Sách Nói] Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn - Chương 1
Lịch Sử Nhà Tù Côn Đảo 1862 – 1975

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 02h:41' 08-04-2024
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 02h:41' 08-04-2024
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
Lịch Sử Nhà Tù Côn Đảo (1862 - 1975)
Tác giả: Nhiều Tác Giả
Nhà xuất bản: Nxb Tổng hợp TP.HCM
Định dạng: Bìa cứng
Ngày phát hành: 01/2010
Giá bìa: 120.000 ₫
Số trang: 700 trang
Nguồn text: Giangtvx (quansuvn.net)
Epub (02/2019): @lamtam, tve-4u.org
GIỚI THIỆU
Cuốn sách là bức tranh toàn cảnh về cuộc đấu tranh ở Côn Đảo
qua các thời kỳ, là khúc hùng ca trong thiên anh hùng ca vĩ đại của
dân tộc trong cuộc chiến chống thực dân, đế quốc để giành độc lập tự
do.
Nhà tù Côn Đảo từ cuối thế kỷ 19 luôn luôn phản ánh cuộc đấu
tranh cách mạng của nhân dân qua các giai đoạn, bởi lẽ địch giam ở
đây những chiến sĩ cách mạng mà chúng cho là nguy hiểm nhất ở
khắp các miền của đất nước.
LỜI TỰA CỦA GIÁO SƯ TRẦN VĂN GIÀU
(Viết riêng cho cuốn Nhà tù Côn Đảo 1955-1975)
Tôi được bạn bè yêu cầu viết tựa cho sách, rất nhiều lần, nhưng
lần này, giới thiệu tập “Lịch sử Nhà tù Côn Đảo 1955-1975” tôi lo quá;
đọc một lần đã thấy lo đọc hai lần càng thấy lo. Lo không giới thiệu
được nội dung cơ bản của tập sử, nội dung cơ bản ấy là cực kỳ sâu
sắc, bởi hàm ý những sự việc và nhân cách của những con người
được kể ở trong sách.
Những sự việc và con người được ghi lại một cách khách quan,
khoa học, đáng là đề tài vô tận của một thiên anh hùng ca mà có lẽ
khó có một nhà thơ nào ở nước ta và cả trên thế giới tìm ra ở trong trí
tương tượng thâm viễn của mình. Trong trường hợp này, một bài giới
thiệu của một thầy giáo lịch sử như tôi chỉ có thể là một lời mời đọc,
đọc để rồi đọc lại, đọc đi đọc lại để mà suy gẫm, suy gẫm về đạo làm
người chiến sĩ yêu nước yêu dân, suy gẫm về con người Việt Nam
trong thời đại Hồ Chí Minh, khi đứng trước cảnh ngộ thiên nan vạn
nan, khi đứng trên bờ vực giữa cái sống và cái chết, giữa cái vinh
không cần ai biết và cái nhục mà chính mình cảm thấy hơn ai hết. Tập
sách “Lịch sử Nhà tù Côn Đảo 1955-1975” thực tế là một quyển sách
đạo đức học, một quyển triết học.
Trong đời hoạt động cách mạng của mình, tôi đã phải trải qua
nhiều nhà tù, trong số đó có ngục Côn Lôn. Tôi lại được đọc nhiều
sách xưa nay nói về nhà tù của các vua chúa, của tư bản thực dân,
của bè lũ phát xít. Như vậy, tôi có khá nhiều tài liệu để so sánh các
chế độ nhà tù tàn bạo, thì các nhà tù đó cái nào cũng tàn bạo, chỉ có
mức tàn bạo, cách tàn bạo và mưu sâu bên trong là khác nhau. Cho
đến trước khi Hồng quân Liên Xô cắm cờ chiến thắng trên nóc nhà
quốc hội Berlin, thì nhà tù của Hitler là tàn bạo nhất, với ý nghĩa chính
là giết nhiều người nhất: hàng triệu, hàng triệu dân Do Thái bị giết
bằng hơi độc, thuốc độc, điện giật. Nói ra thì có lẽ không phải, nhưng
cái chết bằng hơi độc, thuốc độc, điện giật, giết một lần hàng vạn sinh
linh, cái chết đó người chiến sĩ tù nhân Việt Nam mình có mấy ai sợ
đâu? So với cái tàn ác ở nhà tù Côn Đảo dưới chế độ Mỹ ngụy, thì
nhà tù Hitler giống như ao cạn so với vực thẳm. Mỹ ngụy thâm độc
hơn Hitler biết bao nhiêu! Nhà tù Côn Lôn thời Pháp thuộc đã là địa
ngục ở trần gian rồi, đến thời Mỹ ngụy, là địa ngục trong địa ngục, và
nói như vậy cũng chưa vừa.
Bị đày ra Côn Lôn (1935), khi ấy tôi từng bị tống ngay vào xà lim số
1, xà lim này rộng 3 x 3 x 1,5 mét, còng một chân. Mà trời ơi, làm sao
so được với thời Mỹ ngụy cũng trong cái xà lim đó , Mỹ ngụy nhốt tới
28 người, cửa đóng, lỗ thông hơi bịt kín, tù nhân lại còng tréo 2 tay và
2 chân. Dưới thời thực dân Pháp, tụi tôi ở Banh I bãi thực chống ăn
khô mục, cuộc đấu tranh dài nhất là 9 ngày, bị đánh một lần suốt buổi
bằng mấy cần xé mây cà dông đến mây tả tơi ra. Vụ Tôn Đức Thắng
ở trong số đồng chí bị khủng bố hôm ấy, lưng mỗi người bầm tím
100%.
Vậy mà so với anh em bị biệt giam thời Mỹ ngụy, cũng ở đây, thì
có “thấm” gì? Nhiều lần anh em bãi thực đòi ăn cơm có rau, mà phải
bãi thực đến 20 ngày, một tháng, 60 ngày và hơn nữa, bọn chúa ngục
lại đập bể các lu nước, bao: “Để bây chết đói và chết khát cho trọn”'.
Mà, đã yên để không ăn không uống đâu, ngày ngày chúng vào
khám, đánh tù nhân đấu tranh bằng củi đòn, củi chẻ; mây càdông
đánh mãi thì tả tơi, củi đòn củi chẻ đánh mãi không mòn, chỉ có sọ vỡ,
thịt nát mà thôi!
Đã vậy, ở Chuồng Cọp, bọn gác dang, giám thị còn ban ngày thì
đánh, ban đêm thì phân công nhau, đứng trên dội nước lạnh xuống,
10 đêm, 20 đêm, 30 đêm như thế, liên tục, thân xác con người nào
mà chịu nổi?
Vậy mà chiến sĩ biệt giam cộng sản ở Chuồng Cọp Côn Lôn chịu
nổi, thà chết, không hàng!
Hành hạ một cách tàn ác như vậy, để làm gì?
Có phải để thỏa mãn cái thú tính cửa bọn Mỹ ngụy và những quỷ
sứ tay sai của chúng nó chăng?
Không Cốt để cho các chiến sĩ cách mạng phải:
1. Chịu ký tên “ly khai Đảng Cộng sản”;
2. Hô lên “đả đảo Hồ Chí Minh”!
Chỉ cần hạ bút ký tên và mở miệng hô năm tiếng thì khỏi còng, khỏi
củi chẻ, khỏi bị xối nước lạnh. Có bạn đã nhận thức đúng, hết sức
đúng, rất sâu sắc rằng:
“Hành hạ người tù đau đớn tột cùng về thể xác, truy bức người tù
căng thẳng tột độ về tâm lý, dai dẳng và trường kỳ, chúng đẩy người
tù đến bên miệng hố của tử thần, để họ day dứt, trăn trở, chết dần
chết mòn từng giờ, từng phút. Song cứ mỗi lần họ hấp hối, họ tỉnh
dậy, họ thề với lương tâm một lần nữa quyết chết cho lý tưởng, chết
để vẹn toàn khí tiết, thì chúng nó lại nhượng bộ một chút, nới ra một
tí, cho họ ăn uống trở lại, sinh hoạt bình thường để họ khát khao sự
sống. Chập chờn giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết
hàng chục lần, hàng trăm lần như vậy, thì tư tưởng, tâm trạng con
người luôn luôn căng thẳng, dễ dao động, chẳng khác gì một thỏi thép
quẳng vào lò, nung đỏ lên rồi quăng xuống nước cho nó biến dạng,
rạn nứt. Bọn cải huấn, công an, mật vụ, tâm lý chiến chực sẵn để
chộp lấy những giây phút dao động, mềm yếu của tù nhân mà đánh
tiếp những đòn tiến công khác”.
Hiểm độc và tàn bạo, càng tàn bạo càng hiểm độc của Mỹ ngụy và
tay sai là như thế.
Cho nên, đã không ít tù chính trị sau bao nhiêu cuộc giao tranh bị
thất bại, bị khuất phục trước những ngón đòn tàn bạo và hiểm độc ấy.
Hàng ngàn người ở nhà tù Côn Đảo trở về với tấm thân tàn phế, quằn
quại cho đến chết, chết trong ân hận đã lỡ bước sa cơ.
Nhưng số đông tù chính trị, nếu bị khuất phục thì ấy là khuất phục
tạm thời ngoài mặt để giư lấy mạng sống, hòng có ngày chiến đấu
phục thù.
Một số khác, không ít người, sống lại, chết đi hàng chục lần mà
vẫn không khuất phục. Trong cuộc chiến đấu dài 20 năm này ( 19551975), trong cuộc đấu tranh liên tục, thiên hình vạn trạng này, giữa
tàn bạo có vũ khí tận răng và chính nghĩa giải phóng ở trong thế tay
chân bị còng, chỉ còn khí tiết và lý tưởng là vũ khí, thì rốt cuộc phần
thắng đã về ai?
Kỳ diệu thay mà cũng là tất yếu thay, như lời của Nguyễn Trãi tạc
trên bia đá Lam Sơn, yếu thắng mạnh, ít thắng nhiều, chí nhân thắng
cường bạo. Trong trường hợp cuộc đấu tranh rung động trăng sao, ở
Côn Đảo từ 1955 đến 1975, khí tiết cộng sản đã thắng cường quyền
và mưu ma chước quỷ của Mỹ ngụy. Những “ngôi sao” của biệt giam
Chuồng Cọp hãy còn sống và hãy còn giương cao ngọn cờ Hồ Chí
Minh, kẻ địch không có cách nào hạ nổi! Ngọn cờ ấy, thực tế vẫn là
ngọn cờ của hầu hết anh em đã gặp phải lúc sa cơ mà ở đáy lòng
không bao giờ có ý “ôm cầm thuyền ai”, đông đảo trở lại hàng ngũ
đấu tranh. Ngọn cờ ấy lại là tiêu biểu ở Côn Đảo, xứng đáng với ý chí
toàn dân Việt Nam đang quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào”.
