồn text: Waka.vn
https://thuviensach.vn
Lời Nói Đầu
" Tâm tư khép, mở đôi tà áo…" (Đinh Hùng)
Theo bước chân trường tồn của đôi bờ sông Hương, mái chùa Thiên
Mụ, tà áo dài Huế cùng chiếc nón bài thơ đã trở thành một biểu tượng đẹp
của xứ mộng mơ. Những tà áo tím bên dòng Hương Giang hay những tà áo
trắng của nữ sinh Đồng Khánh qua bến đò Thừa Phủ, qua cầu Trường
Tiền… tím buồn và trắng vui, khép mở bao niềm tâm sự. Áo dài Huế gần
gũi không chỉ với nữ sinh Đồng Khánh hay phụ nữ khuê các mà còn rất
mặn mà với giới bình dân mua gánh bán bưng. Trong tấm áo dài bạc màu
vì một nắng hai sương, nối tay, nối vạt vì thiếu vải hay may bằng nhung
điều quyền quý, người phụ nữ vẫn phảng phất nét đoan trang, dịu dàng đến
e ấp, nhẹ như tà áo bay bay trong gió thời gian…
Công ty Sách Phương Nam mong muốn gặp các tác giả hoặc đại diện
gia đình tác giả có bài viết được sử dụng trong cuốn sách này để gởi sách
biếu và nhuận bút. Mọi thông tin đóng góp vui lòng liên hệ theo địa chỉ:
Email: bbt.phuongnambook@gmail.com
Trân trọng
https://thuviensach.vn
Dòng Sông Hợp Lưu Văn Hóa
Trương Thị Cúc
Sông Hương, một dòng sông đẹp, sôi nổi với những ghềnh thác đầu
nguồn, mềm mại quàng lấy thành phố như một dải lụa, hài hòa tuyệt diệu
với thiên nhiên xinh đẹp và hệ thống thành quách, cung điện, lăng tẩm, đền
chùa; với hàng trăm điệu hò, điệu lý; với những ngày hội vật, hội đua trải,
đua ghe; với mảnh vườn và con người xứ Huế, là nguồn cảm hứng vô tận
của người nghệ sĩ, thu hút sự say mê của nhiều khách phương xa. Không
những là một dòng sông lịch sử, sông Hương còn là không gian văn hóa
làm nẩy sinh những loại hình nghệ thuật, những hội hè đình đám, là không
gian của thi ca, nhạc họa, là dòng chảy để văn hóa Huế luân lưu không
ngừng.
https://thuviensach.vn
Có lẽ ngay từ buổi đầu của lịch sử , khi những chiếc thuyền độc mộc
lững lờ trôi trên dòng sông cổ xưa, những câu hò mênh mang sông nước
cũng đã ra đời, làm sản sinh những điệu mái nhì, mái đẩy da diết của Huế
sau này. Âm điệu đặc trưng đó cũng thấm đượm trong những làn điệu lý
Huế, ca Huế, âm nhạc truyền thống cung đình Huế và còn lan mãi đến tận
những bài nhạc Huế bây giờ.
Bằng một giai điệu mượt mà, trầm bổng, chậm rãi và khoan thai, điệu
hò mái nhì xứ Huế bao giờ cũng ngân nga vang vọng, để rồi chùng xuống,
lắng dần với những lời tự tình man mác, trải nỗi buồn dài theo sông nước:
Núi Ngự Bình mơ màng trăng gió
Niềm tâm sự ai thấu rõ cho mình
Đoái nhìn sông Hương nước chảy thanh thanh
Sông bao nhiêu nước, dạ em thương mình bấy nhiêu
Biến thể của hò mái nhì, hò mái đẩy không ngân nga sâu lắng mà khỏe
khoắn hơn, nhanh hơn. Câu hò như muốn góp sức giúp thuyền chở nặng
https://thuviensach.vn
vượt qua những quãng sông dài, những dải đầm phá mênh mông. Nhưng
như một định mệnh gắn liền với dòng sông, hò mái đẩy của Huế cũng vẫn
da diết buồn:
Thiếp nhớ chàng tấm phên hư, nuột lạt đứt
Chàng nhớ thiếp khi đắng nước, nghẹn cơm
Ba trăng là mấy mươi hôm
Mai nam vắng trước, chiều nồm quạnh sau
(Gió nồm gió nam)
Cung bậc trầm lắng, mênh mang sông nước, gây xốn xang lòng người
của những điệu hò xứ Huế lại mang đậm âm hưởng xa xôi huyền bí của
vùng đất Ô Lý một thời để tạo ra loại ngũ cung Huế - "ngũ cung hơi nam
giọng ai"- trữ tình, sâu lắng. Từ những điệu hò da diết trên sông, lối hát
giao duyên tự tình Huế - lý Huế - đã ra đời bên dòng sông yên ả, mang đậm
dấu ấn những ngữ âm, ngữ điệu rất Huế.
Canh một thơ thẩn vào ra
Chờ trăng, trăng xế, chờ hoa, hoa tàn
Canh hai thắp ngọn đèn loan
Chờ người quân tử thở than đôi lời
Canh ba sương nhuộm cành mai
Bóng trăng em ngỡ bóng ai mơ màng
Canh tư xích cửa then vàng
Một mình vò võ đêm trăng xế lần
Canh năm mê mẩn tâm thần
Đêm tàn, trăng lụn, rạng đông lên rồi.
