Sách Nói] Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn - Chương 1
Lược sử báo chí Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:19' 06-04-2024
Dung lượng: 689.5 KB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:19' 06-04-2024
Dung lượng: 689.5 KB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Tên sách : LƯỢC SỬ BÁO CHÍ VIỆT NAM
Tác giả : NGUYỄN VIỆT CHƯỚC
Nhà xuất bản : NAM-SƠN
Năm xuất bản : IN LẦN THỨ NHỨT 1974
-----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
Đánh máy : ElvisRey, Nhi Nguyễn, Daibig,
Nhok_kira, tu051290, nonliving, meyeusoi,
phaithatmanhme19, Đình Giao, tranhoaibaotn,
ptt1106, blacktulip161
Kiểm tra chính tả : Trần Trung Hiếu,
Vũ Minh Anh, Thư Võ
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 25/09/2018
https://thuviensach.vn
Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA 1000
QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE4U.ORG
Cảm ơn tác giả NGUYỄN VIỆT CHƯỚC và nhà xuất bản NAM-SƠN
đã chia sẻ với bạn đọc những kiến thức quý giá.
https://thuviensach.vn
MỤC LỤC
CHƯƠNG I : PHÂN CHIA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ BÁO CHÍ VIỆT
NAM
1. TỔNG QUÁT
2. PHẢI CHỌN NHỮNG TIÊU CHUẨN NÀO ĐỂ PHÂN CHIA CÁC
GIAI ĐOẠN
a) Tiêu chuẩn hoạt động của báo chí
b) Tiêu chuẩn ý thức chính trị
c) Tiêu chuẩn các biến cố thời sự (chính trị, xã hội, văn hóa và
phát triển báo chí)
d) Tiêu chuẩn lịch sử
e) Tiêu chuẩn văn hóa và kỹ thuật
f) Tiêu chuẩn độc giả
g) Tiêu chuẩn thế hệ
3. NHẬN XÉT
4. KẾT LUẬN
CHƯƠNG 2 : NHỮNG GÌ ĐÃ XẢY RA TRONG TIẾN TRÌNH 100
NĂM CỦA BÁO CHÍ VIỆT NAM
1. TỔNG QUÁT
a) Cảnh lệ thuộc của báo chí
b) Những tờ báo mới xuất hiện
- Gia Định Báo (1865-1897)
- Đông Dương Tạp Chí (1913-1916)
- Nam Phong Tạp Chí (1917-1934)
- Các tờ báo khác (xuất bản trong thời gian từ 1865 tới 1917)
2. THỜI KỲ BÁO CHÍ ĐI VÀO Ý THỨC QUỐC GIA (1918-1929)
https://thuviensach.vn
- Báo Đông Tây (1929 tới 1932)
- Phụ nữ Tân Văn (1929-1934)
3. MỘT MÙA TRĂM HOA ĐUA NỞ (1930-1945)
- Phong Hóa và Ngày Nay (1932-1940)
4. BÁO CHÍ KHÁNG CHIẾN (1945-1954) VÀ THỜI KỲ THƯƠNG
MẠI HÓA CỦA BÁO CHÍ (1945-1965)
5. BÁO CHÍ THỜI KỲ HẬU GENÈVE (1954-1963)
6. BÁO CHÍ THỜI KỲ HẬU CÁCH MẠNG
CHƯƠNG 3 : ẢNH HƯỞNG LUẬT PHÁP ĐỐI VỚI CÁC SINH
HOẠT BÁO CHÍ VIỆT NAM
1. TỔNG QUÁT
2. LUẬT PHÁP ĐỐI VỚI BÁO CHÍ THỜI KỲ PHÁP THUỘC ĐẾN
1-7-1949
3. LUẬT PHÁP ĐỐI VỚI BÁO CHÍ TỪ 1-7-1949 ĐẾN NGÀY CÁO
CHUNG ĐỆ I CỘNG HÒA 1-11-1963
4. LUẬT PHÁP HIỆN ĐẠI ĐỐI VỚI BÁO CHÍ TỪ 1-11-1963 ĐẾN
NAY
5. NHỮNG NÉT CHÍNH CỦA SẮC LUẬT 007
a) Tóm lược sắc luật
b) Đặc điểm của Sắc luật
c) Ảnh hưởng của Sắc luật 007/TT/SLU
CHƯƠNG 4 : NHỮNG KHUÔN MẶT LỚN CỦA LÀNG BÁO
TỔNG QUÁT
TRƯƠNG VĨNH KÝ
HUỲNH TỊNH CỦA
NGUYỄN VĂN VĨNH
https://thuviensach.vn
PHAN KẾ BÍNH
PHẠM QUỲNH
NGUYỄN BÁ HỌC
PHAN KHÔI
NGUYỄN TRỌNG THUẬT
NGUYỄN VĂN TỐ
NGUYỄN AN NINH
BÙI QUANG CHIÊU
HOÀNG TÍCH CHU
SƯƠNG NGUYỆT ANH
ĐÀO TRINH NHẤT
NHẤT LINH (1906-1963)
KHÁI HƯNG (1896-1947)
NGUYỄN TUÂN
THẾ LỮ
HỒ BIỂU CHÁNH (1885-1958)
PHI VÂN
TẢN ĐÀ (1888-1939)
NAM CAO (1914-1951)
BÌNH NGUYÊN LỘC
MỘNG SƠN
THU VÂN
CHƯƠNG 5 : BÁO CHÍ HÔM NAY
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
https://thuviensach.vn
PHỤ BẢN SƠ ĐỒ : CÁC GIAI ĐOẠN TRONG TIẾN TRÌNH BÁO
CHÍ V.N.
https://thuviensach.vn
NGUYỄN VIỆT CHƯỚC (Hồng Hà)
LƯỢC SỬ BÁO CHÍ VIỆT NAM
Soạn theo chương trình của Bộ Giáo Dục
để áp dụng vào việc giảng dạy
môn Quốc Văn Lớp 12
và dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên
các Phân Khoa Truyền Thông Báo Chí
IN LẦN THỨ NHỨT
1974
NHÀ XUẤT BẢN NAM-SƠN
36, Nguyễn an Ninh Saigon – Đ.T : 21.026
(cửa Tây chợ Bến Thành)
https://thuviensach.vn
VIỆT NAM CỘNG HÒA
BỘ VĂN HÓA GIÁO DỤC
và THANH NIÊN
Nghị-Định số 1445/VHGDTN/KHPC/HV
ngày 29 tháng 6 năm 1974 ấn định chương
trình Quốc-Văn giảng dạy lớp Mười hai kể
từ niên khóa 1974-1975.
TỔNG-TRƯỞNG VĂN-HÓA GIÁO-DỤC VÀ THANH-NIÊN
Chiếu Hiến Pháp Việt-Nam Cộng-Hòa ngày 01-04-1967.
Chiếu Sắc-Lệnh số 394-TT/SL ngày 01-09-1968 và các văn kiện kế tiếp
ấn định thành phần Chánh-Phủ.
Chiếu Sắc-Lệnh số 33-GD ngày 19-09-1949 ấn định chức chưởng của
Bộ Trưởng Quốc-Gia Giáo-Dục.
Chiếu Nghị-Định số 193-NĐ/GD ngày 14-10-1953 ban hành chương
trình Trung-Học trên toàn quốc và các nghị-định bổ túc và sửa đổi kế tiếp.
Chiếu Nghị-Định số 1152A-GD/KHPC/HV/NĐ ngày 26-06-1970 hợp
thức hóa chương trình đã được cập nhật hóa.
Chiếu Nghị-Định số 1867-GD/KHPC/HV/NĐ ngày 04-10-1971 ban
hành chương trình cập nhật hóa áp dụng từ niên-khóa 1971-1972.
Chiếu đề nghị của Nha Trung Học.
NGHỊ-ĐỊNH
ĐIỀU I. – Nay bổ túc Nghị Định số 1867-GD/KHPC/NĐ ngày 04-101971 ban hành chương trình cập nhật hóa áp dụng từ niên khóa 1971-1972
bằng các điều khoản sau đây.