Tôi đồng tình với người viết sách “Lịch sừ Nhà tù Côn Đảo 19551975” tuyên dương tinh thần đấu tranh trực diện chống li khai của tù
chính trị câu lưu Trại I, của tù án chính trị chống chào cờ ngụy với
những tấm gương sáng tiêu biểu như Cao Văn Ngọc, Lưu Chí Hiếu,
Trần Trung Tín; tuyên dương sự bền bỉ chiến đấu vô song của “Năm
ngôi sao tù chính trị câu lưu”, của “Sáu ngôi sao tù án chính trị”. Tôi
thành thật khâm phục, xin cúi đầu trước ông già Cao Văn Ngọc vốn
làm chức hương quản làng dưới thời Pháp, theo cách mạng từ mùa
thu 1945; ông chỉ là thư ký nông hội xã; ông không phải là đảng viên
cộng sản mà kiên quyết đến cùng, đấu tranh chống ly khai Đảng,
chống hô khẩu hiệu đả đảo Cụ Hồ .
– Chúa ngục hỏi: “Ông không phải là đảng viên cộng sản, ông mắc
nợ gì với Hồ Chí Minh mà không chịu hô đả đảo” .
– Già Ngọc bình tĩnh đáp: “Tôi mắc nợ Cụ Hồ Chí Minh đã đem lại
độc lập tự do cho nước Việt Nam”.
Tôi khâm phục người thợ giày Lưu Chí Hiếu, lưu lạc từ Nam Định
ra Hà Nội, vào Sài Gòn, tham gia khởi nghĩa và kháng chiến, chức vụ
chỉ tương đương tiểu đội trưởng, nhưng lại thể hiện xuất sắc bản lĩnh
người cộng sản, quyết tử chống li khai trong lần quyết định vận mệnh
của cuộc chiến đấu vào lúc hiểm nghèo, tên anh đã trở thành một
ngọn cờ của tù nhân chính trị toàn đảo.
Đó là thứ “Vàng trong lửa”, đó là đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng
cách mạng, cua nhân cách Việt Nam, của khí tiết cộng sản.
Mong rằng các vị anh hùng ở nhà tù Côn Đảo được ca tụng xứng
đáng nhất bằng những tập sách gối đầu giường cho thanh niên, được
biểu dương xứng đáng nhất bằng những pho tượng đặt ở quê hương
và ở các nhà trường.
Mong rằng các sự tích ở Côn Lôn, từ thuở Pháp biến nó thành nơi
lưu đày tù chính trị cho đến thời 1955-1975, được ghi tạc chẳng
những bằng tượng, bằng tranh vẽ và tranh điêu khắc mà còn được
phổ biến rộng rãi bằng những cuốn phim. Tất cả những công việc đó
của nhà làm lịch sử và làm văn nghệ đều nhằm để lại cho các thế hệ
những tấm gương sáng ngời của con người Việt Nam thời đại Hồ Chí
Minh.
Sau hết, tôi như là một thầy giáo có nghiên cứu lịch sử xin hoan
nghênh các tác giả Lịch sử Nhà tù Côn Đảo đã có công sưu tầm tư
liệu, “nói có sách, mách có chứng”, đã chú ý đến việc hết sức cần
thiết là gặp từng cựu tù quan trọng nào có thể gặp được, chép từng
bản lý lịch, ghi từng chuyện kể; bằng cách đó, tác giả lưu giữ, tập hợp
được một số lượng lớn tư liệu cho bản thân mình, còn viết nhiều về
Côn Đảo, có thể là viết cả đời những ai là bạn đồng hành, văn nhân
hay nghệ sĩ, trong sự nghiệp tái hiện cái địa ngục trần gian - “ngục
Côn Đảo”.
Giáo sư Sử học
TRẦN VĂN GIÀU
Mở Đầu:
VÀI NÉT VỀ ĐỊA LÝ VÀ
LỊCH SỬ QUẦN ĐẢO CÔN LÔN
Thiên nhiên Côn Đảo
Côn Lôn là một trong những quần đảo tiền tiêu của nước ta, “nguy
nga đứng trấn giữa biển Đông” (Đại Nam nhất thông chí), bao gồm 16
hòn đảo lớn nhỏ, với tổng diện tích là 76,71km2, trải ra trên một vùng
biển có tọa độ địa lý từ 106°3' đến 106°45' kinh độ đông; từ 8°34' đến
8°49' vĩ độ bắc(1), cùng một kinh độ với Thành phố Hồ Chí Minh và
cùng một vĩ độ với thị trấn Năm Căn (Cà Mau).
Đường biển từ Côn Lôn đến Vũng Tàu dài 179 km, đến Thành phố
Hồ Chí Minh 230 km, đến cửa sông Hậu 83 km, đến thành phố Cần
Thơ 165 km.
Sử sách nước ta xưa nay gọi hòn đảo lớn nhất là đảo Côn Lôn (gọi
tắt là Côn Đảo), cả quần đảo này cũng được gọi chung bằng địa danh
ấy - quần đảo Côn Lôn. Người ta cũng thường gặp những biến dạng
gần gũi của tên gọi đó như: Côn Lôn Sơn, Côn Sơn, Côn Nôn.
Từ ngày thành lập đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo (30-5-1979), Côn
Đảo là địa danh chính thức của hòn đảo lớn nhất cũng như của cả
quần đảo.
Đảo Côn Lôn là một hòn đảo lớn từ đông sang tây, dài 15 km, chỗ
rộng nhất là 9 km, chỗ hẹp nhất khoảng một km. Với diện tích 51,52
km2, đảo Côn Lôn chiếm gần 2/3 tổng diện tích quần đảo. Trên đảo
có thị trấn Côn Đảo nằm ở tọa độ 8°40'57” vĩ độ bắc, l06°36'l0” kinh
độ đông. Nói đến quần đảo Côn Lôn là nói đến hòn đảo này, vì đời
sống kinh tế - chính trị và xã hội của cả quần đảo tập trung ở đây. Từ
khi Pháp thiết lập nhà tù, Côn Đảo không còn dân thường. Không kể
tù nhân, bộ máy cai trị (kể cả gia quyến họ) trước Cách mạng tháng
Tám (1945) không đến 500 người.
Hòn Bà tiếp giáp với hòn Côn Lôn về phía Tây - Nam, hai đảo chỉ
cách nhau bằng khe nước Họng Đầm không quá' 20m. Giữa hai đảo
này là Vũng Đầm, còn gọi là vịnh Tây - Nam, giống hình cái quạt mở
về hướng tây bắc. Vũng Đầm sâu lại ở vào nơi khuất gió, thuận tiện
cho việc xây dựng một bến cảng tốt.
Hòn Bảy Cạnh nằm trước mặt thị trấn Côn Lôn, trên đó có ngọn
Hải Đăng Côn Đảo, rọi đường cho tàu bè quốc tế đi lại.
Hòn Bông Lan nằm sát Hòn Bảy Cạnh là, từ xa trông giống như
nứa chiếc bánh bông lan.
Hòn Cau cách Côn Lôn chừng 12 km về hướng Đông - Bắc, nơi
chim yến hay làm tổ. Dưới thời phong kiến, người dân ở đây phải thu
lượm tổ yến (yến sào) để dâng nộp cho triều đình. Đất đai Hòn Cau
phì nhiêu, cây cỏ tươi tốt. Xưa kia ở đây có loại cau quả to, vỏ hồng,
vị ngon, người Gia Định rất ưa chuộng, mua với giá cao (Gia Định
thông chí).
Hòn Tài Nhỏ, Hòn Tài Lớn, Hòn Trác Nhỏ, Hòn Trác Lớn, họp
thành một chuỗi đảo nhỏ nối tiếp. Hòn Bảy Cạnh, kéo dài từ đông bắc
xuống tây nam, che chắn cho đảo Côn Lôn.
Hòn Trọc, còn gọi là Hòn Trai vì ở đó có nhiều trai ốc biển. Hòn Tre
Lớn, Hòn Tre Nhỏ tiếp nối nhau che chắn phía tây và tây bắc đảo Côn
Lôn.
Hòn Trứng, còn gọi là Hòn Đá Bạc nằm xa đảo Côn Lôn về hướng
Đông - Bắc. ở đây không có cây cối nhưng lại là nơi trú chân, làm tổ,
đẻ trứng của các loài chim biển, biến đảo này thành một trong những
“sân chim” của miền Nam nước ta.
Hòn Vung trông giống như chiếc vung nồi úp chụp xuống mặt biển
xanh, là một hòn đảo nhỏ ở phía Tây - Nam quần đảo.
Từ năm 1995, Nhà nước ta giao cho huyện Côn Đảo được quản lý
thêm 2 hòn đảo mang tên Hòn Anh và Hòn Em ( Hòn Trứng lớn và
Hòn Trứng nhỏ ) cách trung tâm thị trấn Côn Đảo 27 hải lý về phía
Tây (chếch Nam 50).
Diện tích các hòn đảo kể trên cộng lại chỉ bằng nửa diện tích đảo
Côn Lôn. Đất canh tác ở đây không đáng kể, trừ mấy hòn đảo lớn
như Hòn Bà, Hòn Bảy Cạnh, Hòn Cau, các đảo khác trông như những
trái núi đá vượt lên khỏi mặt biển với những bãi cát nhỏ, chói lòa ánh
nắng trong những ngày đẹp trời.
Địa hình quần đảo Côn Lôn chủ yếu là đồi núi. Diện tích núi đồi là
6.328 héc ta, chiếm 88,4% tổng diện tích tự nhiên, đá lộ tương đối
nhiều. Những ngọn núi cao nhất đều ở đảo Côn Lôn, như Núi Chúa
cao tới 515m. Ngọn núi phía nam thị trấn Côn Đảo (núi An Hải) cao
577m.
Thị trấn Côn Đảo nằm trên một thung lũng hình bán nguyệt, dài từ
8 đến 10 km, rộng từ 2 đến 3 km, ba bề có núi bao bọc, mặt trông ra
Vịnh Côn Lôn (còn gọi là vịnh Đông - Nam hay Vịnh Đề Lao). Khu vực
tương đối bằng phẳng thứ hai là làng Cỏ Ống. Hai thung lũng này đất
đai bằng phẳng, có nhiều chỗ trũng tạo thành hồ nước và ruộng trồng
lúa. Côn Đảo không có sông mà chỉ có những dòng suối cạn, hai con
suối đáng kể đều ở trong khu vực thị trấn. Dòng suối thứ nhất bắt
nguồn từ phía Sở Tiêu, Sở Lò Gạch chảy vòng phía sau thị trấn và đổ
ra vịnh Đông - Nam gần Sở Muối An Hội. Dòng suối thứ hai bắt đầu từ
khu vực Sở Ruộng dưới chân Núi Chúa và chảy ra cống Lò Bò gần
Mũi Lò Vôi. Đất đai nông nghiệp chiếm 3,2% tổng diện tích, chủ yếu
tập trung ở hai khu vực này và ở Hòn Cau.
Khí hậu Côn Đảo là loại khí hậu đại dương. Nhiệt độ trung bình
hàng năm là 26,9°C. Lượng mưa trung bình là 2.200 mm. Côn Đảo có
2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ
tháng 12 đến tháng 4. Tháng một là tháng khô nhất trong năm. Mùa
khô thời tiết mát mẻ hơn, nhiệt độ trung bình là 24°C, tháng 2 là tháng
mát nhất, nhiệt độ trung bình là 22°C. Oi bức nhất là tháng 5, có lúc
tới 34°C. Độ ẩm trung bình hàng năm trên đảo là 80%.