Lý năm canh, lý hoài nam, lý hoài xuân, lý nam xang, lý vọng phu, lý
đoản xuân, lý tương tư, lý hành vân, lý trách ai, lý giao duyên, lý tiểu khúc,
lý ngựa ô, lý mười thương... những điệu lý Huế vừa mang theo âm hưởng
những câu hát giao duyên quen thuộc của miền Bắc, vừa tiếp nhận vô thức
âm nhạc sầu não trong dòng nhạc Chămpa đã tiếp tục sinh sôi, nảy nở, làm
phong phú thêm những điệu lý muôn màu muôn vẻ của phương Nam.
Và đến một ngày dòng sông Hương chuyển mình, rộn ràng với những
đoàn thuyền ngự của vua chúa, thướt tha với những tà áo dài bồi hồi hương
https://thuviensach.vn
phấn của kinh thành, những điệu lý Huế lại một lần nữa được các Nho sĩ,
quan lại say mê nghệ thuật trau chuốt nâng niu, lời ca ngày càng thêm mượt
mà, tao nhã, đường nét giai điệu ngày càng uyển chuyển, luyến láy điệu
nghệ hơn.
Từ đó, một hệ thống ca nhạc có tính bác học và cung đình là ca Huế
đã ra đời. Dù vẫn mang âm hưởng đậm đà của những điệu hò, điệu lý,
nhưng thanh âm và điệu thức của ca Huế đã được nâng cao và phát triển
phong phú với hệ thống những điệu Nam, điệu Bắc, hơi dựng, hơi ai; hệ
thống nhạc cụ tam tấu: tranh-nhị-nguyệt, tứ tuyệt: tranh-tỳ-nhị-nguyệt, ngũ
tuyệt: tranh-tỳ-nhị-nguyệt-tam, lục tuyệt: tranh-tỳ-nhị-nguyệt-tam-bầu, gắn
với sáo, kèn, song loan, sanh tiền, trống, tam âm... đa dạng, đòi hỏi một lối
chơi điệu nghệ, luôn phải tuân thủ những niêm luật nghiêm ngặt về khúc
thức, giai điệu và cung bậc.
Ra đời gắn liền với cung điện, dinh phủ ngào ngạt trầm hương, ca Huế
đã trở thành một hình thức âm nhạc thính phòng sang trọng của vùng đất đế
đô. Và rồi từ những bến nước kinh thành, trên dòng sông lững lờ thơ mộng,
ca Huế lại bước xuống những khoang thuyền để cùng với những tao nhân
mặc khách dạo lên những cung đàn, lời ca làm say đắm lòng người.
Hàng chục bài bản ca Huế: Cổ bản, Lộng điệp, Đoản xuân, Lưu thủy,
Phẩm tiết, Nguyên tiêu, Hồ Quảng, Liên hoàn, Bình bán, Tây mai, Kim
tiền, Xuân phong, Long hổ, Tẩu mã, Nam ai, Nam bình, Nam xuân, Hành
vân, Phú lục, Tứ đại cảnh... đã dần dần lược bỏ phần lời, tham gia cùng với
các bài Đăng đàn cung, Đảo ngũ cung, Ngũ đối thượng - hạ, Long ngâm,
Phụng vũ, Xàng xê, Bông man, Cung nam... hình thành hệ thống lễ nhạc
cung đình Huế với các dàn khí nhạc được tổ chức đầy tính chuyên nghiệp
như Đại nhạc, Nhã nhạc, Huyền nhạc... với những nghi thức trình tấu long
trọng trong các dịp tế lễ, yến tiệc, hội triều. Lễ nhạc cung đình Huế không
chỉ xuất hiện trong cung điện, lăng miếu, đền đài... mà còn réo rắt trên các
đội ngự thuyền của triều đình ngang dọc trên sông Hương.
Không chỉ là không gian làm sản sinh và nuôi dưỡng nghệ thuật diễn
xướng truyền thống, sông Hương còn là không gian lễ hội độc đáo của xứ
Huế.
https://thuviensach.vn
Từ lâu lắm rồi, Dương Văn An trong Ô Châu Cận Lục, viết giữa thế
kỷ XVI đã từng mô tả xứ Thuận Hóa là "xuân sang mở hội đua bơi, lụa là
chen chúc", dến nay người dân xứ Huế, nhất là cư dân sống dọc hai bờ
sông Hương vẫn còn say mê lễ hội đua ghe, đua trải. Khác với đua thuyền
truyền thống ở nhiều nơi, thuyền đua thường tập trung ở điểm xuất phát và
tranh nhau bơi về điểm đích, đua thuyền ở Huế - cả đua ghe và đua trải đều đặt nhà điều khiển ở ngay trung tâm với những nghi thức long trọng, có
trống lệnh, cờ ngũ hành, đôi khi còn có cả dàn nhạc bát âm trống kèn rộn
ràng để thúc giục các tay đua. Ghe đua phải xuất phát từ "vè rốn" bơi lên
"vè thượng", tranh về "vè hạ", liên tục "3 vòng 6 tráo" và lộn quanh "vè
rốn" để vào bến khẳng định vị trí của mình. Mỗi đợt "lộn vè" là một đợt
tranh chấp căng thẳng, người bơi phải giỏi bọc vè, biết xử lý khôn khéo
trong va chạm, tranh chấp. Tương truyền đây là hình thức tập luyện để thủy
binh gan dạ, dũng mãnh trong chiến đấu của chúa Nguyễn, vua Nguyễn
một thời. Đua thuyền ở Huế là một dấu ấn của văn hóa và lịch sử trên sông
nước của vùng kinh sư.