ĐIỀU II. – Môn Quốc Văn được giảng dạy tại lớp Mười Hai kể từ niên
khóa 1974-1975 với số giờ hàng tuần được ấn định trong bảng phân phối
giờ đính hậu.
https://thuviensach.vn
ĐIỀU III. – Các môn Sử-Địa, Triết, Sinh-Ngữ II, Cổ-Ngữ và Toán
được tu chính ứng với số giờ hàng tuần được ấn định lại trong bản phân
phối giờ.
ĐIỀU IV. – Tổng số giờ hàng tuần các môn ở lớp Mười Hai ghi trong
Nghị-định số 1867-GD/KHPC/HV/NĐ ngày 04-10-1971 vẫn không thay đổi.
ĐIỀU V. – Tất cả các điều khoảng trái với nghị định bổ túc này đều
bải bỏ.
ĐIỀU VI. – Thứ-trưởng, các Phụ-Tá, Đổng-Lý văn phòng, Tổng Thơ
Ký, các Giám-Đốc chiếu nhiệm vụ thi hành nghị·định này.
SAIGON, ngày 29 tháng 06 năm 1974
TỔNG-TRƯỞNG VĂN-HÓA GIÁO-DỤC VÀ TN
NGÔ-KHẮC-TỈNH
https://thuviensach.vn
ĐẦY ĐỦ CHI TIẾT : CHƯƠNG TRÌNH QUỐC
VĂN Ở LỚP 12
SAIGON 1-7. – Theo nghị định số 1445 do Tổng Trưởng Giáo Dục ký
vừa phổ biến đến báo chí, kể từ niên khóa 74-75, môn Quốc Văn sẽ được
giảng dạy tại lớp 12, mỗi tuần ban C-D sẽ có 3 giờ và các ban A-B sẽ có 2
giờ Quốc Văn.
Học thêm môn Quốc văn, các môn Sử Địa, Triết, Sinh ngữ II, Cổ ngữ
và Toán được tu chính lại để các ban C-D học 28 giờ một tuần và A-D học
30 giờ một tuần.
Chương trình quốc văn lớp 12 C-D gồm có hai phần : lý thuyết và thực
hành.
I. PHẦN LÝ THUYẾT SẼ HỌC
A. Các tư tưởng lớn trong văn chương Việt Nam : 1. Tư tưởng thuần
túy dân tộc trong văn chương bình dân. 2. Tư tưởng bắt nguồn từ Đông
phương (ảnh hưởng Nho giáo, ảnh hưởng Phật giáo, ảnh hưởng Lão giáo). 3.
Tư tưởng bắt nguồn từ Tây phương (ảnh hưởng của tư tưởng lãng mạn, ảnh
hưởng của tư tưởng tự do dân chủ, ảnh hưởng của Thiên chúa giáo).
B. Lược sử vài bộ môn văn học : 1. Lược sử thi ca VN. 2. Lược sử báo
chí VN. 3. Lược sử tiểu thuyết VN.
II. PHẦN THỰC HÀNH
A. Luận văn : 1. Phương pháp nghị luận văn học liên quan đến các vấn
đề nêu trong lý thuyết. 2. Hướng dẫn học sinh nghiên cứu một vấn đề văn
học và viết bài tiểu luận về vấn đề này.
B. Trần thuyết : 1. Chọn một số tác phẩm để trần thuyết. 2. Chương
trình này cũng áp dụng cho cả 2 ban A và B, nhưng học khái quát hơn.
https://thuviensach.vn
CHƯƠNG I : PHÂN CHIA CÁC THỜI KỲ LỊCH
SỬ BÁO CHÍ VIỆT NAM
1. TỔNG QUÁT
Báo chí Việt Nam trong tiến trình 100 năm kể từ 1865 tới 1965, đã trải
qua nhiều giai đoạn khác nhau với nhiều sắc thái tương phản. Lý do của sự
tương phản này là do các biến cố bên ngoài cũng có mà do sự chuyển mình
của báo chí cũng có. Chính vì thế, cuộc hành trình của báo chí Việt Nam kể
từ lúc phôi thai tới những năm gần đây đã được nhiều người phân chia thành
nhiều chặng đường để mô tả những thay đổi quan trọng đánh dấu những
bước tiến của nó.
Báo chí, cũng như mọi ngành hoạt động văn hóa xã hội khác, luôn luôn
thu nhận tầm ảnh hưởng của các biến cố ngoại cảnh để tự tìm đường tiến
hóa cho thích hợp. Nói như vậy có nghĩa là báo chí không phải là một sinh
hoạt đứng riêng rẽ trong xã hội. Trái hẳn lại báo chí bị ảnh hưởng bởi lịch sử
chính trị, các biến chuyển xã hội, các cuộc chiến, cũng như mọi biến cố thời
sự có tầm vóc lớn không bị thu hẹp vào một địa phương. Nhờ đó mà báo chí
tiến qua các giai đoạn mà cải tiến mà lớn mạnh.
Nhưng khi nhìn vào tiến trình 100 năm của báo chí Việt Nam, mỗi
người nghiên cứu bước đi của nó theo một cái nhìn khác nhau. Từ cái nhìn
khác nhau đó, các học giả tiền phong trong vấn đề này mới đưa ra những
quan niệm khác nhau trong việc phân chia các thời kỳ lịch sử báo chí Việt
Nam. Người thì phân chia lịch sử đó theo tiêu chuẩn lịch sử đất nước. Người
thì phân chia căn cứ vào các hoạt động của chính báo chí. Người thì phân
chia các giai đoạn theo các tiêu chuẩn văn hóa. Và cuối cùng, có người đã
tổng hợp tất cả những tiêu chuẩn này để hệ thống hóa tiến trình của báo chí.
Dĩ nhiên chúng ta không thể khẳng định ưu và khuyết điểm của mỗi quan
niệm vì quan niệm nào cũng có phần chính xác và vững chắc. Ở đây chúng
ta chỉ phân tách các sự kiện trong tiến trình của báo chí và thử tìm xem có
https://thuviensach.vn
một đường lối nào khác, hữu hiệu hơn, để phân chia các thời kỳ mà báo chí
Việt Nam đã trải qua hay không.
2. PHẢI CHỌN NHỮNG TIÊU CHUẨN NÀO ĐỂ PHÂN CHIA CÁC
GIAI ĐOẠN
a) Tiêu chuẩn hoạt động của báo chí
Người đã căn cứ vào tiêu chuẩn các hoạt động của báo chí để phân chia
các giai đoạn trong tiến trình báo chí là nhà văn Thê Húc. Dưới con mắt ông,
báo chí Việt Nam, kể từ ngày khai sinh vào 1865 đã chuyển mình qua bốn
giai đoạn để đi tới hiện trạng của nó ngày nay. Theo ông, mỗi giai đoạn này
được đánh dấu bằng những hoạt động của chính nó, và hoạt động đó đã
được bộc lộ qua nội dung cũng như hình thức. Sự phân chia của Thê Húc
được trình bày như sau :
1. Giai đoạn dự bị 1865-1913
2. Giai đoạn thành lập 1913-1930
3. Giai đoạn phát triển 1930-1940
4. Giai đoạn phân hóa 1940-1946
Đây là quan niệm đầu tiên về lịch sử tiến hóa của báo chí vì Thê Húc là
người đầu tiên phân chia con đường tiến hóa báo chí Việt Nam ra từng giai
đoạn rõ rệt. Theo ông, những giai đoạn nầy đều được giới hạn với những
thời điểm và hoạt động rõ rệt, bắt đầu từ sự khai sinh của Gia Định Báo, tới
sự ra đời của Đông Dương Tạp Chí, đến Đông Tây, Tia Sáng v.v… Mỗi giai
đoạn nằm trong hai cái mốc có thể là sự xuất hiện của một tờ báo mà cũng
có thể là sự tạ từ của một tờ báo khác đóng cửa. Theo sự phân chia như vậy,
giai đoạn 1 (dự bị) của làng báo Việt Nam cho người ta thấy những hoạt
động phôi thai, rời rạc của một hai tờ báo đầu tiên ra mắt trên xứ sở chúng
ta. Giai đoạn 2 (thành lập) cũng không sôi động lắm, vì báo chí lúc đó như
một kẻ chập chững vào đời, các hoạt động còn rời rạc, và nhất là thời kỳ đó,
báo chí nước ta còn ở trong tay người Pháp. Phải đợi cho tới giai đoạn 3
(phát triển), cái không khí làm báo mới tưng bừng. Báo ngày, tạp chí nối gót
https://thuviensach.vn
nhau ra phụng sự dư luận. Nhưng rồi trong giai đoạn 4 (phân hóa), các
khuynh hướng khác nhau của người làm báo đã đưa báo chí vào một thời kỳ
lắng đọng, chấm dứt những ngày « trăm hoa đua nở » mới qua.