Gió mùa Đông - Đông Bắc ở Côn Đảo thường rất mạnh, từ cấp 6
đến cấp 7, nhân dân ta gọi là gió chướng, gây nhiều trở ngại cho sinh
hoạt. Người tù thường lợi dụng mùa gió này để thả bè vượt ngục trở
về đất liền.
Nhìn chung, khí hậu Côn Đảo trong lành, thuận lợi cho sức khỏe
con người. Nhưng điều này còn tùy thuộc rất nhiều ở vị trí cụ thể, nơi
ở cao hay thấp, có chướng ngại che chắn gió nhiều hay ít. Nước
ngầm là nguồn nước ngọt chủ yếu ở đảo để dùng trong sinh hoạt
cũng như trong mọi hoạt động kinh tế.
Côn Đảo còn là một bảo tàng thiên nhiên lớn với Rừng Quốc gia
Côn Đảo. Rừng có diện tích 6.043 hecta (chiếm 83,7% tổng diện tích
tự nhiên của huyện đảo.
Rừng gồm 3 hệ sinh thái chủ yếu:
– Rừng nhiệt đới thường xanh quanh năm.
– Rừng đồi cát khô .
– Rừng đước và rừng sau đước.
Những khảo sát sơ bộ cho thấy ở đây có 650 loại - thực vật thuộc
về 22 lớp, 71 họ; đại diện cho các vùng khí hậu Việt Nam (cả Bắc,
Trung, Nam), trong đó có 26 loại cây lấy gỗ với nhiều loại gỗ quý như:
cẩm lai, quăng, sao, giáng hương. . . và 76 loại cây dược liệu. Trong
rừng có 100 loại chim và thú lưỡng cư thuộc 50 họ và 22 lớp; 18 loại
động vật có vú; 65 loại chim; 25 loại bò sát; 6 loại ếch và 150 loại
động vật thân mềm. Động vật quí hiếm có sóc đen, sóc da đỏ, sóc
bay, khỉ vàng, gầm ghi trắng, đại bàng biển, trăn... Hòn Trứng là nơi
cơ trú của các loại chim biển, mật độ dày đặc, có thể so sánh với
những sân chim nổi tiếng ở miền Tây Nam Bộ . Đặc biệt ở đây có
chim Điêu lặt xanh, ó biển là những loại chim hiếm trên thế giới. Trong
lòng biển có những bãi hải sâm lớn, nơi cư ngụ của cá heo. Tại
những bãi biển của Hòn Bảy Cạnh, Hòn Tre Lớn là nơi sinh đẻ của
vích và đồi mồi. Nhiều hang và vách đá của Hòn Cau, Hòn Tre Nhỏ ,
vịnh Đầm Tre . . . là nơi cơ ngụ của chim yến.
Ngoài khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển,
ở các vùng núi của Côn Đảo có khí hậu mát mẻ như cao nguyên Đà
Lạt, Rừng Quốc gia Côn Đảo là bức tranh thu nhỏ của thảm thực vật
rừng Việt Nam. Cũng ở đây nhiều di tích khảo cổ học giá trị được phát
hiện, hé mở một triển vọng lớn trong việc tìm hiểu các nền văn hóa
tiền sử từng tồn tại trên đất nước ta. Chỉ tính riêng Côn Lôn đã có 24
bãi biển lớn nhỏ. Tất cả những tiềm năng đó khiến Côn Đảo có khả
năng hiện thực trở thành một trong những hòn đảo du lịch nổi tiếng,
không thua kém các hòn đảo du lịch nổi tiếng khác trên thế giới.
Nhưng chế độ thực dân cũ và mới, hơn một thế kỷ qua Côn Đảo đã
trở thành một nhà tù, hơn nữa tại là một nhà tù dã man nhất, chất
chồng những tội ác “trời không dung, đất không tha” của chủ nghĩa đế
quốc.
Trước ngày giải phóng, những di vật khảo cổ học phát hiện được
một cách lẻ tẻ, ngẫu nhiên. . . lưu trữ tại các bảo tàng đã gợi ý cho ta
thấy: vào giai đoạn hậu kỳ thời đá mới - cách đây trên dưới 4.000
năm, lớp cư dân đầu tiên đã có mặt tại quần đảo Côn Lôn. Họ biết
làm nông nghiệp dùng cuốc kết hợp với thu lượm hải sản, săn bắt,
đánh cá. Sau đó, họ đã biết nghề luyện kim đồng và sắt. Tuy chưa có
được những cuộc khai quật quy mô, nhưng qua nghiên cứu so sánh
các di vật ngẫu nhiên tìm được ta nhận biết được mối quan hệ khăng
khít giữa văn hoá vật chất của cơ dân Côn Đảo thời tiền sử với khối
cư dân cùng thời ở lưu vực sông Đồng Nai, ở duyên hải Đông Nam
Bộ ngày nay.
Từ thập niên 80 thế kỷ XX, công cuộc tìm kiếm và thăm dò khảo cổ
học bắt đầu được tiến hành tích cực do nỗ lực của các bảo tàng địa
phương và Trung ương, của các cơ quan khảo cổ học, sử học ở
Trung ương. Việc nghiên cứu tiền sử ở quần đảo đã có những tiến
mới, vững chắc: nhiều cuộc thám sát được tiến hành có hệ thống tại
các đảo lớn (Côn Lôn, Hòn Bảy Cạnh, Hòn Bà và Hòn Cau). Đã phát
hiện: di tích cư trú lớn như làng cổ Hòn Cau (diện tích ước 8.000 m2),
những mộ táng ở Hòn Bảy Cạnh, dấu vết nơi cư trú của người tiền sử
ở Hòn Bà, đã khảo sát lại địa điểm khảo cổ học ở đảo Côn Lôn lớn (di
chỉ Hàng Dương). Chủ nhân của các di tích khảo cổ này đều đã biết
luyện đồng, sắt.
Quan trọng nhất, đáng kể nhất là cuộc khai quật khảo cổ ở đảo
Hòn Cau - một trong 4 hòn đảo lớn của quần đảo. Qua phân tích
những hiện vật khảo cổ phong phú ở làng cổ Hòn Cau trong đợt khai
quật khá quy mô trên một diện tích đào 175m2, các nhà khoa học đã
đi tới kết luận quan trọng: di tích làng cổ Hòn Cau có mối quan hệ văn
hóa mật thiết, gắn bó với nhiều di chỉ ven biển của cả nước, như
Quỳnh Văn (Nghệ An), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Xóm Cồn (Khánh
Hòa) và một số di tích cùng loại ở lưu vực sông Đồng Nai (miền Đông
Nam Bộ). Làng cổ Hòn Cau được xác định niên đại trong khoảng từ
2.500 - 3.000 năm trước đây.
Do vị trí thuận lợi giữa biển Đông, trên đường giao lưu Đông - Tây,
Côn Đảo được người phương Tây biết đến từ rất sớm. Năm 1294,
đoàn thuyền gồm 14 chiếc của nhà du hành người Ý, Máccô Pôlô
(Marco Polo), dạt vào trú tại Côn Đảo sau khi bị bão đánh chìm 8
chiếc. Trong tập hồi ký của mình, Máccô Pô lô đã miêu tả quần đảo
này như một nơi giàu đẹp.
Năm 1516, nhà hàng hải Bồ Đào Nha, Anđơrađơ (Pernão Perès de
Andrade) đã tới Côn Đảo vào trung tuần tháng 9. Ông ta cho biết hải
đảo này là nơi các nhà đi biển rất hay lui tới, thường là để kiếm nước
ngọt; thủy thủ của ông đã thấy ở đây có bán nhiều gà, rùa biển và họ
còn thấy có cả nho nữa.
Khoảng giữa những năm 60 thế kỷ XVI, thi hào Bồ Đào Nha
Camôidơ (Lui Vaz de Camões) - người đã làm rạng danh nền văn học
Bồ thời Phục Hưng cũng đã ghé qua Vũng Tàu và Côn Đảo đem theo
tập bản thảo cuốn sử thi bất hủ Os Lusiadas còn giữ lại được sau nạn
đắm tàu ở cửa Sông Tiền. Đây là tập thơ đầu tiên của của nền văn
học phương Tây có viết về đất nước ta, trong đó có những vần thơ
đẹp đẽ nói về xứ Đàng Trong.
Trong quá trình lập nghiệp ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn (cũng
như các vua Triều Nguyễn sau này) đều rất quan tâm đến việc hành
xử chủ quyền của đất nước đối với các vùng biển đảo trong hải phận.
Thời này, tàu thuyền các cường quốc châu Âu tăng cường hoạt động
tìm kiếm thị trường, thuộc địa hoặc để đặt thương điếm với mưu toan
bành trướng ảnh hưởng.
Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), việc tuần tiễu bảo
vệ chủ quyền cũng như quyền khai thác tài nguyên ở các vùng biển
được tổ chức chặt chẽ, chu đáo. Công việc nặng nề được giao phó
cho các đội hải thuyền đặc biệt, do Nhà nước tổ chức ra, hoạt động
theo những chế định nghiêm ngặt. Các vùng biển đảo đều thống nhất
các đơn vị hành chính nhất định, gắn bó với một vùng hoạt động nhất
định của mỗi hải đội. Dữ liệu còn lại cho biết: xứ Đàng Trong hồi đó
có những hải đội với quy mô tổ chức to nhỏ khác nhau:
– Đội Hoàng Sa: Là đội lớn nhất, quan trọng nhất phụ trách vùng
biển Thuận Quảng ở ngoài khơi xa, nơi có quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa, và cả vùng biển phía nam Trường Sa nửa. Đội này được
thành lập cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷ thứ XVIII, hoạt động mạnh mẽ
dưới đời chúa Nguyễn Phúc Chu. Đời Gia Long, hoạt động cửa đội
này vẫn được duy trì tích cực, như trước.
– Đội Bắc Hải: Được thành lập sau sự kiện đánh đuổi người Anh,
khi họ ngang nhiên đến Côn Đảo, lập pháo đài (1702-l705). Quần đảo
Côn Lôn, trước nằm trong phạm vi hoạt động tuần tiễu và khai thác
hải sản của Đội Hoàng Sa, khi lập đội Bắc Hải thì nằm trong phạm vi
hoạt động của đội này. Nhưng thời gian không dài, vì ngay sau đó đội
Bắc Hải lại được đặt dưới quyền cai quản của đội Hoàng Sa. “Lại có
Đội Bắc Hải mộ dân thôn Tư Chính, Bình Cố hoặc xã Cảnh Dương
sung vào. Được lệnh cưỡi thuyền nhỏ ra các đảo Côn Lôn ở Bắc Hai
thu lượm hóa vật, cũng do đội Hoàng Sa cai quản luôn”. (Đại Nam
thực lục tiền biên, q.10; chi tiết hơn: xem Phủ biên tạp lục, quyển 2, tờ
84 a, b). Đội Bắc Hải đặt dưới quyền chỉ đạo của các quan chức Phủ
Gia Định với một quy chế nhân sự và cách thức quản lý thông thoáng
hơn. Nhưng về biên chế thì chủ yếu vẫn là dân thạo ghe biển trên đảo
Lý Sơn (Cù Lao Ré - thuộc phủ Bình Thuận).