Hàng năm sông Hương còn rộn lên với lễ hội điện Hòn Chén vào
tháng Ba, tháng Bảy âm lịch. Đây là dịp thiện nam tín nữ thờ cúng Thánh
Mẫu Thiên Y A Na, vị nữ thần Bà Mẹ Xứ Sở của Chămpa đã được Việt
hóa, kết những chiếc thuyền "bằng", thiết kế các hình thức thờ phụng
Thánh Mẫu, với cờ lễ, khăn áo hầu và điệu hát chầu văn theo sông Hương
để đến điện Hòn Chén, ngôi điện linh thiêng nằm sát một vực sâu bên dòng
sông Hương, từng được vua Đồng Khánh ban sắc tứ là điện Huệ Nam (ân
huệ trời Nam). Mỗi dịp lễ hội là những ngày sông Hương rợp bóng những
chiếc bằng, rộn ràng với nhịp phách sôi động của múa hát Chầu văn, nhất là
dịp tháng Bảy, lễ hội còn tổ chức trọng thể lễ rước long kiệu, sắc phong của
vua và các đồ tự khí về đình làng Hải Cát trên những đoàn thuyền rực rỡ,
trang nghiêm, rộn ràng với các cuộc hầu đồng, hát chầu văn và những bộ
trang phục đầy sắc màu hội hè.
Ở cuối dòng sông Hương, tại làng Thai Dương, từ xa xưa, vào ngày 23
tháng Chạp hàng năm lễ tế Thai Dương thần nữ đã từng là một quốc lễ
được tổ chức trang trọng với lễ tục tắm tượng trên tảng đá thiêng, nhắc nhở
https://thuviensach.vn
về vị nữ thần với cuộc tình bi thảm, cuộc tình giữa hai anh em ruột không
còn nhận biết nhau sau những tháng ngày lưu lạc. Và 3 năm một lần, lễ hội
cầu ngư từ mồng Mười đến Mười hai tháng Giêng lại diễn ra với nhiều lễ
nghi tế tự, đua thuyền sĩ - nông - công - thương, diễn trò bủa lưới bắt cá,
cầu mưa thuận gió hòa, thuyền đầy tôm cá của ngư dân vùng ven biển.
Cũng những ngày xuân, mồng Mười tháng Giêng, ngay ở bến nước
ngã ba sông Hương, sông Bồ, vào ngày chánh tế ngài khai canh, lễ hội vật
võ truyền thống làng Sình lại diễn ra hấp dẫn, dựng lại một hình thức thi
đấu vật võ để tuyển binh của vùng đất đế kinh một thời.
Và ngay tại Cồn Hến, vùng đất "tả phù" bên trái kinh thành, nơi sản
sinh món cơm hến độc đáo của xứ Huế, hàng năm vào ngày 26 tháng 6 âm
lịch lại diễn ra lễ hội rước hến của làng Cồn Soi, phường Giang Hến nhắc
lại sự kiện làng thắng kiện, được vua cho phép đi đãi hến khắp các vùng
sông nước. Lễ hội rước hến với những chiếc thuyền trang trí long trọng,
thiết kế án thờ, chiêng trống, phường nhạc bát âm tỏa về hai hướng - đầu
nguồn cuối nguồn để tế thần sông và trở về nhà thờ, rước thần khai canh về
đình hiệp tế. Lễ tế gắn liền với hình thức diễn trò múa chèo trên cạn, có
tiếng trống, tiếng nhạc rộn ràng cùng hòa nhịp.
Cả một vùng sông nước, từ thượng nguồn đến tận cửa biển, những lễ
hội truyền thống luôn gắn liền với dòng sông. Và dọc bờ sông, những lễ hội
https://thuviensach.vn
diều Huế, lễ tế tổ ngành tuồng, lễ cầu an, xuân tế, thu tế,... thường kỳ đã
diễn ra, hình thành một lối sống, lối sinh hoạt tâm linh độc đáo mà đặc
trưng nhất có lẽ là lễ phóng sinh đăng lung linh trên sông Hương vào những
đêm lễ vía, dần dần trở thành lễ hội hoa đăng và những cuộc chơi thả đèn
trên sông Hương gắn liền với thú nghe ca Huế đêm đêm, tạo nên một nét
rất riêng của dòng sông văn hóa. Phóng sinh đăng là xếp thuyền giấy, cắm
một đèn cầy đốt sáng, trong đó thả một cá sống. Khi thuyền trôi ra xa, cá
vẫy ra khỏi thuyền, nhập vào sông nước để sống.
Sông Hương còn là không gian của thi ca, nhạc họa và nhiều loại hình
nghệ thuật khác. Với thi ca, có người đã ví von có một dòng thi ca về sông
Hương, rằng "dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng
của các nghệ sĩ". Hầu hết những nhà thơ lớn từng sống ở Huế, từng một vài
lần đến Huế đều có những bài thơ hay viết về sông Hương.