b) Tiêu chuẩn ý thức chính trị
Người thứ hai có công theo dõi tiến trình của báo chí Việt Nam là nhà
báo lão thành Trần Tấn Quốc. Trong bài nói chuyện về chủ đề « Lịch trình
tiến triển của báo chí nước nhà qua các giai đoạn 1862-1956 », ông đã phân
tách các chặng đường mà báo chí đã đi qua. Nhưng trong bài nói chuyện
trên, ông chỉ đề cập tới báo chí miền Nam và chỉ nhắc sơ tới báo chí miền
Bắc như là để dẫn chứng mà thôi. Trái với Thê Húc, Trần Tấn Quốc không
phân chia các giai đoạn theo báo chí mà lấy ý thức chính trị ra làm căn bản
để phân biệt. Dưới con mắt của ông, báo chí Việt Nam trong suốt tiến trình
100 năm chỉ được phân chia thành hai giai đoạn như dưới đây :
1. Giai đoạn vô ý thức của báo chí thuở ban đầu 1862-1925.
2. Giai đoạn ý thức quốc gia, xã hội từ lúc Phan Bội Châu bị bắt, Phan
Châu Trinh chết, từ 1926 trở đi.
Sự phân chia của Trần Tấn Quốc có cái lý do của nó. Trên con đường
dài 100 năm, ông cắm một mốc ở gần khoảng 2/3 chặng đường đó, nghĩa là
vào năm 1926 để chia ra làm hai. Đó là năm xảy ra hai biến cố chính trị đặc
biệt làm rung động dư luận : Biến cố thứ nhất là vụ cụ Phan Bội Châu bị bắt
ở Thượng Hải giải về Hà Nội và bị đem ra xử như một tên phiến loạn vào
cuối năm 1925 để rồi tạo nên một không khí công phẫn trong quần chúng
vào năm 1926. Biến cố thứ hai là cái chết và đám táng cụ Phan Châu Trinh
tại Saigon khoảng tháng 4, 1926. Báo chí lúc đó đã ý thức được tinh thần
quốc gia và phản ảnh đúng lòng dân. Không khí làng báo qua hai biến cố
lịch sử này thật vô cùng sôi nổi.
Quan niệm của Trần Tấn Quốc cho thấy rằng báo chí Việt Nam kể từ
lúc phôi thai cho tới 1925 hoàn toàn ở vào tình trạng « vô ý thức ». Nó hoạt
động như một con người, hay sinh vật nào đó sống mà không có trí giác,
không biết mình làm gì, cũng chẳng có liên hệ đến đất nước mình đang
https://thuviensach.vn
sống. Nhưng những biến cố năm 1926 đã làm làng báo chợt tỉnh vùng ra
khỏi cơn mê để lãnh lấy trách nhiệm đối với quốc gia. Từ « vô ý thức » đến
« ý thức », báo chí Việt Nam dưới con mắt Trần Tấn Quốc đột nhiên vùng
dậy để nhận biết chính mình và gánh lấy nhiệm vụ, chỉ nhờ hai biến cố
chính trị xảy ra trên lộ trình báo chí.
c) Tiêu chuẩn các biến cố thời sự (chính trị, xã hội, văn hóa và phát
triển báo chí)
Quan niệm thứ ba về sự phân chia các giai đoạn báo chí là quan niệm
tổng hợp của nhà văn Nguyễn Ngu Ý. Con mắt của Nguyễn Ngu Ý nhìn vào
tiến trình của làng báo Việt Nam với nhiều khía cạnh hơn con mắt của hai
học giả đi trước là Thê Húc và Trần Tấn Quốc. Với quan niệm tổng hợp đó,
Nguyễn Ngu Ý đưa ra một cách phân chia khác, với 4 giai đoạn trong đó
những cái mốc phần ranh giới có thể là biến cố chính trị, văn hóa mà cũng
có thể là các biến cố xã hội hay của chính làng báo xứ sở. Tiến trình của báo
chí Việt Nam dưới con mắt của Nguyễn Ngu Ý có 4 chặng dưới đây :
1. Giai đoạn lệ thuộc (báo chí do người Pháp chủ trương) 1865-1917.
2. Giai đoạn độc lập (báo chí do người Việt chủ trương) và đấu tranh
chánh trị 1918-1929.
3. Giai đoạn phát triển 1930-1945.
4. Giai đoạn thương mại hóa (Báo chí được khai thác như những cơ sở
doanh thương và kinh tế) 1946-1965.
Khi phân chia như trên, chính Nguyễn Ngu Ý cũng cho là để dễ trình
bày tiến trình của báo chí chứ không có gì khẳng định. Nhưng nhìn vào sự
phân chia đó ai cũng thấy cái mốc đầu tiên mà ông cắm vào cuối giai đoạn
một là sự giải thoát báo chí ra khỏi tay người Pháp. Sự thay đổi đó chính là
một biến cố của báo chí có pha lẫn màu sắc chính trị. Cái mốc thứ hai, đặt ở
năm 1918 là cái mốc văn hóa và xã hội, được cắm vào cuối giai đoạn hai để
đánh dấu ngày Thế chiến thứ hai chấm dứt. Ta thấy nó mang tính chất chính
trị, khi báo chí Việt Nam đóng vai trò đấu tranh chính trị giữa từng lớp sĩ
https://thuviensach.vn
phu nước ta với nhà cầm quyền thuộc địa. Cái mốc thứ ba thì hoàn toàn
mang tính chất văn hóa, còn cái mốc chót lại giống như cái mốc thứ nhất,
nghĩa là chỉ ghi dấu một biến cố của riêng báo chí mà thôi.
Như vậy, tiến trình 100 năm của báo chí Việt Nam do Nguyễn Ngu Ý
vạch ra cho mọi người thấy rõ ràng từ khi xuất hiện, báo chí nước ta đã
chuyển mình theo hai điều kiện : điều kiện thứ nhất là chính vì hoạt động
của nó (giai đoạn 1 và 4). Và điều kiện thứ hai là vì ảnh hưởng của các biến
cố ngoại cảnh (giai đoạn 2 và 3). Nhưng cũng theo ông, những ranh giới
phân chia không phải hoàn toàn cứng nhắc vì trong bất cứ giai đoạn nào,
người quan sát cũng vẫn tìm thấy những hoạt động dị biệt với ý nghĩa chung
của giai đoạn đó.
d) Tiêu chuẩn lịch sử
Ngoài những tiêu chuẩn phân chia đã nêu trên, người quan sát báo chí
Việt Nam có thể phân chia các tiến trình của báo chí theo tiêu chuẩn nào
khác hay không ? Câu trả lời nằm ngay nơi tiểu đề của phần này, đó là tiêu
chuẩn lịch sử. Nếu căn cứ vào tiêu chuẩn lịch sử mà phân chia các giai đoạn
trong tiến trình của báo chí, chúng ta sẽ tìm ra được một quan niệm khác
biệt với các nhà học giả tiền phong như Thê Húc, Trần Tấn Quốc, Nguyễn
Ngu Ý. Cái khía cạnh đúng hay sai xin để tùy người đọc quyết định, ở đây,
người viết chỉ đề nghị việc phân chia các giai đoạn báo chí theo lịch sử đất
nước để từ đó chúng ta theo dõi bước đi của làng báo xứ nhà.
Căn cứ vào tiêu chuẩn lịch sử, chúng ta phân chia báo chí như thế nào ?