– Đội Thanh Châu: Hoạt động trong vùng biển đảo phụ Quy Nhơn.
– Đội Hải Môn: (thuộc Phủ Bình Thuận), hoạt động tuần tra và thu
lượm hải sản (yến sào là chủ yếu) ở đây.
Sau cuộc kinh lý của Nguyễn Hữu Cảnh 141 năm, Côn Đảo thuộc
tỉnh Vĩnh Long quản hạt. Tòa thành đất ở Côn Đảo do Đội Thanh Hải
xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836) và mang tên “Thành đất
Thanh Hải (Thanh Hải bảo). So với các thành đất cùng thời, thành
Côn Lôn có quy mô khá lớn: chu vi 50 trượng 8 thước 9 tấc; cao 4
thước 3 tấc, có 2 cửa, 1 pháo đài, 1 kỳ đài. Trong lần trùng tu năm
Thiệu Trì thứ 2 ( 1842) đổi tên thành Côn Lôn bảo (thành đất Côn
Lôn) và đến khi giặc Pháp chiếm Côn Đảo tòa thành vẫn còn.
Cuối thế kỷ thứ XVII và đầu thế kỷ thứ XVIII, tư bản Anh, Pháp đã
bắt đầu nhòm ngó các nước phương Đông. Nhiều lần các công ty
Đông - Ấn của Anh, Pháp cho người tới Côn Đảo điều tra, dò xét tình
hình mọi mặt với âm mưu xâm lược.
Tháng 11 năm 1686, Công ty Đông - Ấn của Pháp đã phái Vê rê
(Véret) tới điều tra lập cơ sở ở Côn Đảo.
Năm 1687, Uy liêm Đampiê (Williams Dampier) nhân viên Công ty
Đông - ấn của Anh đã tới vẽ bản đồ ở vịnh Tây - Nam Côn Đảo.
Năm 1702, đời chúa Nguyễn Phúc Chu, năm thứ 12, Công ty Đông
- Ấn của Anh ngang nhiên đổ quân lên Côn Đảo xây dựng pháo đài.
Giám đốc Công ty là Len Kếtpôn (Allen Catchpole) đích thân chỉ huy
cuộc chiếm đóng trái phép này. Ông ta đưa một số lính người
Macátxa1tới xây dựng một pháo đài lớn, ký hợp đồng với họ làm trong
3 năm. “Ở Côn Đảo họ bị đau ốm lo buồn và chỉ muốn về quê nhà. Họ
bí mật chuẩn bị một cuộc nổi dậy. Đêm ngày 3-2-1705, một tiếng hú
man rợ vang trong rừng thẳm. Chính là những người lính hung hãn,
da ngăm màu đồng hun đã vùng lên tiêu diệt ban chủ người Anh (...).
Chỉ có rất ít người chạy thoát như bác sĩ Paodơ (Pould) và ông
Xalômdn Lyôt (Salomon Ilyod) đang ở bên ngoài pháo đài”2.
Nguyên nhân của cuộc nổi dậy này không phải chỉ ở chỗ người
Macátxa không chịu đựng nổi khí hậu và cuộc sống quá thiếu thốn
trên đảo, cũng không phải vì đã hết hạn hợp đồng mà bọn chủ người
Anh không làm theo lời hứa đưa trả họ về quê hương. Các tác giả Đại
Nam nhất thống chí cho biết:
“Đời vua Hiển Tông triều Nguyễn (1691 - 1725) vào năm Nhâm
Ngọ (1702) có thuyền An - Liệt của bọn hải phỉ vào đậu ở đảo Côn
Lôn. Tù trưởng là bọn Tô - Thích, Già - Thi chia người làm 5 ban và
đảng lõa hơn 200 người, kết lập trại sách, tích trữ của báu như núi và
những đồ bánh trái hào soạn, bốn mặt đều đặt hỏa pháo phòng thủ.
Quam trấn thủ ở biên - trấn là Trương Phúc Phan, mộ 15 người
nước Đồ Bà mật khiến chúng trá hàng. Nhân khi ban đêm phóng lửa
đốt cả trại sách của chúng. Giết được ban nhất, ban nhì, bắt được
ban năm, còn ban ba và ban tư thì trốn thoát ra biển.
Trương Phúc Pham được tin bèn khiến binh thuyền ra đảo, tóm
thâu được cả đồ vàng lụa đem dâng nộp”3.
Lê Quý Đôn đã tra lại sổ ghi kết quả công việc của Thuyên Đức
Hầu, người trực tiếp chỉ huy đội Hoàng Sa những năm đó, từ năm
1702 đến 1709, cung cấp cho chúng ta những con số đáng chú ý :
– Năm Nhâm Ngọ, (1702, năm Len Kếtpun đến chiếm đóng Côn
Đảo - T.G), đội Hoàng Sa thu 1ượm được 30 thỏi bạc.
– Năm Ất Dậu, (1705, năm có cuộc nổi dậy đánh đuổi người Anh T.G), đội Hoàng Sa thu lượm được 126 thỏi bạc.
– Từ năm Kỷ Sửu đến năm Quý Tỵ, (1709- 1713), chỉ được mấy
cân đồi mồi và hải sâm, có lần họ chỉ thu lượm được mấy khối thiếc,
mấy chiếc bát đá và 2 khẩu súng đồng”4.
Như vậy cuộc nổi dậy của người Macátxa đêm 3-2-1705 là do
chính quyền nhà Nguyễn tổ chức và chỉ huy nhằm bảo vệ chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ xứ Đàng Trong. Kế hoạch diệt bọn hải phỉ An Liệt được chuẩn bị chu đáo: chúa Nguyễn khôn khéo cài người vào
nội bộ địch, lợi dụng bọn lính Macátxa đánh thuê đang bất mãn đối
với bọn chủ người Anh để gây nên cuộc binh biến, kết hợp với sự hỗ
trợ từ bên ngoài. Sự việc được giải quyết gọn lẹ , không gây rắc rối
trong quan hệ bang giao vì đã có tù binh trong tay, địch khó lòng chối
cãi, trong một thời gian lâu dài về sau tránh được sự nhòm ngó của
một cường quốc hải quân hùng mạnh vào bậc nhất thời đó .
Năm 1771, cuộc khởi nghĩa to lớn của nông dân Tây Sơn bùng nổ
và phát triển mau lẹ. Từ 1776 trở đi, quân Tây Sơn nhiều lần tấn công
vào căn cứ cửa chúa Nguyễn ở Gia Định. Tháng 3 năm 1782, thủy
quân của Nguyễn Ánh bị đại bại ở cứa Cần Giờ. Tháng 6 năm1783,
thủy quân Tây Sơn đánh Phú Quốc. Nguyễn Ánh trốn chạy sang đảo
Côn Lôn, đem theo hơn 100 gia đình thuộc hạ để sau này lập nên ba
làng An Hải, An Hội và Cỏ Ống xây dựng căn cứ, tính kế phục thù.
Chiến thuyền Tây Sơn đuổi theo nhưng sau đó, Nguyễn Ánh chạy
thoát về Phú Quốc vì thuyền Tây Sơn gặp bão.
Sau thất bại này, theo lời khuyên của giám mục Bá Đa Lộc,
Nguyễn Ánh đã chọn con đường cầu viện nước Pháp chống Tây Sơn
để giành lại ngôi báu. Bá Đa Lộc là Khâm sai tòa Thánh ở Gia Định từ
1765, đã giúp Nguyễn Ánh khi bị Tây Sơn đánh đuổi vào đây, sự gắn
bó giữa họ với nhau đã là nguồn gốc cho việc Pháp can thiệp ngày
càng sâu vào Việt Nam. Tháng 12 năm 1784, Nguyễn Ánh dã giao ấn
tín và hoàng tử Cảnh cho Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện. Chủ trương
phản động này đã bị chính Phi Yến, người vợ trẻ của Nguyễn Ánh
phản đối, nhưng Ánh không nghe và đày bà lên hòn Côn Lôn Nhỏ cho
đến chết. Hòn đảo từ đấy mang tên Hòn Bà.
Ngày 28-11-1787, thay mặt Nguyễn Ánh, Bá Đa Lộc đã ký Hiệp
ước Vécxai (Versailles) với đại diện vua Pháp là Đờ Mông-môranh
(De Montmorin), theo đó thì Pháp hứa giúp Nguyễn ánh 4 tàu chiến,
1.200 lính, 200 pháo thủ, 250 lính người Phi . Để đổi lại, Nguyễn Ánh
nhượng cho Pháp chủ quyền ở Cửa Hàn (Đà Nẵng), cho Pháp được
độc quyền thương mại ở Nam Kỳ. Quần đảo Côn Lôn cũng bị nhượng
cho Pháp (điều 3 và 5, Hiệp ước Vécxai).
Từ tháng 2 đến hết tháng 12 năm 1787, khâm sứ của giáo hoàng
Bá Đa Lộc đã được yết kiến vua Lui XVI chính tay ông ta đã vạch ra
mấy phương án thực hiện cuộc xâm lược. Với quân số và vũ khí dự
kiến, ông ta đã đưa ra kế hoạch tác chiến đánh thẳng vào Quy Nhơn.
Quân lính Pháp dưới sự yểm trợ bằng hỏa lực pháo binh đặt trên các
tàu chiến, sẽ đổ bộ lên Quy Nhơn, nhanh chóng kết thúc cuộc chiến
tranh.
Cũng chính vị thầy tu này nêu lên số lượng lương thực, thực
phẩm, các dụng cụ cần thiết và cả số thuốc men cần đem theo.
Nhưng chế độ quân chủ chuyên chế Pháp đang khủng hoảng trầm
trọng. Cuộc khủng hoảng tài chính đã trở thành nguyên nhân trực tiếp
chủ yếu dẫn đến cuộc Đại cách mạng Pháp năm 1789, đập tan chế
độ phong kiến, đem lại thắng lợi cho giai cấp tư sản Pháp.
Trong tình hình như vậy, triều đình Pháp không thể thực hiện được
những cam kết, Bá Đa Lộc đã trở về tay không. Bá tước Đờ
Môngmoranh đã gửi những chỉ thị mật cho Cônuây (Conway), người
chỉ huy lực lượng pháp ở Ấn Độ không thực hiện cuộc can thiệp vì
tình hình tài chính không cho phép. Không cam chịu thất bại, vị giám
mục có đầu óc thực dân này ghé qua Pôngđisên vận động một số
thương nhân Pháp hùn tiền mộ lính, mua súng ống giúp Nguyễn Ánh.
Tháng 9 năm 1788, tàu Đơriađơ và La Tron đã chở tới Côn Đảo 1.000
khẩu súng trường và mấy khẩu thần công.
Cần nhắc lại rằng từ khi ký kết Hiệp ước Vécxai cho tới khi Pháp
có âm mưu chiếm Côn Đảo cuối năm 1861, cả hai bên Pháp cũng
như triều đình nhà Nguyễn, không bên nào nhắc đến hiệp ước đó cả.
Về mặt pháp lý cũng như trên thực tế, hiệp ước này không có giá trị
gì.
Tháng 7 năm 1857, sau nhiều lần khiêu khích, gây hấn dưới chiêu
bài phản đối chính sách bế quan tỏa cảng và chính sách cấm đạo,
Pháp quyết định xâm lược Việt Nam, bảo đảm sự hiện diện của Pháp
ở Viễn Đông. Ngày 1-9-1858...