Nguyễn Du, nhà thơ đa cảm, từng sống gắn bó với Huế một thời, trong
một mùa thu tới đã thấy mảnh trăng sông Hương gợi lên cả mối sầu muôn
thuở:
Hương Giang nhất phiến nguyệt
Kim cổ hứa đa sầu
(Thu chí)
Cao Bá Quát, một kẻ sĩ "bất đắc chí" phải tự giam mình ở chốn đế
kinh đã có cái nhìn khác hơn. Với ông, sông Hương không hiện ra với tính
chất trữ tình, sầu muộn mà ngược lại, sông dài như kiếm dựng giữa trời
xanh, thúc giục trong ông một thái độ phản kháng sau nầy:
Vạn chướng như bôn nhiễu lục điền
Trường giang như kiếm lập thanh thiên
(Hiểu quá Hương Giang)
Vua Thiệu Trị, cũng là một nhà thơ, nhưng là nhà thơ thiên tử ngự trị
trên ngai vàng, mỗi bài thơ là một bài "ngự chế". Tổng kết những danh
thắng của chốn kinh sư, nhà vua đã có "Thần kinh nhị thập cảnh", sông
Hương buổi sáng sớm không những là một cảnh đẹp mà còn là một nhánh
nguồn sâu thẳm bảo vệ kinh thành
Nhất phiến uyên nguyên hộ đế thành
https://thuviensach.vn
(Hương Giang hiểu phiếm)
Với Hàn Mặc Tử, sông Hương lại gắn với thôn Vĩ, với những hàng
cau và ngôi vườn xanh mướt lúc nắng lên, và khi đêm xuống, sông Hương
trở thành một dòng sông trăng:
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay
(Đây thôn Vỹ)
Văn Cao, trong một đêm đàn lạnh trên sông Hương thưở nào đã không
thể quên hình ảnh của một vạt áo xanh tri âm, tri kỷ:
Em cạn lời thôi anh dứt nhạc
Biệt ly đôi phách ngó đàn tranh
Một đêm đàn lạnh trên sông Huế
Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh
(Một đêm đàn lạnh trên sông Huế)
Cũng trên dòng sông đó, với trời trong veo, nước trong veo, nhưng Tố
Hữu, con chim đầu đàn của thi ca cách mạng Việt Nam, thuở đất nước còn
chìm trong đêm dài nô lệ đã xót thương cho thân phận của những cô gái
trên sông:
Tình ơi gian dối là tình
Thuyền em rách nát còn lành được không?
Răng không cô gái trên sông
Ngày mai cô sẽ từ trong tới ngoài
Thơm như hương nhụy hoa lài
Sạch như nước suối ban mai giữa rừng
(Tiếng hát sông Hương)
Số phận của dòng sông cũng gắn liền với số phận của lịch sử, số phận
của một vùng văn hóa. Đến một ngày sông Hương lại an lành, trở về với
nguyên dạng một dòng sông trong xanh, sạch bóng quân xâm lược. Sông
lại chảy rất sâu vào lòng người như Thu Bồn đã nhận ra:
Con sông dùng dằng con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu
(Tạm biệt Huế)
https://thuviensach.vn
Trở về với dáng vẻ muôn đời, như núi Ngự, sông Hương vẫn cùng đi
với Huế mà nhà thơ tiên cảm Bùi Giáng đã khẳng định:
Rằng thưa xứ Huế bây giờ
Ngự Bình vẫn đứng bên bờ sông Hương
Con sông đó đã từ thơ vào với nhạc, với họa, với đời sống văn hóa
muôn vẻ của Huế một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, không chút gượng ép. Bài
tình ca đầu tiên về Huế của Nguyễn Văn Thương viết từ năm 1936, cũng là
tình khúc hiện đại sớm nhất của Việt Nam, bài hát đã gắn ngay với sông
Hương: "Trên sông Hương". Từ đó, những bài hát về Huế không thoát nổi
những ám ảnh của dòng sông xanh chở đầy tiếng ca này. Lần lượt là "Tiếng
sông Hương" của Phạm Đình Chương, "Hương Giang còn tôi chờ" của
Châu Kỳ, "Nhắn về sông Hương" của Minh Kỳ, "Thành phố bên bờ sông
Hương" của Tân Huyền, "Dòng sông ai đã đặt tên" của Trần Hữu Pháp,
"Người sông Hương" của Hồng Đăng, "Dòng sông em đã mang tên" của
Phạm Trọng Cầu, "Chiều thu bên sông Hương" của Thế Bảo, "Sông
Hương" của Xuân Cửu, "Mơ sông Hương" của Hà Chí Hiếu, "Chiều sông
Hương" của Vĩnh Phúc, "Có một dòng sông" của Trần Hữu Dàng, "Lời ru
dòng sông" của Lê Phùng, v.v... và cho dù không nhắc đến sông Hương
trong tiêu đề thì hầu như những tình khúc đã hát về Huế là hát về sông
Hương:
Hoàng hôn rơi ngơ ngẩn hàng thùy dương. Lạnh lùng trong bóng
chiều dòng sông Hương
(Khúc tình ca xứ Huế - Trần Đại Mỹ)
Hàng cây soi bóng nước Hương, thuyền xa đậu bến Tiêu Tương lưu
luyến thay phút say hương dịu buồn
(Đêm tàn Bến Ngự - Dương Thiệu Tước)
Ngày mai lênh đênh trên sông Hương. Theo gió mơ hồ hồn về đâu
sông sầu còn...
(Gợi giấc mơ xưa - Lê Hoàng Long)
Một chiều lang thang bên dòng Hương Giang, tôi gặp một tà áo tím,
nhẹ thấp thoáng trong nắng vương
(Tà áo tím - Hoàng Nguyên)
https://thuviensach.vn
Cả những khi không cần nhắc tên dòng sông, không nhắc đến Huế,
nhưng câu ca vẫn nói về dòng Hương Giang:
Tiếng đàn xao xuyến, phím tơ lưu luyến, mấy cung u huyền, mấy cung
trìu mến như nước reo mạn thuyền. Âm ba thoáng rung cánh đào rơi. Nao
nao bầu sương khói phủ quanh trời
(Thiên thai - Văn Cao).