Dĩ nhiên ngày khai sinh của báo chí vẫn phải là theo các quan niệm cũ
(1865). Sau thời kỳ phôi thai, báo chí Việt Nam đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi
một biến cố lịch sử vĩ đại có liên quan đến vận mệnh toàn thể dân tộc. Đó là
Hòa ước 1884 hay còn gọi là Hòa ước Patenôtre qui định việc đặt Việt Nam
dưới sự bảo hộ của người Pháp. Theo các tài liệu được sưu khảo, báo chí xứ
ta bước một bước lớn nhờ biến cố vĩ đại này. Hòa Ước 1884 đã đem lại sự
phẫn nộ cho Triều Đình Huế cũng như các nhà ái quốc Việt Nam. Và chính
sự phẫn nộ đó đã được biểu lộ một cách kín đáo trên báo chí, đến nỗi nhà
https://thuviensach.vn
cầm quyền Pháp phải dành những tờ báo của họ để đánh lạc hướng niềm
công phẫn nói trên. Theo lịch sử đất nước, ta có thể nói rằng chính biến cố
1884 đã ghi cái mốc đầu trong tiền trình « bán ý thức » của báo chí.
Cái mốc thứ hai trên tiến trình này là cuộc Thế chiến Thứ Nhất 1914.
Từ tình trạng « bán ý thức » báo chí tiến qua tình trạng « ý thức » với sứ
mạng của mình. Thật vậy, khi tiếng súng của cuộc Thế Chiến bùng nổ bên
kia đại dương, dân ta đã nhìn nhận thấy sự liên hệ giữa Việt Nam và thế
giới, trong khi báo chí nhìn thấy trách nhiệm đối với đất nước. Lịch sử Việt
Nam cũng bởi cuộc Thế Chiến mà đi vào một khúc quanh và ảnh hưởng của
nó xâm nhập vào báo chí. Như vậy, ta có thể nói rằng thời kỳ từ Hòa Ước
1884 tới ngày bùng nổ Thế Chiến thứ nhất chính là giai đoạn thứ hai của báo
chí Việt Nam.
Từ khúc quanh 1884, lịch sử Việt Nam trở nên cực kỳ sôi động. Ý thức
quốc gia và trách nhiệm không còn là một cái gì quá xa lạ đối với những
người làm báo. Và suốt từ đó cho tới ngày khai hỏa cuộc Thế Chiến thứ hai,
dư luận báo chí đã đi vào giai đoạn « ý thức cao độ » đối với lịch sử. Trong
giai đoạn này, người ta đã làm báo vì lý tưởng dùng báo chí làm phương tiện
đấu tranh. Dẫn chứng cho lập luận này là tờ La Cloche fêlée của Nguyễn An
Ninh cũng như bao nhiêu tờ báo khác xả thân đòi thực hiện những tư tưởng
dân chủ cấp tiến.
Nhưng ngày kết liễu Thế chiến thứ hai, báo chí lại đi vào một giai đoạn
mới cùng với bước chân của lịch sử đất nước. 1945 là cái mốc lớn đánh dấu
bước đi này, và báo chí từ đó xoay sang giai đoạn thương mại hóa. Mặc dầu
thế, nó vẫn không phải là hoàn toàn xao lãng trách nhiệm của mình, cho nên
báo chí vẫn được gắn liền với tiến trình lịch sử và vẫn đấu tranh quyết liệt
trong những cơn nguy biến. Nhưng với đà tiến hóa của kỹ thuật, làng báo đã
được coi như một ngành khai thác tân tiến nặng tính chất thương mại, có lẽ
một phần cũng vì đà sống cơ khí tiến bộ du nhập vào xứ sở ta từ Âu châu.
Tới đây, có thể tạm chia các thời kỳ báo chí Việt Nam theo tiêu chuẩn
lịch sử như dưới đây :
https://thuviensach.vn
1. Giai đoạn phôi thai 1865-1884.
2. Giai đoạn bán ý thức 1884-1914.
3. Giai đoạn ý thức 1914-1945.
4. Giai đoạn thương mại hóa mặc dầu vẫn có ý thức cao độ 1945-1965.
e) Tiêu chuẩn văn hóa và kỹ thuật
Có lẽ không ai có thể hoàn toàn hài lòng với sự phân chia tiến trình báo
chí theo các tiêu chuẩn trên đây. Người quan sát báo chí vẫn còn khao khát
một tiêu chuẩn nào khác để hình dung một tiến trình hợp lý hơn và xác thực
hơn. Thưa đó là cách phân chia các giai đoạn lịch sử báo chí theo tiêu chuẩn
văn hóa và kỹ thuật.
Sở dĩ chúng ta cần phối hợp cả hai yếu tố văn hóa và kỹ thuật thành
một tiêu chuẩn bởi vì những biến chuyển trong tiến trình của báo chí đòi hỏi
cả hai yếu tố này.
Theo tiêu chuẩn trên, cái mốc đầu tiên xin được đặt ở năm 1915. 40
năm sau khi báo chí Việt Nam xuất đầu lộ diện. Tại sao vậy ? Lý do là vì
trong 40 năm đó mặc dầu báo chí có biến chuyển theo các sự kiện lịch sử
hay chính trị, nhưng chẳng thay đổi là bao về mặt văn hóa và kỹ thuật. Suốt
trong 40 năm, nội dung tờ báo có khác nhau nhưng về phương diện văn hóa,
phải đợi mãi tới 1915 mới xuất hiện một biến cố đặc biệt. Đó là sự chuyển
hướng của báo chí từ chính trị vào đời sống văn hóa, với sự góp mặt đầu tiên
của những cây viết tên tuổi mới cùng với những chủ đề mới. Các chủ đề này
đưa người đọc vào vấn đề phát triển học thuật Đông, Tây, phổ biến tư tưởng
triết học, đồng thời đề cao văn hóa quốc gia. Đây là thời kỳ báo chí nhận
thức được rằng nhiệm vụ của mình không hẳn chỉ ở trong lãnh vực chính trị
mà còn ở cả trong lãnh vực văn hóa nữa.
Nhưng giai đoạn đó chưa phải là giai đoạn nhảy vọt. Cái mốc của bước
tiến nhảy vọt về văn hóa phải là năm 1930, khi cả làng báo nối gót nhau
chuyển mình theo chiều hướng mới. Đây là năm những tờ báo phụ nữ đầu
tiên xuất hiện trên văn đàn. Cùng với những tờ báo đó, báo chí Việt Nam ồ
ạt lột xác, xuất hiện với những bộ mặt khác lạ hơn và nội dung phong phú
https://thuviensach.vn
chứa đựng toàn những món ăn tinh thần mới như thơ văn trào phúng, tin tức
thể thao, kịch trường, tiểu thuyết dài, tranh hí họa. Như một cơn gió mát,
báo chí đã được dân chúng đón nhận niềm nở. Nhờ sự niềm nở đó, báo chí
bước xa hơn trong việc cải tiến xã hội, chỉ trích các bất công, hướng dẫn dư
luận trong cách sống, đóng góp vào việc phục hưng và kiện toàn văn hóa.
Chúng ta có thể coi giai đoạn này như một cách mạng báo chí, so với thời
gian trước.
Nhưng thời gian nhảy vọt không kéo dài lâu. Biến cố năm 1946 đã lại
lôi kéo báo chí về với sứ mạng lịch sử. Với cuộc cách mạng mùa thu 1945,
báo chí lại trở thành lơ là với văn hóa và đặt nặng vai trò chính trị. Cùng với
chiều hướng đó, báo chí còn dấn thân phục vụ độc giả theo chiều hướng
thương mại. Cho nên giai đoạn sau 1945 có thể chỉ coi là giai đoạn « tất cả
cho độc giả », báo chí trở thành những cơ sở giao dịch và phát triển kinh tế.
Để kết luận phần này, ta có thể phân chia các thời kỳ báo chí theo tiêu
chuẩn văn hóa như dưới đây :
1. Giai đoạn phôi thai 1865-1915.
2. Giai đoạn phát triển văn hóa 1915-1930.
3. Giai đoạn cách mạng báo chí 1930-1945.
4. Giai đoạn phát triển kinh tế 1945-1965.
f) Tiêu chuẩn độc giả
Trong số những người phân chia các giai đoạn lịch sử báo chí, có người
chỉ nhìn vào con số độc giả để dùng nó như một thước đo bước tiến của báo
chí. Cái nhìn này tuy có phần hạn hẹp, nhưng vô cùng chính xác, mặc dù
rằng nó không phản ảnh được nhiều khía cạnh liên quan đến báo chí.