Tác giả: Nhiều Tác Giả
Nhà xuất bản: Nxb Tổng hợp TP.HCM
Định dạng: Bìa cứng
Ngày phát hành: 01/2010
Giá bìa: 120.000 ₫
Số trang: 700 trang
Nguồn text: Giangtvx (quansuvn.net)
Epub (02/2019): @lamtam, tve-4u.org
GIỚI THIỆU
Cuốn sách là bức tranh toàn cảnh về cuộc đấu tranh ở Côn Đảo
qua các thời kỳ, là khúc hùng ca trong thiên anh hùng ca vĩ đại của
dân tộc trong cuộc chiến chống thực dân, đế quốc để giành độc lập tự
do.
Nhà tù Côn Đảo từ cuối thế kỷ 19 luôn luôn phản ánh cuộc đấu
tranh cách mạng của nhân dân qua các giai đoạn, bởi lẽ địch giam ở
đây những chiến sĩ cách mạng mà chúng cho là nguy hiểm nhất ở
khắp các miền của đất nước.
LỜI TỰA CỦA GIÁO SƯ TRẦN VĂN GIÀU
(Viết riêng cho cuốn Nhà tù Côn Đảo 1955-1975)
Tôi được bạn bè yêu cầu viết tựa cho sách, rất nhiều lần, nhưng
lần này, giới thiệu tập “Lịch sử Nhà tù Côn Đảo 1955-1975” tôi lo quá;
đọc một lần đã thấy lo đọc hai lần càng thấy lo. Lo không giới thiệu
được nội dung cơ bản của tập sử, nội dung cơ bản ấy là cực kỳ sâu
sắc, bởi hàm ý những sự việc và nhân cách của những con người
được kể ở trong sách.
Những sự việc và con người được ghi lại một cách khách quan,
khoa học, đáng là đề tài vô tận của một thiên anh hùng ca mà có lẽ
khó có một nhà thơ nào ở nước ta và cả trên thế giới tìm ra ở trong trí
tương tượng thâm viễn của mình. Trong trường hợp này, một bài giới
thiệu của một thầy giáo lịch sử như tôi chỉ có thể là một lời mời đọc,
đọc để rồi đọc lại, đọc đi đọc lại để mà suy gẫm, suy gẫm về đạo làm
người chiến sĩ yêu nước yêu dân, suy gẫm về con người Việt Nam
trong thời đại Hồ Chí Minh, khi đứng trước cảnh ngộ thiên nan vạn
nan, khi đứng trên bờ vực giữa cái sống và cái chết, giữa cái vinh
không cần ai biết và cái nhục mà chính mình cảm thấy hơn ai hết. Tập
sách “Lịch sử Nhà tù Côn Đảo 1955-1975” thực tế là một quyển sách
đạo đức học, một quyển triết học.
Trong đời hoạt động cách mạng của mình, tôi đã phải trải qua
nhiều nhà tù, trong số đó có ngục Côn Lôn. Tôi lại được đọc nhiều
sách xưa nay nói về nhà tù của các vua chúa, của tư bản thực dân,
của bè lũ phát xít. Như vậy, tôi có khá nhiều tài liệu để so sánh các
chế độ nhà tù tàn bạo, thì các nhà tù đó cái nào cũng tàn bạo, chỉ có
mức tàn bạo, cách tàn bạo và mưu sâu bên trong là khác nhau. Cho
đến trước khi Hồng quân Liên Xô cắm cờ chiến thắng trên nóc nhà
quốc hội Berlin, thì nhà tù của Hitler là tàn bạo nhất, với ý nghĩa chính
là giết nhiều người nhất: hàng triệu, hàng triệu dân Do Thái bị giết
bằng hơi độc, thuốc độc, điện giật. Nói ra thì có lẽ không phải, nhưng
cái chết bằng hơi độc, thuốc độc, điện giật, giết một lần hàng vạn sinh
linh, cái chết đó người chiến sĩ tù nhân Việt Nam mình có mấy ai sợ
đâu? So với cái tàn ác ở nhà tù Côn Đảo dưới chế độ Mỹ ngụy, thì
nhà tù Hitler giống như ao cạn so với vực thẳm. Mỹ ngụy thâm độc
hơn Hitler biết bao nhiêu! Nhà tù Côn Lôn thời Pháp thuộc đã là địa
ngục ở trần gian rồi, đến thời Mỹ ngụy, là địa ngục trong địa ngục, và
nói như vậy cũng chưa vừa.
Bị đày ra Côn Lôn (1935), khi ấy tôi từng bị tống ngay vào xà lim số
1, xà lim này rộng 3 x 3 x 1,5 mét, còng một chân. Mà trời ơi, làm sao
so được với thời Mỹ ngụy cũng trong cái xà lim đó , Mỹ ngụy nhốt tới
28 người, cửa đóng, lỗ thông hơi bịt kín, tù nhân lại còng tréo 2 tay và
2 chân. Dưới thời thực dân Pháp, tụi tôi ở Banh I bãi thực chống ăn
khô mục, cuộc đấu tranh dài nhất là 9 ngày, bị đánh một lần suốt buổi
bằng mấy cần xé mây cà dông đến mây tả tơi ra. Vụ Tôn Đức Thắng
ở trong số đồng chí bị khủng bố hôm ấy, lưng mỗi người bầm tím
100%.
Vậy mà so với anh em bị biệt giam thời Mỹ ngụy, cũng ở đây, thì
có “thấm” gì? Nhiều lần anh em bãi thực đòi ăn cơm có rau, mà phải
bãi thực đến 20 ngày, một tháng, 60 ngày và hơn nữa, bọn chúa ngục
lại đập bể các lu nước, bao: “Để bây chết đói và chết khát cho trọn”'.
Mà, đã yên để không ăn không uống đâu, ngày ngày chúng vào
khám, đánh tù nhân đấu tranh bằng củi đòn, củi chẻ; mây càdông
đánh mãi thì tả tơi, củi đòn củi chẻ đánh mãi không mòn, chỉ có sọ vỡ,
thịt nát mà thôi!
Đã vậy, ở Chuồng Cọp, bọn gác dang, giám thị còn ban ngày thì
đánh, ban đêm thì phân công nhau, đứng trên dội nước lạnh xuống,
10 đêm, 20 đêm, 30 đêm như thế, liên tục, thân xác con người nào
mà chịu nổi?
Vậy mà chiến sĩ biệt giam cộng sản ở Chuồng Cọp Côn Lôn chịu
nổi, thà chết, không hàng!
Hành hạ một cách tàn ác như vậy, để làm gì?
Có phải để thỏa mãn cái thú tính cửa bọn Mỹ ngụy và những quỷ
sứ tay sai của chúng nó chăng?
Không Cốt để cho các chiến sĩ cách mạng phải:
1. Chịu ký tên “ly khai Đảng Cộng sản”;
2. Hô lên “đả đảo Hồ Chí Minh”!
Chỉ cần hạ bút ký tên và mở miệng hô năm tiếng thì khỏi còng, khỏi
củi chẻ, khỏi bị xối nước lạnh. Có bạn đã nhận thức đúng, hết sức
đúng, rất sâu sắc rằng:
“Hành hạ người tù đau đớn tột cùng về thể xác, truy bức người tù
căng thẳng tột độ về tâm lý, dai dẳng và trường kỳ, chúng đẩy người
tù đến bên miệng hố của tử thần, để họ day dứt, trăn trở, chết dần
chết mòn từng giờ, từng phút. Song cứ mỗi lần họ hấp hối, họ tỉnh
dậy, họ thề với lương tâm một lần nữa quyết chết cho lý tưởng, chết
để vẹn toàn khí tiết, thì chúng nó lại nhượng bộ một chút, nới ra một
tí, cho họ ăn uống trở lại, sinh hoạt bình thường để họ khát khao sự
sống. Chập chờn giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết
hàng chục lần, hàng trăm lần như vậy, thì tư tưởng, tâm trạng con
người luôn luôn căng thẳng, dễ dao động, chẳng khác gì một thỏi thép
quẳng vào lò, nung đỏ lên rồi quăng xuống nước cho nó biến dạng,
rạn nứt. Bọn cải huấn, công an, mật vụ, tâm lý chiến chực sẵn để
chộp lấy những giây phút dao động, mềm yếu của tù nhân mà đánh
tiếp những đòn tiến công khác”.
Hiểm độc và tàn bạo, càng tàn bạo càng hiểm độc của Mỹ ngụy và
tay sai là như thế.
Cho nên, đã không ít tù chính trị sau bao nhiêu cuộc giao tranh bị
thất bại, bị khuất phục trước những ngón đòn tàn bạo và hiểm độc ấy.
Hàng ngàn người ở nhà tù Côn Đảo trở về với tấm thân tàn phế, quằn
quại cho đến chết, chết trong ân hận đã lỡ bước sa cơ.
Nhưng số đông tù chính trị, nếu bị khuất phục thì ấy là khuất phục
tạm thời ngoài mặt để giư lấy mạng sống, hòng có ngày chiến đấu
phục thù.
Một số khác, không ít người, sống lại, chết đi hàng chục lần mà
vẫn không khuất phục. Trong cuộc chiến đấu dài 20 năm này ( 19551975), trong cuộc đấu tranh liên tục, thiên hình vạn trạng này, giữa
tàn bạo có vũ khí tận răng và chính nghĩa giải phóng ở trong thế tay
chân bị còng, chỉ còn khí tiết và lý tưởng là vũ khí, thì rốt cuộc phần
thắng đã về ai?
Kỳ diệu thay mà cũng là tất yếu thay, như lời của Nguyễn Trãi tạc
trên bia đá Lam Sơn, yếu thắng mạnh, ít thắng nhiều, chí nhân thắng
cường bạo. Trong trường hợp cuộc đấu tranh rung động trăng sao, ở
Côn Đảo từ 1955 đến 1975, khí tiết cộng sản đã thắng cường quyền
và mưu ma chước quỷ của Mỹ ngụy. Những “ngôi sao” của biệt giam
Chuồng Cọp hãy còn sống và hãy còn giương cao ngọn cờ Hồ Chí
Minh, kẻ địch không có cách nào hạ nổi! Ngọn cờ ấy, thực tế vẫn là
ngọn cờ của hầu hết anh em đã gặp phải lúc sa cơ mà ở đáy lòng
không bao giờ có ý “ôm cầm thuyền ai”, đông đảo trở lại hàng ngũ
đấu tranh. Ngọn cờ ấy lại là tiêu biểu ở Côn Đảo, xứng đáng với ý chí
toàn dân Việt Nam đang quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào”.
Tôi đồng tình với người viết sách “Lịch sừ Nhà tù Côn Đảo 19551975” tuyên dương tinh thần đấu tranh trực diện chống li khai của tù
chính trị câu lưu Trại I, của tù án chính trị chống chào cờ ngụy với
những tấm gương sáng tiêu biểu như Cao Văn Ngọc, Lưu Chí Hiếu,
Trần Trung Tín; tuyên dương sự bền bỉ chiến đấu vô song của “Năm
ngôi sao tù chính trị câu lưu”, của “Sáu ngôi sao tù án chính trị”. Tôi
thành thật khâm phục, xin cúi đầu trước ông già Cao Văn Ngọc vốn
làm chức hương quản làng dưới thời Pháp, theo cách mạng từ mùa
thu 1945; ông chỉ là thư ký nông hội xã; ông không phải là đảng viên
cộng sản mà kiên quyết đến cùng, đấu tranh chống ly khai Đảng,
chống hô khẩu hiệu đả đảo Cụ Hồ .