Em đi qua chuyến đò, lắng nghe con sông nằm kể, trăng ơi trăng rất
tệ, mày đi nhớ chóng về
(Biết đâu nguồn cội - Trịnh Công Sơn)
Con sông nhẹ như thơ, như nhạc cũng đã đi vào tranh, vào ảnh, vào
những tác phẩm mỹ thuật, mỹ nghệ với những sắc màu lung linh và đường
nét gợi cảm. Cũng bởi thế mà tranh vẽ về sông Hương, ảnh ghi lại những
phút giây vô thường của dòng sông nầy cũng là những tác phẩm đắc ý của
nhiều tác giả.
Vẻ đẹp sơn thủy hữu tình của sông Hương còn gắn liền hài hòa với
kinh thành, lăng tẩm, đền chùa, với các công trình kiến trúc và những mảnh
vườn xanh tươi của xứ Huế. Ven hai bờ sông Hương, một dãy kinh thành
cổ kính với các tòa Nghinh Lương đình, Phu Văn lâu, Thương Bạc đình và
các cửa thành thâm nghiêm, gắn kết với những cung điện thấp thoáng trên
bờ, với hệ thống lăng tẩm kiến trúc xinh xắn của các bậc vua chúa, với
chùa Linh Mụ, điện Hòn Chén, đồi Vọng Cảnh, gò Long Thọ một thời trầm
mặc soi bóng xuống dòng sông.
Con sông nửa thực nửa mơ nhưng đã làm nên thần thái của Huế. Có ai
đó - hình như là Nguyễn Tuân - đã từng đưa ra một câu hỏi tàn khốc "Giả
như Huế không còn sông Hương". Chỉ "giả như" thôi mà đã làm rúng động
lòng người. Không cần phải đến lúc dòng sông mất đi, chỉ cần những ngày
dòng sông vẩn đục bất thường thì từ trên những trang văn, trang báo đã
bàng hoàng lên tiếng báo động "Ai cứu lấy dòng sông Hương?" và cả trên
trang thơ cũng ngậm ngùi:
Thuyền chao chạnh bao ngày sông bệnh
Để rồi lại reo vui
Dòng Hương Giang chớm mùa xanh lại
https://thuviensach.vn
Nghe niềm vui chan chứa đôi bờ
(Chiều cuối năm - Lê Hương Huyền)
Mà quả thật chỉ cần giữ cho dòng sông như suối tóc xanh, cài lên dòng
sông "một chiếc lược ngà sáu vài mười hai nhịp" như thi sĩ Nguyễn Bính đã
ví von là sông Hương với cầu Trường Tiền duyên dáng sẽ trở thành một
biểu tượng về Huế, về một vùng văn hóa đậm chất thơ, chất nhạc, chất lễ
hội.
Và Huế dang chuyển mình từ một cố đô thành một thành phố Festival.
Vẫn dáng xưa trầm mặc, vẫn hiền hòa trang nhã, nhưng sẽ không phai
những nét sang trọng của vùng đất kinh kỳ văn vật. Đêm đêm, Huế lại thắp
lên những ngọn nến huyền ảo, thả xuống dòng sông để đèn hoa cùng trôi
theo tiếng đàn, tiếng hát. Đêm đêm cầu Trường Tiền bắc qua dòng sông lại
tô thêm những mảng sáng nghệ thuật, tạo thêm cho sông Hương một vẻ lấp
lánh tân kỳ. Và đã bừng lên trong một mùa lễ hội - Festival Huế 2002 sông Hương, với cầu Trường Tiền đã vươn dậy, trải lên mình lớp lớp những
chiếc chiếu hoa, biến thành một sân khấu nghệ thuật hoành tráng, nâng lấy
bước đi của hàng trăm nữ sinh xứ Huế, với vô vàn những chiếc áo dài đầy
sắc màu lung linh tuôn chảy để tôn vinh vẻ đẹp truyền thống của phụ nữ
Việt Nam, làm thăng hoa hình ảnh chiếc áo dài độc đáo đã sản sinh từ xứ
Huế.
Cao điểm trong những lễ hội của Huế còn là những đêm Hoa đăng lấp
lánh thuyền hoa, đèn hoa, pháo hoa... thắp sáng cả dòng sông Hương, sáng
cả đôi bờ, tạo ra một Huế lung linh huyền ảo về đêm. Với hàng vạn chiếc
đèn hoa thả xuống dòng sông, người Huế mong muốn gởi theo những ước
nguyện tốt đẹp, cầu chúc vạn sự an lành.. Cùng với dòng sông Hương, một
dòng văn hóa đậm đà truyền thống của Huế cũng đã ra đời và sẽ chảy mãi
đến tận mai sau, chảy vô tận trong tâm hồn nhiều thế hệ.
https://thuviensach.vn
Hồn Thơ Huế Thi Sĩ Hàn Mặc Tử
Lê Văn Lân - Trần Thanh Địch
Hàn Mặc Tử: một kiếp khổ đau!
Cách đây 65 năm, vào buổi trưa ngày 11 tháng 11 năm 1940, một
người nằm xuống sau nhiều năm tháng đau đớn, nứt nở thịt da. Ông ta là
bệnh nhân của trại cùi Quy Hòa mang số hiệu 1314. Trên cây Thánh giá
trồng trên mộ phần của ông, ghi hàng chữ Phêrô Phanxico Nguyễn Trọng
Trí. Đây chính là nhà thơ Hàn Mặc Tử.. Ông vừa giống lại vừa khác thế
nhân chúng ta. Giống ở chỗ cùng mang kiếp nhân sinh, với thịt xương và
một cấu trúc thần kinh cao đẳng, biết ăn, biết ngủ, biết cảm xúc, biết tư duy.