Với cái nhìn đó, ông ta đưa tầm mắt vào con số độc giả cũng như hình
thức của tờ báo để dựng những cái mốc phân chia, nhưng không đặt tên các
giai đoạn trong tiến trình của báo chí. Cái mốc đầu tiên được đặt vào năm
1865, với Gia Định Báo, nghĩa là ngày báo chí phát sinh tại nước ta. Mốc
thứ hai được đặt ở năm 1924, với Trung Lập Báo, tờ báo đầu tiên của Việt
Nam làm theo quan niệm Tây phương với các bài nói về đời sống dân
https://thuviensach.vn
chúng, và các bản kẽm in hình sinh hoạt người dân lên trang nhất, tạo được
một số độc giả lớn.
Năm 1929, năm sanh của tờ Thần Chung, được dùng làm cái mốc thứ
ba vì tính chất sôi động về mặt chính trị của nó. Tuy Thần Chung không cải
tiến hơn Trung Lập Báo nhưng đã thu hút được con số độc giả kỷ lục. Cuối
cùng, cái mốc chót được đặt vào cuối năm 1929 khi Phụ Nữ Tân Văn ra mắt.
Mang tiếng là báo phụ nữ, Phụ Nữ Tân Văn lại bao gồm cả những mục dành
cho nhiều loại độc giả khác nhau, lại đẹp về hình thức nên thành công mỹ
mãn.
Xin đưa quan niệm phân chia lịch sử báo chí dưới cái nhìn vào con số
độc giả như dưới đây :
1. Giai đoạn 1 : 1865-1924 (không có tên)
2. Giai đoạn 2 : 1924-1929
3. Giai đoạn 3 : đầu 1929 (Thần Chung)
4. Giai đoạn 4 : cuối 1929 (Phụ Nữ Tân Văn)
g) Tiêu chuẩn thế hệ
Người chót đưa ra nỗ lực phân chia các giai đoạn lịch sử báo chí Việt
Nam được đề cập tới trong cuốn sách này là Linh Mục Thanh Lãng, một
người đã từng đóng góp rất nhiều cho các công trình khảo sát báo chí. Trong
nhiều tác phẩm, đặc biệt là trên tờ Văn Bút, dưới tựa đề « Báo chí Việt Nam
và 100 năm xây dựng văn hóa », LM Thanh Lãng đã phân tích lịch sử sinh
hoạt của báo chí qua 100 năm mà ông chia ra làm bảy thế hệ. Đây là một
quan điểm vô cùng độc đáo và xác thực, khác hẳn với lối phân chia của các
nhà khảo sát báo chí từng được mô tả trong các đoạn trên.
- Thế Hệ « Bình Tây Sát Tả » 1862-1900 : Thế hệ này, thời gian mở
đầu của báo chí Việt Nam, là thế hệ người Việt nổi lên chống Pháp và chống
sự truyền giảng Công Giáo. Bối cảnh lịch sử lúc đó khá sôi động, với nhiều
biến cố nhắm vào việc đấu tranh chống ngoại xâm. Nhưng có điều lạ là báo
chí trong thế hệ này lại đứng ngoài cuộc đấu tranh đó, không tham dự vào
thời cuộc. Với 5 tờ báo có mặt, 4 ở Sàigon và 1 ở Hànội (Đại Nam Đồng
https://thuviensach.vn
Văn Nhật Báo), những người làm báo chỉ đặt nặng công cuộc truyền bá văn
minh Pháp kèm theo việc phổ biến đôi chút cổ văn Việt Nam.
- Thế Hệ « Hóa Dân Cường Quốc » 1900-1913 : Báo chí Việt Nam
trong thế hệ này chưa thoát được sự kềm tỏa của thực dân Pháp, và tất cả chỉ
có 6 tờ báo ở cả hai miền. Khá hơn thế hệ trước, báo chí tuy vậy cũng tương
kế tựu kế, tạm đóng vai trò phục vụ việc giáo hóa quần chúng và mở đường
cho cuộc cách mạng bằng cách chuyển hướng vào văn hóa. Sự đóng góp của
báo chí cho đất nước trong thế hệ này cũng khá quan trọng, do những tờ báo
có uy tín thực hiện, như tờ Nông Cổ Mín Đàm, Lục Tỉnh Tân Văn, và Đăng
Cổ Tùng Báo là tờ báo hướng vào đối tượng chính là giới trí thức đang âm
thầm thực hiện cuộc cách mạng xã hội hoặc mở đường cho phong trào Đông
Du và Đông Kinh Nghĩa Thục sau này.
- Thế Hệ « Dung Hòa Đông Tây » 1913-1932 : năm 1913, Đông
Dương Tạp Chí ra đời, rồi tới Trung Bắc Tân Văn, mở một kỷ nguyên mới
cho báo chí xứ này. Sinh hoạt báo chí trỗi lên ồ ạt, với tổng số 97 tờ, và
người làm báo đã nhận thức được thiên chức của mình, đó là dung hòa văn
hóa Đông Phương và văn minh Tây Phương để phục vụ quốc gia, dân tộc.
Làng báo Việt Nam trong thế hệ này được sự góp mặt quý giá của những
nhân vật lớn như Phan Kế Bính, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Đỗ Mục v.v…
- Thế Hệ « Đoạn Tuyệt Đông Phương » 1932-1945 : Hô hào phong
trào Âu hóa 100 phần trăm, báo chí cổ võ cho việc thoát khỏi mọi ràng buộc
của truyền thống Đông Phương từng ăn sâu trong tinh thần người Việt. Biến
cố nổi bật nhất trong thế hệ này là sự khai sinh Tự Lực Văn Đoàn vào năm
1932 cùng với tờ Phong Hóa. Tổng số báo trong thế hệ này lên tới 432 tờ đủ
mọi loại, và tất cả đều chủ trương Âu hóa.
- Thế Hệ « Kháng Pháp dành Độc Lập » 1945-1954 : Làng báo Việt
Nam trải qua rất nhiều thử thách để trưởng thành, nhưng gặp hai tai họa lớn
trong thế hệ này là nạn độc tài và chiến tranh ác liệt. Chế độ kiểm duyệt
cũng ràng buộc và làm chậm bước tiến của sinh hoạt báo chí, tuy vậy báo
chí vẫn làm tròn được thiên chức của mình, với 196 tờ báo góp mặt. Con số
này đã sút giảm so với số báo trong thế hệ trước, nhưng bước chân của báo
https://thuviensach.vn
chí Việt Nam đã chứng tỏ sự tiến-triển vững chãi và già dặn. Sự già dặn đó
chính là nhờ ở sự tôi luyện của hoàn cảnh khó khăn kéo dài theo cuộc chiến,
giúp cho báo chí vượt qua được mọi khó khăn và rút tỉa được nhiều kinh
nghiệm mới.
- Thế Hệ « Cộng Hòa I » 1954-1963
: Làng báo Việt Nam dồn mọi nỗ
lực cho việc xây dựng chế độ Cộng Hòa Nhân Vị, bỏ quên các mục tiêu
khác. Tổng số báo trong thế hệ này lên tới 212 tờ.
- Thế Hệ « Cách Mạng » 1963-1972 : Thế hệ này là giai đoạn thác
loạn của báo chí nước ta, một cơn lốc khủng khiếp. Vào cuối năm 1963,
tổng số báo tất cả có 25 tờ, đến đầu năm 1964, số này tăng lên 91, để rồi tụt
xuống 47 tờ vào năm 1965, Sinh hoạt báo chí tuy có rầm rộ nhưng pha mầu
hỗn loạn và mục tiêu thì không minh định rõ rệt. Hàng loạt báo mới ra đời
và hàng loạt báo cũ đóng cửa. Báo chí thực sự đi vào giai đoạn thương mại
hóa và trở thành một kỹ nghệ có tầm vóc lớn như các đại kỹ nghệ sản xuất
khác. Nhưng trong tầm vóc đó, báo chí hầu hết làm môi trường cho một thứ
văn chương sa đọa tầm thường.