– Chúa ngục hỏi: “Ông không phải là đảng viên cộng sản, ông mắc
nợ gì với Hồ Chí Minh mà không chịu hô đả đảo” .
– Già Ngọc bình tĩnh đáp: “Tôi mắc nợ Cụ Hồ Chí Minh đã đem lại
độc lập tự do cho nước Việt Nam”.
Tôi khâm phục người thợ giày Lưu Chí Hiếu, lưu lạc từ Nam Định
ra Hà Nội, vào Sài Gòn, tham gia khởi nghĩa và kháng chiến, chức vụ
chỉ tương đương tiểu đội trưởng, nhưng lại thể hiện xuất sắc bản lĩnh
người cộng sản, quyết tử chống li khai trong lần quyết định vận mệnh
của cuộc chiến đấu vào lúc hiểm nghèo, tên anh đã trở thành một
ngọn cờ của tù nhân chính trị toàn đảo.
Đó là thứ “Vàng trong lửa”, đó là đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng
cách mạng, cua nhân cách Việt Nam, của khí tiết cộng sản.
Mong rằng các vị anh hùng ở nhà tù Côn Đảo được ca tụng xứng
đáng nhất bằng những tập sách gối đầu giường cho thanh niên, được
biểu dương xứng đáng nhất bằng những pho tượng đặt ở quê hương
và ở các nhà trường.
Mong rằng các sự tích ở Côn Lôn, từ thuở Pháp biến nó thành nơi
lưu đày tù chính trị cho đến thời 1955-1975, được ghi tạc chẳng
những bằng tượng, bằng tranh vẽ và tranh điêu khắc mà còn được
phổ biến rộng rãi bằng những cuốn phim. Tất cả những công việc đó
của nhà làm lịch sử và làm văn nghệ đều nhằm để lại cho các thế hệ
những tấm gương sáng ngời của con người Việt Nam thời đại Hồ Chí
Minh.
Sau hết, tôi như là một thầy giáo có nghiên cứu lịch sử xin hoan
nghênh các tác giả Lịch sử Nhà tù Côn Đảo đã có công sưu tầm tư
liệu, “nói có sách, mách có chứng”, đã chú ý đến việc hết sức cần
thiết là gặp từng cựu tù quan trọng nào có thể gặp được, chép từng
bản lý lịch, ghi từng chuyện kể; bằng cách đó, tác giả lưu giữ, tập hợp
được một số lượng lớn tư liệu cho bản thân mình, còn viết nhiều về
Côn Đảo, có thể là viết cả đời những ai là bạn đồng hành, văn nhân
hay nghệ sĩ, trong sự nghiệp tái hiện cái địa ngục trần gian - “ngục
Côn Đảo”.
Giáo sư Sử học
TRẦN VĂN GIÀU
Mở Đầu:
VÀI NÉT VỀ ĐỊA LÝ VÀ
LỊCH SỬ QUẦN ĐẢO CÔN LÔN
Thiên nhiên Côn Đảo
Côn Lôn là một trong những quần đảo tiền tiêu của nước ta, “nguy
nga đứng trấn giữa biển Đông” (Đại Nam nhất thông chí), bao gồm 16
hòn đảo lớn nhỏ, với tổng diện tích là 76,71km2, trải ra trên một vùng
biển có tọa độ địa lý từ 106°3' đến 106°45' kinh độ đông; từ 8°34' đến
8°49' vĩ độ bắc(1), cùng một kinh độ với Thành phố Hồ Chí Minh và
cùng một vĩ độ với thị trấn Năm Căn (Cà Mau).
Đường biển từ Côn Lôn đến Vũng Tàu dài 179 km, đến Thành phố
Hồ Chí Minh 230 km, đến cửa sông Hậu 83 km, đến thành phố Cần
Thơ 165 km.
Sử sách nước ta xưa nay gọi hòn đảo lớn nhất là đảo Côn Lôn (gọi
tắt là Côn Đảo), cả quần đảo này cũng được gọi chung bằng địa danh
ấy - quần đảo Côn Lôn. Người ta cũng thường gặp những biến dạng
gần gũi của tên gọi đó như: Côn Lôn Sơn, Côn Sơn, Côn Nôn.
Từ ngày thành lập đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo (30-5-1979), Côn
Đảo là địa danh chính thức của hòn đảo lớn nhất cũng như của cả
quần đảo.
Đảo Côn Lôn là một hòn đảo lớn từ đông sang tây, dài 15 km, chỗ
rộng nhất là 9 km, chỗ hẹp nhất khoảng một km. Với diện tích 51,52
km2, đảo Côn Lôn chiếm gần 2/3 tổng diện tích quần đảo. Trên đảo
có thị trấn Côn Đảo nằm ở tọa độ 8°40'57” vĩ độ bắc, l06°36'l0” kinh
độ đông. Nói đến quần đảo Côn Lôn là nói đến hòn đảo này, vì đời
sống kinh tế - chính trị và xã hội của cả quần đảo tập trung ở đây. Từ
khi Pháp thiết lập nhà tù, Côn Đảo không còn dân thường. Không kể
tù nhân, bộ máy cai trị (kể cả gia quyến họ) trước Cách mạng tháng
Tám (1945) không đến 500 người.
Hòn Bà tiếp giáp với hòn Côn Lôn về phía Tây - Nam, hai đảo chỉ
cách nhau bằng khe nước Họng Đầm không quá' 20m. Giữa hai đảo
này là Vũng Đầm, còn gọi là vịnh Tây - Nam, giống hình cái quạt mở
về hướng tây bắc. Vũng Đầm sâu lại ở vào nơi khuất gió, thuận tiện
cho việc xây dựng một bến cảng tốt.
Hòn Bảy Cạnh nằm trước mặt thị trấn Côn Lôn, trên đó có ngọn
Hải Đăng Côn Đảo, rọi đường cho tàu bè quốc tế đi lại.
Hòn Bông Lan nằm sát Hòn Bảy Cạnh là, từ xa trông giống như
nứa chiếc bánh bông lan.
Hòn Cau cách Côn Lôn chừng 12 km về hướng Đông - Bắc, nơi
chim yến hay làm tổ. Dưới thời phong kiến, người dân ở đây phải thu
lượm tổ yến (yến sào) để dâng nộp cho triều đình. Đất đai Hòn Cau
phì nhiêu, cây cỏ tươi tốt. Xưa kia ở đây có loại cau quả to, vỏ hồng,
vị ngon, người Gia Định rất ưa chuộng, mua với giá cao (Gia Định
thông chí).
Hòn Tài Nhỏ, Hòn Tài Lớn, Hòn Trác Nhỏ, Hòn Trác Lớn, họp
thành một chuỗi đảo nhỏ nối tiếp. Hòn Bảy Cạnh, kéo dài từ đông bắc
xuống tây nam, che chắn cho đảo Côn Lôn.
Hòn Trọc, còn gọi là Hòn Trai vì ở đó có nhiều trai ốc biển. Hòn Tre
Lớn, Hòn Tre Nhỏ tiếp nối nhau che chắn phía tây và tây bắc đảo Côn
Lôn.
Hòn Trứng, còn gọi là Hòn Đá Bạc nằm xa đảo Côn Lôn về hướng
Đông - Bắc. ở đây không có cây cối nhưng lại là nơi trú chân, làm tổ,
đẻ trứng của các loài chim biển, biến đảo này thành một trong những
“sân chim” của miền Nam nước ta.
Hòn Vung trông giống như chiếc vung nồi úp chụp xuống mặt biển
xanh, là một hòn đảo nhỏ ở phía Tây - Nam quần đảo.
Từ năm 1995, Nhà nước ta giao cho huyện Côn Đảo được quản lý
thêm 2 hòn đảo mang tên Hòn Anh và Hòn Em ( Hòn Trứng lớn và
Hòn Trứng nhỏ ) cách trung tâm thị trấn Côn Đảo 27 hải lý về phía
Tây (chếch Nam 50).
Diện tích các hòn đảo kể trên cộng lại chỉ bằng nửa diện tích đảo
Côn Lôn. Đất canh tác ở đây không đáng kể, trừ mấy hòn đảo lớn
như Hòn Bà, Hòn Bảy Cạnh, Hòn Cau, các đảo khác trông như những
trái núi đá vượt lên khỏi mặt biển với những bãi cát nhỏ, chói lòa ánh
nắng trong những ngày đẹp trời.
Địa hình quần đảo Côn Lôn chủ yếu là đồi núi. Diện tích núi đồi là
6.328 héc ta, chiếm 88,4% tổng diện tích tự nhiên, đá lộ tương đối
nhiều. Những ngọn núi cao nhất đều ở đảo Côn Lôn, như Núi Chúa
cao tới 515m. Ngọn núi phía nam thị trấn Côn Đảo (núi An Hải) cao
577m.
Thị trấn Côn Đảo nằm trên một thung lũng hình bán nguyệt, dài từ
8 đến 10 km, rộng từ 2 đến 3 km, ba bề có núi bao bọc, mặt trông ra
Vịnh Côn Lôn (còn gọi là vịnh Đông - Nam hay Vịnh Đề Lao). Khu vực
tương đối bằng phẳng thứ hai là làng Cỏ Ống. Hai thung lũng này đất
đai bằng phẳng, có nhiều chỗ trũng tạo thành hồ nước và ruộng trồng
lúa. Côn Đảo không có sông mà chỉ có những dòng suối cạn, hai con
suối đáng kể đều ở trong khu vực thị trấn. Dòng suối thứ nhất bắt
nguồn từ phía Sở Tiêu, Sở Lò Gạch chảy vòng phía sau thị trấn và đổ
ra vịnh Đông - Nam gần Sở Muối An Hội. Dòng suối thứ hai bắt đầu từ
khu vực Sở Ruộng dưới chân Núi Chúa và chảy ra cống Lò Bò gần
Mũi Lò Vôi. Đất đai nông nghiệp chiếm 3,2% tổng diện tích, chủ yếu
tập trung ở hai khu vực này và ở Hòn Cau.
Khí hậu Côn Đảo là loại khí hậu đại dương. Nhiệt độ trung bình
hàng năm là 26,9°C. Lượng mưa trung bình là 2.200 mm. Côn Đảo có
2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ
tháng 12 đến tháng 4. Tháng một là tháng khô nhất trong năm. Mùa
khô thời tiết mát mẻ hơn, nhiệt độ trung bình là 24°C, tháng 2 là tháng
mát nhất, nhiệt độ trung bình là 22°C. Oi bức nhất là tháng 5, có lúc
tới 34°C. Độ ẩm trung bình hàng năm trên đảo là 80%.
Gió mùa Đông - Đông Bắc ở Côn Đảo thường rất mạnh, từ cấp 6
đến cấp 7, nhân dân ta gọi là gió chướng, gây nhiều trở ngại cho sinh
hoạt. Người tù thường lợi dụng mùa gió này để thả bè vượt ngục trở
về đất liền.