Nhưng khác ở chỗ: Thế nhân chết đi thì rơi vào quên lãng, tĩnh mịch còn
Hàn Mặc Tử chết rồi nhưng tiếng thơ còn mãi! Chúng ta chết rồi, linh hồn
có thể còn khắc khoải chưa biết về đâu vì không trang bị. Một niềm tin
tưởng siêu linh, còn Hàn Mặc Tử thuở sanh tiền đã đối đầu và tôi luyện
trong niềm đau khổ cực điểm nên linh hồn đã được thăng hoa trong một
niềm tin vào Chúa!
https://thuviensach.vn
Hàn Mặc Tử: Một linh hồn vượt hẳn cõi nhân gian!
Nhìn lại phong trào thơ mới ở Việt Nam khoảng 1932-1945, sự xuất
hiện của tiếng thơ dồi dào và sâu đậm nhất trong khuynh hướng nói về cõi
Chết, về siêu hình, nhất là về Chúa thì độc nhất có Hàn Mặc Tử .
Tập Thơ "Điên" của Hàn Mặc Tử khiến người đọc bỗng hoàn toàn rời
khỏi cái thế giới thực tại của thế nhân đến nỗi nhà bình thơ Hoài Thanh
trong cuốn "Thi nhân Việt Nam" phải thảng thốt viết rằng:
"Một tác phẩm như thế, ta không thể nói hay hay dở, nó đã ra ngoài
vòng nhân gian, nhân gian không có quyền phê phán. Ta chỉ biết trong văn
thơ cổ kim không có gì kinh dị hơn... Ta chỉ biết ta đang đứng trước một
người sượng sần vì bệnh hoạn, điên cuồng vì đã quá đau khổ trong tình
yêu..."
Ông Hoài Thanh thú nhận rằng ông phải bỏ ra ròng rã "ngót một tháng
trời" để đọc toàn bộ thơ của Hàn Mặc Tử và ông "đã mệt lả" (sick) (tr.205).
Kể ra thật đúng khi ta tìm gặp rất nhiều câu thơ như sau:
Hồn của Hàn Mặc Tử không những chỉ vất vưởng trong cõi vô hình
mà nhiều lúc đã:
https://thuviensach.vn
Cười như điên sặc sụa cả mùi trăng...
Gào thét một hồi cho rởn óc
Cả thiên đàng, trần gian và địa ngục
(Hồn là ai?)
Hồn có lúc lạc vào nơi
thiên sầu, địa thảm giới Lâm bô [1],
có lúc lại bay ra ngoài vũ trụ để:
Tắm gội trong nguồn ánh sáng,
Ca những điệu ngọc vàng cao sang sảng.
Hoặc có lúc tinh khiết, nhẹ nhàng ngoài mức ngôn ngữ phàm tục:
Thượng thanh khí tiết ra nguồn tinh khí
Xa xôi đồi trăng mọc nước Huyền vi
Đây miên trường, đây vĩnh cửu, tề phi
(Đừng cho lòng bay xa)
Hàn Mặc Tử: một viên kim cương trong dòng thơ Kitô giáo ở Việt
Nam!
Hàn Mặc Tử đã sống đạo, chết đạo và sáng tác thơ Đạo một cách tha
thiết khiến nhiều người cho Tử là một "nhà thơ tôn giáo", nhưng thực sự Tử
đã vượt hẳn lên cái mục đích "truyền bá đức tin" của những thừa sai và giáo
đồ trong giai đoạn tiên khởi ở Việt Nam. Thơ của Hàn Mặc Tử là một sự
cảm nghiệm độc đáo! Đọc thơ Tử, người ta bèn thấy nguồn đạo trong thơ
Tử không hạn hẹp với ý nghĩa một tôn giáo mà là một cái gì thuộc về hoàn
vũ (universel).
Hoài Thanh trong cuốn Thi Nhân Việt Nam (1941) nhận định rất đúng
rằng:
"Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên, cả hai đều chịu rất nặng ảnh hưởng
Baudelaire và qua Baudelaire, ảnh hưởng nhà văn Mỹ Edgar Poe, tác giả
tập Chuyện lạ. Có khác chăng là Chế Lan Viên đã đi từ Baudelaire, Edgar
Poe đến thơ Đường, mà Hàn Mặc Tử đã đi ngược lại từ thơ Đường đến
Baudelaire, Edgar Poe và đi thêm một đoạn nữa cho gặp Thánh Kinh của
đạo Thiên Chúa.
https://thuviensach.vn
Chính nhờ Thánh Kinh và tinh thần Tin Mến Cậy sốt sắng vào Thiên
Chúa. Thơ Hàn Mặc Tử đưa người đọc gần Chúa vô cùng!
Hàn Mặc Tử vướng vào bệnh cùi lúc tuổi còn trẻ đang lúc yêu đời.
Bệnh này như một định mệnh đã đọa đầy Hàn Mặc Tử trong một vũng đau
thương tuyệt vọng:
...Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?
Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?
(Những giọt lệ)
...Thân tàn ma dại đi rồi
Rầu rầu nước mắt bồi hồi ruột gan
(Muôn năm sầu thảm)
Hàn Mặc Tử trong bài "Hồn là ai" đã tự mô tả cái hành hạ thể xác
bằng giọng thống thiết sau:
...Áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng
Hồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiến
Thịt da tôi sượng sần và tê điếng
Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên...