3. NHẬN XÉT
Không ai có thể dễ dàng khẳng định việc phân chia các giai đoạn lịch
sử báo chí theo tiêu chuẩn nào là hợp lý hơn tiêu chuẩn nào, vì mỗi tiêu
chuẩn phân chia chỉ phản ảnh một khía cạnh của tiến trình báo chí. Tuy
nhiên chúng ta có thể nhìn vào những tiêu chuẩn đó để đưa ra một vài nhận
xét tổng quát về quan niệm của người đã làm công việc phân chia tiến trình
báo chí.
Người đầu tiên, Thê Húc, cho chúng ta thấy ông có cái nhìn tường tận
về báo chí, nhưng cái nhìn đó chỉ giới hạn vào cái nhìn của người làm báo
mà thôi. Sự phân chia của ông hoàn toàn căn cứ vào những sinh hoạt nội bộ
làng báo, nghĩa là mọi ranh giới phân chia đều phản ảnh những biến cố liên
quan đến hoạt động của báo chí. Báo ra mắt, báo đóng cửa, báo do người
Pháp chủ trương, báo do người Việt chủ trương, báo phát triển, báo phân hóa
https://thuviensach.vn
v.v… Tất cả mọi biến đổi của báo chí được Thê Húc sưu tầm, đánh giá,
nghiên cứu để rồi lựa ra những biến đổi quan trọng làm cái mốc cho các thời
kỳ của tiến trình báo chí.
Vậy sự phân chia theo tiêu chuẩn hoạt động của báo chí, như Thê Húc
đã làm, mang những tính chất gì ? Câu trả lời có thể là sự phân chia đó chính
xác, đầy đủ, nhưng… phiến diện. Chính xác vì nó đã căn cứ vào những sự
kiện có thực. Đầy đủ vì nó đã căn cứ vào hết mọi biến đổi đáng kể trong tiến
trình báo chí 100 năm qua. Nhưng phiến diện vì nó chỉ phản ảnh những sinh
hoạt của riêng báo chí mà thôi, trong khi báo chí không phải là một sinh hoạt
riêng rẽ trong xã hội. Nó là một phần tử trong một cộng đồng, nó phân phối
ảnh hưởng của nó ra ngoài, đồng thời tiếp nhận ảnh hưởng của các sinh hoạt
khác vào trong. Như vậy việc phân chia các thời kỳ lịch sử báo chí theo tiêu
chuẩn của Thê Húc rất cần được bổ khuyết cho được thêm hoàn hảo.
Người bổ khuyết cho Thê Húc có thể là Trấn Tấn Quốc. Ông vốn là
một nhà báo, nghĩa là làm báo, viết báo và sống bằng nghề báo. Nhưng khi
phân chia các giai đoạn lịch sử báo chí, ông không đóng vai người làm báo
mà lại đóng vai chính khách, nhìn vào các biến cố chính trị để cắt đoạn con
đường mà báo chí đã đi qua. Thật vậy, T.T. Quốc, khi đi tìm ranh giới cho
các giai đoạn, không để ý tới việc báo ra mắt, báo đóng cửa, báo phát triển
như Thê Húc. Ông chỉ để ý tới việc báo chí có ý thức được nhiệm vụ chính
trị của mình không mà thôi. Cũng chính vì quan niệm đó mà T.T. Quốc chỉ
chia tiến trình báo chí ra làm hai : giai đoạn vô ý thức và giai đoạn ý thức.
Đối với T.T. Quốc, tiến trình báo chí, cả 100 năm dài, chỉ mang duy
nhất một cái mốc giữa đường là năm 1926, năm mà nhà cách mạng Phan
Châu Trinh về nước và chết. Đây là biến cố chính trị, hoàn toàn bắt nguồn từ
lịch sử chính trị và chỉ ảnh hưởng tới báo chí chứ không phải là một biến cố
của báo chí.
Như vậy, cái nhìn của T.T. Quốc đối với báo chí, đối với một người làm
chính trị có thể là đầy đủ, nhưng đối với người làm báo thì quả là thiếu sót.
Cái nhìn đó không cho chúng ta một hình ảnh đầy đủ về các giai đoạn lịch
https://thuviensach.vn
sử báo chí, và cũng không cho thấy gì ngoài một cái mốc duy nhất, hơi bé
nhỏ, trên con đường quá dài và đầy rẫy biến cố.
Trên con đường dài và đầy rẫy biến cố đó, Nguyễn Ngu Ý đã đứng ra...
Tên sách : LƯỢC SỬ BÁO CHÍ VIỆT NAM
Tác giả : NGUYỄN VIỆT CHƯỚC
Nhà xuất bản : NAM-SƠN
Năm xuất bản : IN LẦN THỨ NHỨT 1974
-----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
Đánh máy : ElvisRey, Nhi Nguyễn, Daibig,
Nhok_kira, tu051290, nonliving, meyeusoi,
phaithatmanhme19, Đình Giao, tranhoaibaotn,
ptt1106, blacktulip161
Kiểm tra chính tả : Trần Trung Hiếu,
Vũ Minh Anh, Thư Võ
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 25/09/2018
https://thuviensach.vn
Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA 1000
QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn TVE4U.ORG
Cảm ơn tác giả NGUYỄN VIỆT CHƯỚC và nhà xuất bản NAM-SƠN
đã chia sẻ với bạn đọc những kiến thức quý giá.
https://thuviensach.vn
MỤC LỤC
CHƯƠNG I : PHÂN CHIA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ BÁO CHÍ VIỆT
NAM
1. TỔNG QUÁT
2. PHẢI CHỌN NHỮNG TIÊU CHUẨN NÀO ĐỂ PHÂN CHIA CÁC
GIAI ĐOẠN
a) Tiêu chuẩn hoạt động của báo chí
b) Tiêu chuẩn ý thức chính trị
c) Tiêu chuẩn các biến cố thời sự (chính trị, xã hội, văn hóa và
phát triển báo chí)
d) Tiêu chuẩn lịch sử
e) Tiêu chuẩn văn hóa và kỹ thuật
f) Tiêu chuẩn độc giả
g) Tiêu chuẩn thế hệ
3. NHẬN XÉT
4. KẾT LUẬN
CHƯƠNG 2 : NHỮNG GÌ ĐÃ XẢY RA TRONG TIẾN TRÌNH 100
NĂM CỦA BÁO CHÍ VIỆT NAM
1. TỔNG QUÁT
a) Cảnh lệ thuộc của báo chí
b) Những tờ báo mới xuất hiện
- Gia Định Báo (1865-1897)
- Đông Dương Tạp Chí (1913-1916)
- Nam Phong Tạp Chí (1917-1934)
- Các tờ báo khác (xuất bản trong thời gian từ 1865 tới 1917)
2. THỜI KỲ BÁO CHÍ ĐI VÀO Ý THỨC QUỐC GIA (1918-1929)
https://thuviensach.vn
- Báo Đông Tây (1929 tới 1932)
- Phụ nữ Tân Văn (1929-1934)
3. MỘT MÙA TRĂM HOA ĐUA NỞ (1930-1945)
- Phong Hóa và Ngày Nay (1932-1940)
4. BÁO CHÍ KHÁNG CHIẾN (1945-1954) VÀ THỜI KỲ THƯƠNG
MẠI HÓA CỦA BÁO CHÍ (1945-1965)
5. BÁO CHÍ THỜI KỲ HẬU GENÈVE (1954-1963)
6. BÁO CHÍ THỜI KỲ HẬU CÁCH MẠNG
CHƯƠNG 3 : ẢNH HƯỞNG LUẬT PHÁP ĐỐI VỚI CÁC SINH
HOẠT BÁO CHÍ VIỆT NAM
1. TỔNG QUÁT
2. LUẬT PHÁP ĐỐI VỚI BÁO CHÍ THỜI KỲ PHÁP THUỘC ĐẾN
1-7-1949
3. LUẬT PHÁP ĐỐI VỚI BÁO CHÍ TỪ 1-7-1949 ĐẾN NGÀY CÁO
CHUNG ĐỆ I CỘNG HÒA 1-11-1963
4. LUẬT PHÁP HIỆN ĐẠI ĐỐI VỚI BÁO CHÍ TỪ 1-11-1963 ĐẾN
NAY
5. NHỮNG NÉT CHÍNH CỦA SẮC LUẬT 007
a) Tóm lược sắc luật
b) Đặc điểm của Sắc luật
c) Ảnh hưởng của Sắc luật 007/TT/SLU
CHƯƠNG 4 : NHỮNG KHUÔN MẶT LỚN CỦA LÀNG BÁO
TỔNG QUÁT
TRƯƠNG VĨNH KÝ
HUỲNH TỊNH CỦA
NGUYỄN VĂN VĨNH
https://thuviensach.vn
PHAN KẾ BÍNH
PHẠM QUỲNH
NGUYỄN BÁ HỌC
PHAN KHÔI
NGUYỄN TRỌNG THUẬT
NGUYỄN VĂN TỐ
NGUYỄN AN NINH
BÙI QUANG CHIÊU
HOÀNG TÍCH CHU
SƯƠNG NGUYỆT ANH
ĐÀO TRINH NHẤT
NHẤT LINH (1906-1963)
KHÁI HƯNG (1896-1947)
NGUYỄN TUÂN
THẾ LỮ
HỒ BIỂU CHÁNH (1885-1958)
PHI VÂN
TẢN ĐÀ (1888-1939)
NAM CAO (1914-1951)
BÌNH NGUYÊN LỘC
MỘNG SƠN
THU VÂN
CHƯƠNG 5 : BÁO CHÍ HÔM NAY
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
https://thuviensach.vn
PHỤ BẢN SƠ ĐỒ : CÁC GIAI ĐOẠN TRONG TIẾN TRÌNH BÁO
CHÍ V.N.