Nhìn chung, khí hậu Côn Đảo trong lành, thuận lợi cho sức khỏe
con người. Nhưng điều này còn tùy thuộc rất nhiều ở vị trí cụ thể, nơi
ở cao hay thấp, có chướng ngại che chắn gió nhiều hay ít. Nước
ngầm là nguồn nước ngọt chủ yếu ở đảo để dùng trong sinh hoạt
cũng như trong mọi hoạt động kinh tế.
Côn Đảo còn là một bảo tàng thiên nhiên lớn với Rừng Quốc gia
Côn Đảo. Rừng có diện tích 6.043 hecta (chiếm 83,7% tổng diện tích
tự nhiên của huyện đảo.
Rừng gồm 3 hệ sinh thái chủ yếu:
– Rừng nhiệt đới thường xanh quanh năm.
– Rừng đồi cát khô .
– Rừng đước và rừng sau đước.
Những khảo sát sơ bộ cho thấy ở đây có 650 loại - thực vật thuộc
về 22 lớp, 71 họ; đại diện cho các vùng khí hậu Việt Nam (cả Bắc,
Trung, Nam), trong đó có 26 loại cây lấy gỗ với nhiều loại gỗ quý như:
cẩm lai, quăng, sao, giáng hương. . . và 76 loại cây dược liệu. Trong
rừng có 100 loại chim và thú lưỡng cư thuộc 50 họ và 22 lớp; 18 loại
động vật có vú; 65 loại chim; 25 loại bò sát; 6 loại ếch và 150 loại
động vật thân mềm. Động vật quí hiếm có sóc đen, sóc da đỏ, sóc
bay, khỉ vàng, gầm ghi trắng, đại bàng biển, trăn... Hòn Trứng là nơi
cơ trú của các loại chim biển, mật độ dày đặc, có thể so sánh với
những sân chim nổi tiếng ở miền Tây Nam Bộ . Đặc biệt ở đây có
chim Điêu lặt xanh, ó biển là những loại chim hiếm trên thế giới. Trong
lòng biển có những bãi hải sâm lớn, nơi cư ngụ của cá heo. Tại
những bãi biển của Hòn Bảy Cạnh, Hòn Tre Lớn là nơi sinh đẻ của
vích và đồi mồi. Nhiều hang và vách đá của Hòn Cau, Hòn Tre Nhỏ ,
vịnh Đầm Tre . . . là nơi cơ ngụ của chim yến.
Ngoài khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển,
ở các vùng núi của Côn Đảo có khí hậu mát mẻ như cao nguyên Đà
Lạt, Rừng Quốc gia Côn Đảo là bức tranh thu nhỏ của thảm thực vật
rừng Việt Nam. Cũng ở đây nhiều di tích khảo cổ học giá trị được phát
hiện, hé mở một triển vọng lớn trong việc tìm hiểu các nền văn hóa
tiền sử từng tồn tại trên đất nước ta. Chỉ tính riêng Côn Lôn đã có 24
bãi biển lớn nhỏ. Tất cả những tiềm năng đó khiến Côn Đảo có khả
năng hiện thực trở thành một trong những hòn đảo du lịch nổi tiếng,
không thua kém các hòn đảo du lịch nổi tiếng khác trên thế giới.
Nhưng chế độ thực dân cũ và mới, hơn một thế kỷ qua Côn Đảo đã
trở thành một nhà tù, hơn nữa tại là một nhà tù dã man nhất, chất
chồng những tội ác “trời không dung, đất không tha” của chủ nghĩa đế
quốc.
Trước ngày giải phóng, những di vật khảo cổ học phát hiện được
một cách lẻ tẻ, ngẫu nhiên. . . lưu trữ tại các bảo tàng đã gợi ý cho ta
thấy: vào giai đoạn hậu kỳ thời đá mới - cách đây trên dưới 4.000
năm, lớp cư dân đầu tiên đã có mặt tại quần đảo Côn Lôn. Họ biết
làm nông nghiệp dùng cuốc kết hợp với thu lượm hải sản, săn bắt,
đánh cá. Sau đó, họ đã biết nghề luyện kim đồng và sắt. Tuy chưa có
được những cuộc khai quật quy mô, nhưng qua nghiên cứu so sánh
các di vật ngẫu nhiên tìm được ta nhận biết được mối quan hệ khăng
khít giữa văn hoá vật chất của cơ dân Côn Đảo thời tiền sử với khối
cư dân cùng thời ở lưu vực sông Đồng Nai, ở duyên hải Đông Nam
Bộ ngày nay.
Từ thập niên 80 thế kỷ XX, công cuộc tìm kiếm và thăm dò khảo cổ
học bắt đầu được tiến hành tích cực do nỗ lực của các bảo tàng địa
phương và Trung ương, của các cơ quan khảo cổ học, sử học ở
Trung ương. Việc nghiên cứu tiền sử ở quần đảo đã có những tiến
mới, vững chắc: nhiều cuộc thám sát được tiến hành có hệ thống tại
các đảo lớn (Côn Lôn, Hòn Bảy Cạnh, Hòn Bà và Hòn Cau). Đã phát
hiện: di tích cư trú lớn như làng cổ Hòn Cau (diện tích ước 8.000 m2),
những mộ táng ở Hòn Bảy Cạnh, dấu vết nơi cư trú của người tiền sử
ở Hòn Bà, đã khảo sát lại địa điểm khảo cổ học ở đảo Côn Lôn lớn (di
chỉ Hàng Dương). Chủ nhân của các di tích khảo cổ này đều đã biết
luyện đồng, sắt.
Quan trọng nhất, đáng kể nhất là cuộc khai quật khảo cổ ở đảo
Hòn Cau - một trong 4 hòn đảo lớn của quần đảo. Qua phân tích
những hiện vật khảo cổ phong phú ở làng cổ Hòn Cau trong đợt khai
quật khá quy mô trên một diện tích đào 175m2, các nhà khoa học đã
đi tới kết luận quan trọng: di tích làng cổ Hòn Cau có mối quan hệ văn
hóa mật thiết, gắn bó với nhiều di chỉ ven biển của cả nước, như
Quỳnh Văn (Nghệ An), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Xóm Cồn (Khánh
Hòa) và một số di tích cùng loại ở lưu vực sông Đồng Nai (miền Đông
Nam Bộ). Làng cổ Hòn Cau được xác định niên đại trong khoảng từ
2.500 - 3.000 năm trước đây.
Do vị trí thuận lợi giữa biển Đông, trên đường giao lưu Đông - Tây,
Côn Đảo được người phương Tây biết đến từ rất sớm. Năm 1294,
đoàn thuyền gồm 14 chiếc của nhà du hành người Ý, Máccô Pôlô
(Marco Polo), dạt vào trú tại Côn Đảo sau khi bị bão đánh chìm 8
chiếc. Trong tập hồi ký của mình, Máccô Pô lô đã miêu tả quần đảo
này như một nơi giàu đẹp.
Năm 1516, nhà hàng hải Bồ Đào Nha, Anđơrađơ (Pernão Perès de
Andrade) đã tới Côn Đảo vào trung tuần tháng 9. Ông ta cho biết hải
đảo này là nơi các nhà đi biển rất hay lui tới, thường là để kiếm nước
ngọt; thủy thủ của ông đã thấy ở đây có bán nhiều gà, rùa biển và họ
còn thấy có cả nho nữa.
Khoảng giữa những năm 60 thế kỷ XVI, thi hào Bồ Đào Nha
Camôidơ (Lui Vaz de Camões) - người đã làm rạng danh nền văn học
Bồ thời Phục Hưng cũng đã ghé qua Vũng Tàu và Côn Đảo đem theo
tập bản thảo cuốn sử thi bất hủ Os Lusiadas còn giữ lại được sau nạn
đắm tàu ở cửa Sông Tiền. Đây là tập thơ đầu tiên của của nền văn
học phương Tây có viết về đất nước ta, trong đó có những vần thơ
đẹp đẽ nói về xứ Đàng Trong.
Trong quá trình lập nghiệp ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn (cũng
như các vua Triều Nguyễn sau này) đều rất quan tâm đến việc hành
xử chủ quyền của đất nước đối với các vùng biển đảo trong hải phận.
Thời này, tàu thuyền các cường quốc châu Âu tăng cường hoạt động
tìm kiếm thị trường, thuộc địa hoặc để đặt thương điếm với mưu toan
bành trướng ảnh hưởng.
Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), việc tuần tiễu bảo
vệ chủ quyền cũng như quyền khai thác tài nguyên ở các vùng biển
được tổ chức chặt chẽ, chu đáo. Công việc nặng nề được giao phó
cho các đội hải thuyền đặc biệt, do Nhà nước tổ chức ra, hoạt động
theo những chế định nghiêm ngặt. Các vùng biển đảo đều thống nhất
các đơn vị hành chính nhất định, gắn bó với một vùng hoạt động nhất
định của mỗi hải đội. Dữ liệu còn lại cho biết: xứ Đàng Trong hồi đó
có những hải đội với quy mô tổ chức to nhỏ khác nhau:
– Đội Hoàng Sa: Là đội lớn nhất, quan trọng nhất phụ trách vùng
biển Thuận Quảng ở ngoài khơi xa, nơi có quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa, và cả vùng biển phía nam Trường Sa nửa. Đội này được
thành lập cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷ thứ XVIII, hoạt động mạnh mẽ
dưới đời chúa Nguyễn Phúc Chu. Đời Gia Long, hoạt động cửa đội
này vẫn được duy trì tích cực, như trước.
– Đội Bắc Hải: Được thành lập sau sự kiện đánh đuổi người Anh,
khi họ ngang nhiên đến Côn Đảo, lập pháo đài (1702-l705). Quần đảo
Côn Lôn, trước nằm trong phạm vi hoạt động tuần tiễu và khai thác
hải sản của Đội Hoàng Sa, khi lập đội Bắc Hải thì nằm trong phạm vi
hoạt động của đội này. Nhưng thời gian không dài, vì ngay sau đó đội
Bắc Hải lại được đặt dưới quyền cai quản của đội Hoàng Sa. “Lại có
Đội Bắc Hải mộ dân thôn Tư Chính, Bình Cố hoặc xã Cảnh Dương
sung vào. Được lệnh cưỡi thuyền nhỏ ra các đảo Côn Lôn ở Bắc Hai
thu lượm hóa vật, cũng do đội Hoàng Sa cai quản luôn”. (Đại Nam
thực lục tiền biên, q.10; chi tiết hơn: xem Phủ biên tạp lục, quyển 2, tờ
84 a, b). Đội Bắc Hải đặt dưới quyền chỉ đạo của các quan chức Phủ
Gia Định với một quy chế nhân sự và cách thức quản lý thông thoáng
hơn. Nhưng về biên chế thì chủ yếu vẫn là dân thạo ghe biển trên đảo
Lý Sơn (Cù Lao Ré - thuộc phủ Bình Thuận).
– Đội Thanh Châu: Hoạt động trong vùng biển đảo phụ Quy Nhơn.