Dựa vào sự phát triển của bệnh cùi trong đời ông, ta thấy ba giai đoạn
tương ứng trong thi nghiệp của ông:
1. Giai đoạn tiền bệnh: trước năm 1936 (nghĩa là trước lúc vô bệnh
viện Quy Hòa (1937), đánh dấu bằng những tập "Đường luật" và "Gái Quê"
với một giọng trong sáng, nồng thắm, yêu đời cuồng nhiệt, một khí lực
phương cương dồi dào tính dục trong lứa tuổi đôi mươi.
2. Giai đoạn bệnh phát lộ đánh dấu bằng tập thơ "Đau Thương", "Thơ
Điên" nên tiếng thơ thống thiết, cực kỳ bi thảm như một con chim biết rằng
mình sắp chết. Thiên kiến của người đời xa lánh mình cộng vào đó sự đau
khổ vì tình duyên trắc trở đã làm Hàn Mặc Tử càng đau khổ:
Lòng ta sầu thảm hơn mùa lạnh
Hơn hết u buồn của nước mây
Của những tình duyên thương lỡ dở
Của lời rên siết gió heo may
https://thuviensach.vn
3. Giai đoạn cuối cùng của Hàn Mặc Tử được định mốc bằng tập thơ
"Xuân Như Ý". Khi ý thức rằng mình không còn hy vọng sống lâu Hàn
Mặc Tử càng tìm nguồn giải thoát cho linh hồn khắc khoải qua tôn giáo và
những khải thị siêu phàm. Giọng thơ không còn rên rỉ, mà thanh thoát,
thăng hoa.
Vào bệnh viện Quy Hòa, thi nhân đã tập được đức tính an vui trong
nguồn đau khổ. Trong một lá thơ gửi cho ông bạn thân là Trần Thanh Địch,
Tử kể lại rằng mỗi ngày đều đều ông liên tiếp ít nhất năm sáu lần vừa đọc
kinh vừa ngâm thơ.
Nhưng ba tháng sau, cơ thể quá suy kiệt và thêm bị chứng kiết lỵ nên
vài ngày thì tạ thế (ngày 11 tháng 11 năm 1940 hưởng dương 29 tuổi).
Trên giường bệnh, biết mình sắp chết, tâm hồn thi nhân vẫn vô cùng
sáng suốt và giữ một thái độ bình thản như sốt sắng viết một bản kinh
nguyện bằng tiếng Pháp là La Pureté de l'âme. (Sự thanh khiết của linh
hồn) để dọn mình về với Chúa.
[1] Theo nghĩa từ điển tiếng Anh Linbon nơi giam cầm người chết mà
không làm đủ phép bí tích theo Công giáo.
https://thuviensach.vn
Từ Bài Tới Ra Bài Chòi, Bài Thai
Hoàng Phủ Ngọc Phan
Từ Nam chí Bắc, mỗi nơi có một loại bài để chơi bài tiêu biểu. Như
Bắc có Tổ Tôm, Mạt Chược, Nam có Tứ Sắc, riêng Huế là có bài Tới. Bài
Tới ngoài 6 người ngồi chơi trên chiếu còn để chơi bài Thai và bài Chòi.
Chưa biết tác giả vô danh nào đó đã sáng tác ra bộ bài này với nhiều hình
tượng tiêu biểu trong đời sống dân dã. Sau đây là nội dung chi tiết.
Bài Tới không phải là cờ bạc
Cách đây vài ba thập kỷ, bài Tới là một trò chơi giải trí rất thịnh hành
ở các tỉnh miền Trung. Ngày Tết những người trong gia đình ngồi lại với
nhau, xây một sòng bài Tới, đặt một chút tiền tượng trưng, ăn thua nhỏ chỉ
cốt gây không khí vui vẻ, đầm ấm.
Trong khi các loại bài khác đều có nguồn gốc ngoại lai, bộ bài mắc
tiền, cách chơi phức tạp, ăn thua lớn thì bài Tới là một sáng kiến thuần túy
Việt Nam. Bộ bài rẻ tiền, gọn nhẹ, cách chơi đơn giản, tên các lá bài nôm
na mộc mạc dễ nhớ và vui tai: nhất Trò, nhị Đấu, tam Quăn, tứ Cẳng... Rõ
ràng, người sáng chế ra bộ bài Tới đã có ý thức tìm một lối giải trí lành
mạnh để phục vụ số đông đồng bào bình dân kể cả người già, trẻ em.
Những người này không thể và cũng không muốn bước vào sân chơi của
dân cờ bạc.
Trong gia đình, bài Tới có thể chơi từ ít nhất là 2 người, nhiều nhất là
6 người chia làm hai phe. Nhưng vào dịp Tết, yêu cầu giải trí cao hơn, do
đó bài Tới được nâng cấp thành bài Chòi, mỗi lần có 12 người tham dự,
chơi một hội 12 ván, kéo dài chừng vài giờ, ăn hay thua nhiều nhất cũng
chỉ có 1 ván. Cái thú vị của bài Chòi không phải ở chỗ ăn thua tiền bạc mà
ở không khí đông vui. Nhà cái ngồi ở chòi trung tâm để điều khiển cuộc
chơi. Nhà con ngồi trong những chòi cách biệt. Chòi làm bằng tranh tre, có
sạp chắc chắn, ngồi được vài ba người. Nhân vật quan trọng nhất là người
https://thuviensach.vn
rao bài và liên lạc giữa các chòi. Kết thúc ván bài có chiêng trống nổi lên
chúc mừng. Chòi nào tới (thắng) một ván được cắm trước cửa chòi một lá
cờ. Cách chơi này không thể có cách gì gian lận được.