https://thuviensach.vn
NGUYỄN VIỆT CHƯỚC (Hồng Hà)
LƯỢC SỬ BÁO CHÍ VIỆT NAM
Soạn theo chương trình của Bộ Giáo Dục
để áp dụng vào việc giảng dạy
môn Quốc Văn Lớp 12
và dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên
các Phân Khoa Truyền Thông Báo Chí
IN LẦN THỨ NHỨT
1974
NHÀ XUẤT BẢN NAM-SƠN
36, Nguyễn an Ninh Saigon – Đ.T : 21.026
(cửa Tây chợ Bến Thành)
https://thuviensach.vn
VIỆT NAM CỘNG HÒA
BỘ VĂN HÓA GIÁO DỤC
và THANH NIÊN
Nghị-Định số 1445/VHGDTN/KHPC/HV
ngày 29 tháng 6 năm 1974 ấn định chương
trình Quốc-Văn giảng dạy lớp Mười hai kể
từ niên khóa 1974-1975.
TỔNG-TRƯỞNG VĂN-HÓA GIÁO-DỤC VÀ THANH-NIÊN
Chiếu Hiến Pháp Việt-Nam Cộng-Hòa ngày 01-04-1967.
Chiếu Sắc-Lệnh số 394-TT/SL ngày 01-09-1968 và các văn kiện kế tiếp
ấn định thành phần Chánh-Phủ.
Chiếu Sắc-Lệnh số 33-GD ngày 19-09-1949 ấn định chức chưởng của
Bộ Trưởng Quốc-Gia Giáo-Dục.
Chiếu Nghị-Định số 193-NĐ/GD ngày 14-10-1953 ban hành chương
trình Trung-Học trên toàn quốc và các nghị-định bổ túc và sửa đổi kế tiếp.
Chiếu Nghị-Định số 1152A-GD/KHPC/HV/NĐ ngày 26-06-1970 hợp
thức hóa chương trình đã được cập nhật hóa.
Chiếu Nghị-Định số 1867-GD/KHPC/HV/NĐ ngày 04-10-1971 ban
hành chương trình cập nhật hóa áp dụng từ niên-khóa 1971-1972.
Chiếu đề nghị của Nha Trung Học.
NGHỊ-ĐỊNH
ĐIỀU I. – Nay bổ túc Nghị Định số 1867-GD/KHPC/NĐ ngày 04-101971 ban hành chương trình cập nhật hóa áp dụng từ niên khóa 1971-1972
bằng các điều khoản sau đây.
ĐIỀU II. – Môn Quốc Văn được giảng dạy tại lớp Mười Hai kể từ niên
khóa 1974-1975 với số giờ hàng tuần được ấn định trong bảng phân phối
giờ đính hậu.
https://thuviensach.vn
ĐIỀU III. – Các môn Sử-Địa, Triết, Sinh-Ngữ II, Cổ-Ngữ và Toán
được tu chính ứng với số giờ hàng tuần được ấn định lại trong bản phân
phối giờ.
ĐIỀU IV. – Tổng số giờ hàng tuần các môn ở lớp Mười Hai ghi trong
Nghị-định số 1867-GD/KHPC/HV/NĐ ngày 04-10-1971 vẫn không thay đổi.
ĐIỀU V. – Tất cả các điều khoảng trái với nghị định bổ túc này đều
bải bỏ.
ĐIỀU VI. – Thứ-trưởng, các Phụ-Tá, Đổng-Lý văn phòng, Tổng Thơ
Ký, các Giám-Đốc chiếu nhiệm vụ thi hành nghị·định này.
SAIGON, ngày 29 tháng 06 năm 1974
TỔNG-TRƯỞNG VĂN-HÓA GIÁO-DỤC VÀ TN
NGÔ-KHẮC-TỈNH
https://thuviensach.vn
ĐẦY ĐỦ CHI TIẾT : CHƯƠNG TRÌNH QUỐC
VĂN Ở LỚP 12
SAIGON 1-7. – Theo nghị định số 1445 do Tổng Trưởng Giáo Dục ký
vừa phổ biến đến báo chí, kể từ niên khóa 74-75, môn Quốc Văn sẽ được
giảng dạy tại lớp 12, mỗi tuần ban C-D sẽ có 3 giờ và các ban A-B sẽ có 2
giờ Quốc Văn.
Học thêm môn Quốc văn, các môn Sử Địa, Triết, Sinh ngữ II, Cổ ngữ
và Toán được tu chính lại để các ban C-D học 28 giờ một tuần và A-D học
30 giờ một tuần.
Chương trình quốc văn lớp 12 C-D gồm có hai phần : lý thuyết và thực
hành.
I. PHẦN LÝ THUYẾT SẼ HỌC
A. Các tư tưởng lớn trong văn chương Việt Nam : 1. Tư tưởng thuần
túy dân tộc trong văn chương bình dân. 2. Tư tưởng bắt nguồn từ Đông
phương (ảnh hưởng Nho giáo, ảnh hưởng Phật giáo, ảnh hưởng Lão giáo). 3.
Tư tưởng bắt nguồn từ Tây phương (ảnh hưởng của tư tưởng lãng mạn, ảnh
hưởng của tư tưởng tự do dân chủ, ảnh hưởng của Thiên chúa giáo).
B. Lược sử vài bộ môn văn học : 1. Lược sử thi ca VN. 2. Lược sử báo
chí VN. 3. Lược sử tiểu thuyết VN.
II. PHẦN THỰC HÀNH
A. Luận văn : 1. Phương pháp nghị luận văn học liên quan đến các vấn
đề nêu trong lý thuyết. 2. Hướng dẫn học sinh nghiên cứu một vấn đề văn
học và viết bài tiểu luận về vấn đề này.
B. Trần thuyết : 1. Chọn một số tác phẩm để trần thuyết. 2. Chương
trình này cũng áp dụng cho cả 2 ban A và B, nhưng học khái quát hơn.
https://thuviensach.vn
CHƯƠNG I : PHÂN CHIA CÁC THỜI KỲ LỊCH
SỬ BÁO CHÍ VIỆT NAM
1. TỔNG QUÁT
Báo chí Việt Nam trong tiến trình 100 năm kể từ 1865 tới 1965, đã trải
qua nhiều giai đoạn khác nhau với nhiều sắc thái tương phản. Lý do của sự
tương phản này là do các biến cố bên ngoài cũng có mà do sự chuyển mình
của báo chí cũng có. Chính vì thế, cuộc hành trình của báo chí Việt Nam kể
từ lúc phôi thai tới những năm gần đây đã được nhiều người phân chia thành
nhiều chặng đường để mô tả những thay đổi quan trọng đánh dấu những
bước tiến của nó.