– Đội Hải Môn: (thuộc Phủ Bình Thuận), hoạt động tuần tra và thu
lượm hải sản (yến sào là chủ yếu) ở đây.
Sau cuộc kinh lý của Nguyễn Hữu Cảnh 141 năm, Côn Đảo thuộc
tỉnh Vĩnh Long quản hạt. Tòa thành đất ở Côn Đảo do Đội Thanh Hải
xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836) và mang tên “Thành đất
Thanh Hải (Thanh Hải bảo). So với các thành đất cùng thời, thành
Côn Lôn có quy mô khá lớn: chu vi 50 trượng 8 thước 9 tấc; cao 4
thước 3 tấc, có 2 cửa, 1 pháo đài, 1 kỳ đài. Trong lần trùng tu năm
Thiệu Trì thứ 2 ( 1842) đổi tên thành Côn Lôn bảo (thành đất Côn
Lôn) và đến khi giặc Pháp chiếm Côn Đảo tòa thành vẫn còn.
Cuối thế kỷ thứ XVII và đầu thế kỷ thứ XVIII, tư bản Anh, Pháp đã
bắt đầu nhòm ngó các nước phương Đông. Nhiều lần các công ty
Đông - Ấn của Anh, Pháp cho người tới Côn Đảo điều tra, dò xét tình
hình mọi mặt với âm mưu xâm lược.
Tháng 11 năm 1686, Công ty Đông - Ấn của Pháp đã phái Vê rê
(Véret) tới điều tra lập cơ sở ở Côn Đảo.
Năm 1687, Uy liêm Đampiê (Williams Dampier) nhân viên Công ty
Đông - ấn của Anh đã tới vẽ bản đồ ở vịnh Tây - Nam Côn Đảo.
Năm 1702, đời chúa Nguyễn Phúc Chu, năm thứ 12, Công ty Đông
- Ấn của Anh ngang nhiên đổ quân lên Côn Đảo xây dựng pháo đài.
Giám đốc Công ty là Len Kếtpôn (Allen Catchpole) đích thân chỉ huy
cuộc chiếm đóng trái phép này. Ông ta đưa một số lính người
Macátxa1tới xây dựng một pháo đài lớn, ký hợp đồng với họ làm trong
3 năm. “Ở Côn Đảo họ bị đau ốm lo buồn và chỉ muốn về quê nhà. Họ
bí mật chuẩn bị một cuộc nổi dậy. Đêm ngày 3-2-1705, một tiếng hú
man rợ vang trong rừng thẳm. Chính là những người lính hung hãn,
da ngăm màu đồng hun đã vùng lên tiêu diệt ban chủ người Anh (...).
Chỉ có rất ít người chạy thoát như bác sĩ Paodơ (Pould) và ông
Xalômdn Lyôt (Salomon Ilyod) đang ở bên ngoài pháo đài”2.
Nguyên nhân của cuộc nổi dậy này không phải chỉ ở chỗ người
Macátxa không chịu đựng nổi khí hậu và cuộc sống quá thiếu thốn
trên đảo, cũng không phải vì đã hết hạn hợp đồng mà bọn chủ người
Anh không làm theo lời hứa đưa trả họ về quê hương. Các tác giả Đại
Nam nhất thống chí cho biết:
“Đời vua Hiển Tông triều Nguyễn (1691 - 1725) vào năm Nhâm
Ngọ (1702) có thuyền An - Liệt của bọn hải phỉ vào đậu ở đảo Côn
Lôn. Tù trưởng là bọn Tô - Thích, Già - Thi chia người làm 5 ban và
đảng lõa hơn 200 người, kết lập trại sách, tích trữ của báu như núi và
những đồ bánh trái hào soạn, bốn mặt đều đặt hỏa pháo phòng thủ.
Quam trấn thủ ở biên - trấn là Trương Phúc Phan, mộ 15 người
nước Đồ Bà mật khiến chúng trá hàng. Nhân khi ban đêm phóng lửa
đốt cả trại sách của chúng. Giết được ban nhất, ban nhì, bắt được
ban năm, còn ban ba và ban tư thì trốn thoát ra biển.
Trương Phúc Pham được tin bèn khiến binh thuyền ra đảo, tóm
thâu được cả đồ vàng lụa đem dâng nộp”3.
Lê Quý Đôn đã tra lại sổ ghi kết quả công việc của Thuyên Đức
Hầu, người trực tiếp chỉ huy đội Hoàng Sa những năm đó, từ năm
1702 đến 1709, cung cấp cho chúng ta những con số đáng chú ý :
– Năm Nhâm Ngọ, (1702, năm Len Kếtpun đến chiếm đóng Côn
Đảo - T.G), đội Hoàng Sa thu 1ượm được 30 thỏi bạc.
– Năm Ất Dậu, (1705, năm có cuộc nổi dậy đánh đuổi người Anh T.G), đội Hoàng Sa thu lượm được 126 thỏi bạc.
– Từ năm Kỷ Sửu đến năm Quý Tỵ, (1709- 1713), chỉ được mấy
cân đồi mồi và hải sâm, có lần họ chỉ thu lượm được mấy khối thiếc,
mấy chiếc bát đá và 2 khẩu súng đồng”4.
Như vậy cuộc nổi dậy của người Macátxa đêm 3-2-1705 là do
chính quyền nhà Nguyễn tổ chức và chỉ huy nhằm bảo vệ chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ xứ Đàng Trong. Kế hoạch diệt bọn hải phỉ An Liệt được chuẩn bị chu đáo: chúa Nguyễn khôn khéo cài người vào
nội bộ địch, lợi dụng bọn lính Macátxa đánh thuê đang bất mãn đối
với bọn chủ người Anh để gây nên cuộc binh biến, kết hợp với sự hỗ
trợ từ bên ngoài. Sự việc được giải quyết gọn lẹ , không gây rắc rối
trong quan hệ bang giao vì đã có tù binh trong tay, địch khó lòng chối
cãi, trong một thời gian lâu dài về sau tránh được sự nhòm ngó của
một cường quốc hải quân hùng mạnh vào bậc nhất thời đó .
Năm 1771, cuộc khởi nghĩa to lớn của nông dân Tây Sơn bùng nổ
và phát triển mau lẹ. Từ 1776 trở đi, quân Tây Sơn nhiều lần tấn công
vào căn cứ cửa chúa Nguyễn ở Gia Định. Tháng 3 năm 1782, thủy
quân của Nguyễn Ánh bị đại bại ở cứa Cần Giờ. Tháng 6 năm1783,
thủy quân Tây Sơn đánh Phú Quốc. Nguyễn Ánh trốn chạy sang đảo
Côn Lôn, đem theo hơn 100 gia đình thuộc hạ để sau này lập nên ba
làng An Hải, An Hội và Cỏ Ống xây dựng căn cứ, tính kế phục thù.
Chiến thuyền Tây Sơn đuổi theo nhưng sau đó, Nguyễn Ánh chạy
thoát về Phú Quốc vì thuyền Tây Sơn gặp bão.
Sau thất bại này, theo lời khuyên của giám mục Bá Đa Lộc,
Nguyễn Ánh đã chọn con đường cầu viện nước Pháp chống Tây Sơn
để giành lại ngôi báu. Bá Đa Lộc là Khâm sai tòa Thánh ở Gia Định từ
1765, đã giúp Nguyễn Ánh khi bị Tây Sơn đánh đuổi vào đây, sự gắn
bó giữa họ với nhau đã là nguồn gốc cho việc Pháp can thiệp ngày
càng sâu vào Việt Nam. Tháng 12 năm 1784, Nguyễn Ánh dã giao ấn
tín và hoàng tử Cảnh cho Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện. Chủ trương
phản động này đã bị chính Phi Yến, người vợ trẻ của Nguyễn Ánh
phản đối, nhưng Ánh không nghe và đày bà lên hòn Côn Lôn Nhỏ cho
đến chết. Hòn đảo từ đấy mang tên Hòn Bà.
Ngày 28-11-1787, thay mặt Nguyễn Ánh, Bá Đa Lộc đã ký Hiệp
ước Vécxai (Versailles) với đại diện vua Pháp là Đờ Mông-môranh
(De Montmorin), theo đó thì Pháp hứa giúp Nguyễn ánh 4 tàu chiến,
1.200 lính, 200 pháo thủ, 250 lính người Phi . Để đổi lại, Nguyễn Ánh
nhượng cho Pháp chủ quyền ở Cửa Hàn (Đà Nẵng), cho Pháp được
độc quyền thương mại ở Nam Kỳ. Quần đảo Côn Lôn cũng bị nhượng
cho Pháp (điều 3 và 5, Hiệp ước Vécxai).
Từ tháng 2 đến hết tháng 12 năm 1787, khâm sứ của giáo hoàng
Bá Đa Lộc đã được yết kiến vua Lui XVI chính tay ông ta đã vạch ra
mấy phương án thực hiện cuộc xâm lược. Với quân số và vũ khí dự
kiến, ông ta đã đưa ra kế hoạch tác chiến đánh thẳng vào Quy Nhơn.
Quân lính Pháp dưới sự yểm trợ bằng hỏa lực pháo binh đặt trên các
tàu chiến, sẽ đổ bộ lên Quy Nhơn, nhanh chóng kết thúc cuộc chiến
tranh.
Cũng chính vị thầy tu này nêu lên số lượng lương thực, thực
phẩm, các dụng cụ cần thiết và cả số thuốc men cần đem theo.
Nhưng chế độ quân chủ chuyên chế Pháp đang khủng hoảng trầm
trọng. Cuộc khủng hoảng tài chính đã trở thành nguyên nhân trực tiếp
chủ yếu dẫn đến cuộc Đại cách mạng Pháp năm 1789, đập tan chế
độ phong kiến, đem lại thắng lợi cho giai cấp tư sản Pháp.
Trong tình hình như vậy, triều đình Pháp không thể thực hiện được
những cam kết, Bá Đa Lộc đã trở về tay không. Bá tước Đờ
Môngmoranh đã gửi những chỉ thị mật cho Cônuây (Conway), người
chỉ huy lực lượng pháp ở Ấn Độ không thực hiện cuộc can thiệp vì
tình hình tài chính không cho phép. Không cam chịu thất bại, vị giám
mục có đầu óc thực dân này ghé qua Pôngđisên vận động một số
thương nhân Pháp hùn tiền mộ lính, mua súng ống giúp Nguyễn Ánh.
Tháng 9 năm 1788, tàu Đơriađơ và La Tron đã chở tới Côn Đảo 1.000
khẩu súng trường và mấy khẩu thần công.
Cần nhắc lại rằng từ khi ký kết Hiệp ước Vécxai cho tới khi Pháp
có âm mưu chiếm Côn Đảo cuối năm 1861, cả hai bên Pháp cũng
như triều đình nhà Nguyễn, không bên nào nhắc đến hiệp ước đó cả.
Về mặt pháp lý cũng như trên thực tế, hiệp ước này không có giá trị
gì.
Tháng 7 năm 1857, sau nhiều lần khiêu khích, gây hấn dưới chiêu
bài phản đối chính sách bế quan tỏa cảng và chính sách cấm đạo,
Pháp quyết định xâm lược Việt Nam, bảo đảm sự hiện diện của Pháp
ở Viễn Đông. Ngày 1-9-1858...
 