Để cuộc chơi thêm phần tao nhã hào hứng, người rao bài phải học
thuộc một số câu hò vè do các văn nhân thi sĩ sáng tác, ví dụ:
Tóc quăn lấy đá mà đằn
Đá bay đường đá, tóc quăn lên trời
(Là con Quăn)
Một sáng kiến đậm nét văn hóa của bài Tới là bài Thai. Trong cách
chơi bài Thai, tên của mỗi lá bài được nhà cái giới thiệu bằng cách rao lên
một vài câu bóng bẩy để nhà con suy đoán. Những thai đố này là trò chơi
chữ, thoạt nghe tưởng dễ nhưng mà rất khó, ví dụ:
Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh phao câu làm mề...
Nghe hai chữ tiết hạnh có người đoán là con Bạch Tuyết. Nghe bốn
chữ phao câu làm mề ai cũng liên tưởng đến con Gà. Nhưng khi nhà cái
khui bài thì đó là con Bằng đầu. Lại có câu rất văn hoa lãng mạn:
Sầu tương tư đêm cũng như ngày
Hai má hồng đào em phai phấn
Hai mái tóc dày em hóa sưa (thưa)
Đã thương nhau nói mấy cho vừa
Xin hỏi người quân tử:
Vậy là con Sưa hay con Dày?
Có thể nói bài Tới là trò chơi mang đậm màu sắc lễ hội, văn hóa dân
gian, không thể lẫn lộn với bất cứ một trò cờ bạc nào khác.
Bộ bài Tới có 30 đôi, phỏng theo bài Tổ Tôm mà chia làm ba pho văn,
vạn, sách, gồm:
- 9 đôi vẽ mặt người có tên: nhất Trò, nhị Đấu, tam Quăn, tứ Cẳng,
ngũ Trưa, lục Xơ (chuôm), thất Nhọn, bát Bồng, cửa Bệp (thầy chùa).
- 9 đôi có hình bán nguyệt là: Trường Hai, Trường Ba, Rún Liễu, 6
Tiền, 8 Tiền, Voi, Xe và Bạch Tuyết (Bạch Huê).
https://thuviensach.vn
- 9 đôi vẽ với hình sọc ngang, có nút tròn gồm: Nghèo, Gà, Gióng,
Bằng đầu, Dày, Sưa, 8 Dây, Gối và con Nọc Đượng.
Ngoài ra có ba đôi bài chủ có đóng dấu đỏ nên gọi là bài đỏ: Thái tử,
ông Âm, Đỏ Mỏ.
Những tên gọi nôm na của các lá bài ấy khiến ta liên tưởng đến hình
ảnh của một xã hội Việt Nam thời phong kiến còn thịnh. Nhất Trò là anh
học trò với cái "mác" kẻ sĩ, đứng đầu trong các thành phần giai cấp. Nhị
Đấu là binh lính hoặc con nhà võ. Còn tam Quăn với đầu tóc Quăn - có lẽ
là hình ảnh của ngoại kiều như người Chà Và (Ấn Độ) hoặc các nhà truyền
giáo phương Tây vốn có mặt rất sớm ở nước ta, gây ảnh hưởng và ấn tượng
rất đáng kể. Ngũ Trưa là loại cậu ấm, lười biếng vô tích sự. Lục Xơ là nông
dân đói rách. Thất Nhọn (nhọn mồm) là loại thầy cung thầy kiện, miệng
lưỡi sắc bén đáng sợ. Bát Bồng là ông pháp sư, thầy cúng. Cửu Bệp là nhà
sư.
Ngoài ra ở các lá bài đỏ có Thái Tử tượng trưng cho thế lực giai cấp
phong kiến, quý tộc thống trị. Ông Ầm là thiên lôi trên trời giáng xuống
gây thiên tai như sấm sét, bão tố. Đỏ Mỏ là thần trùng đỏ mỏ gây thổ tả,
dịch hạch. Cả ba thứ trên đều là những quyền lực đáng sợ đối với quần
chúng bình dân.
Những pho bài còn lại có lá dễ hiểu như Gióng, Gối, Gà, Xe, Voi... Có
những lá mang tên khó hiểu như Bằng đầu, 8 Dây. Đặc biệt có ba lá bài chỉ
những bộ phận kín đáo trong cơ thể là Rún, Bạch Tuyết, Nọc Đượng hẳn là
để giúp người chơi bài những phút đùa cợt thư giãn. Hai lá bài Trường Hai
và Trường Ba là tên hai kỳ thi ngày xưa. Những kỳ thi này đến năm 1916
đã bị bãi bỏ. Do đó có thể suy đoán, bài Tới có thể đã ra đời trễ nhất là vào
khoảng đầu thế kỷ 20. Xã hội trong bộ bài Tới phản ánh sinh hoạt của quần
chúng bình dân nên trò chơi này rất phát triển ở nông thôn.
Tính biểu trưng không chỉ thể hiện ở tên gọi các lá bài mà đặc biệt còn
thể hiện ở lối vẽ của người họa sĩ. Những lá bài hình mặt người có lẽ mô
phỏng theo cách hóa trang của các nhân vật trên sân khấu hát bội. Nhưng
những con Gà, Gióng thì rõ là nét vẽ của một trường phái hội họa rất hiện
đại. Một ng...
 