Báo chí, cũng như mọi ngành hoạt động văn hóa xã hội khác, luôn luôn
thu nhận tầm ảnh hưởng của các biến cố ngoại cảnh để tự tìm đường tiến
hóa cho thích hợp. Nói như vậy có nghĩa là báo chí không phải là một sinh
hoạt đứng riêng rẽ trong xã hội. Trái hẳn lại báo chí bị ảnh hưởng bởi lịch sử
chính trị, các biến chuyển xã hội, các cuộc chiến, cũng như mọi biến cố thời
sự có tầm vóc lớn không bị thu hẹp vào một địa phương. Nhờ đó mà báo chí
tiến qua các giai đoạn mà cải tiến mà lớn mạnh.
Nhưng khi nhìn vào tiến trình 100 năm của báo chí Việt Nam, mỗi
người nghiên cứu bước đi của nó theo một cái nhìn khác nhau. Từ cái nhìn
khác nhau đó, các học giả tiền phong trong vấn đề này mới đưa ra những
quan niệm khác nhau trong việc phân chia các thời kỳ lịch sử báo chí Việt
Nam. Người thì phân chia lịch sử đó theo tiêu chuẩn lịch sử đất nước. Người
thì phân chia căn cứ vào các hoạt động của chính báo chí. Người thì phân
chia các giai đoạn theo các tiêu chuẩn văn hóa. Và cuối cùng, có người đã
tổng hợp tất cả những tiêu chuẩn này để hệ thống hóa tiến trình của báo chí.
Dĩ nhiên chúng ta không thể khẳng định ưu và khuyết điểm của mỗi quan
niệm vì quan niệm nào cũng có phần chính xác và vững chắc. Ở đây chúng
ta chỉ phân tách các sự kiện trong tiến trình của báo chí và thử tìm xem có
https://thuviensach.vn
một đường lối nào khác, hữu hiệu hơn, để phân chia các thời kỳ mà báo chí
Việt Nam đã trải qua hay không.
2. PHẢI CHỌN NHỮNG TIÊU CHUẨN NÀO ĐỂ PHÂN CHIA CÁC
GIAI ĐOẠN
a) Tiêu chuẩn hoạt động của báo chí
Người đã căn cứ vào tiêu chuẩn các hoạt động của báo chí để phân chia
các giai đoạn trong tiến trình báo chí là nhà văn Thê Húc. Dưới con mắt ông,
báo chí Việt Nam, kể từ ngày khai sinh vào 1865 đã chuyển mình qua bốn
giai đoạn để đi tới hiện trạng của nó ngày nay. Theo ông, mỗi giai đoạn này
được đánh dấu bằng những hoạt động của chính nó, và hoạt động đó đã
được bộc lộ qua nội dung cũng như hình thức. Sự phân chia của Thê Húc
được trình bày như sau :
1. Giai đoạn dự bị 1865-1913
2. Giai đoạn thành lập 1913-1930
3. Giai đoạn phát triển 1930-1940
4. Giai đoạn phân hóa 1940-1946
Đây là quan niệm đầu tiên về lịch sử tiến hóa của báo chí vì Thê Húc là
người đầu tiên phân chia con đường tiến hóa báo chí Việt Nam ra từng giai
đoạn rõ rệt. Theo ông, những giai đoạn nầy đều được giới hạn với những
thời điểm và hoạt động rõ rệt, bắt đầu từ sự khai sinh của Gia Định Báo, tới
sự ra đời của Đông Dương Tạp Chí, đến Đông Tây, Tia Sáng v.v… Mỗi giai
đoạn nằm trong hai cái mốc có thể là sự xuất hiện của một tờ báo mà cũng
có thể là sự tạ từ của một tờ báo khác đóng cửa. Theo sự phân chia như vậy,
giai đoạn 1 (dự bị) của làng báo Việt Nam cho người ta thấy những hoạt
động phôi thai, rời rạc của một hai tờ báo đầu tiên ra mắt trên xứ sở chúng
ta. Giai đoạn 2 (thành lập) cũng không sôi động lắm, vì báo chí lúc đó như
một kẻ chập chững vào đời, các hoạt động còn rời rạc, và nhất là thời kỳ đó,
báo chí nước ta còn ở trong tay người Pháp. Phải đợi cho tới giai đoạn 3
(phát triển), cái không khí làm báo mới tưng bừng. Báo ngày, tạp chí nối gót
https://thuviensach.vn
nhau ra phụng sự dư luận. Nhưng rồi trong giai đoạn 4 (phân hóa), các
khuynh hướng khác nhau của người làm báo đã đưa báo chí vào một thời kỳ
lắng đọng, chấm dứt những ngày « trăm hoa đua nở » mới qua.
b) Tiêu chuẩn ý thức chính trị
Người thứ hai có công theo dõi tiến trình của báo chí Việt Nam là nhà
báo lão thành Trần Tấn Quốc. Trong bài nói chuyện về chủ đề « Lịch trình
tiến triển của báo chí nước nhà qua các giai đoạn 1862-1956 », ông đã phân
tách các chặng đường mà báo chí đã đi qua. Nhưng trong bài nói chuyện
trên, ông chỉ đề cập tới báo chí miền Nam và chỉ nhắc sơ tới báo chí miền
Bắc như là để dẫn chứng mà thôi. Trái với Thê Húc, Trần Tấn Quốc không
phân chia các giai đoạn theo báo chí mà lấy ý thức chính trị ra làm căn bản
để phân biệt. Dưới con mắt của ông, báo chí Việt Nam trong suốt tiến trình
100 năm chỉ được phân chia thành hai giai đoạn như dưới đây :
1. Giai đoạn vô ý thức của báo chí thuở ban đầu 1862-1925.
2. Giai đoạn ý thức quốc gia, xã hội từ lúc Phan Bội Châu bị bắt, Phan
Châu Trinh chết, từ 1926 trở đi.
Sự phân chia của Trần Tấn Quốc có cái lý do của nó. Trên con đường
dài 100 năm, ông cắm một mốc ở gần khoảng 2/3 chặng đường đó, nghĩa là
vào năm 1926 để chia ra làm hai. Đó là năm xảy ra hai biến cố chính trị đặc
biệt làm rung động dư luận : Biến cố thứ nhất là vụ cụ Phan Bội Châu bị bắt
ở Thượng Hải giải về Hà Nội và bị đem ra xử như một tên phiến loạn vào
cuối năm 1925 để rồi tạo nên một không khí công phẫn trong quần chúng
vào năm 1926. Biến cố thứ hai là cái chết và đám táng cụ Phan Châu Trinh
tại Saigon khoảng tháng 4, 1926. Báo chí lúc đó đã ý thức được tinh thần
quốc gia và phản ảnh đúng lòng dân. Không khí làng báo qua hai biến cố
lịch sử này thật vô cùng sôi nổi.
Quan niệm của Trần Tấn Quốc cho thấy rằng báo chí Việt Nam kể từ
lúc phôi thai cho tới 1925 hoàn toàn ở vào tình trạng « vô ý thức ». Nó hoạt
động như một con người, hay sinh vật nào đó sống mà không có trí giác,
không biết mình làm gì, cũng chẳng có liên hệ đến đất nước mình đang
https://thuviensach.vn
sống. Nhưng những biến cố năm 1926 đã làm làng báo chợt tỉnh vùng ra
khỏi cơn mê để lãnh lấy trách nhiệm đối với quốc gia. Từ « vô ý thức » đến
« ý thức », báo chí Việt Nam dưới con mắt Trần Tấn Quốc đột nhiên vùng
dậy để nhận biết chính mình và gánh lấy nhiệm vụ, chỉ nhờ hai biến cố
chính trị xảy ra trên lộ trình báo chí.
c) Tiêu chuẩn các biến cố thời sự (chính trị, xã hội, văn hóa và phát
triển báo chí)
Quan niệm thứ ba về sự phân chia các giai đoạn báo chí là quan niệm
tổng hợp của nhà văn Nguyễn Ngu Ý. Con mắt của Nguyễn Ngu Ý nhìn vào
tiến trình của làng báo Việt Nam với nhiều khía cạnh hơn con mắt của hai
học giả đi trước là Thê Húc và Trần Tấn Quốc. Với quan niệm tổng hợp đó,
Nguyễn Ngu Ý đưa ra một cách phân chia khác, với 4 giai đoạn trong đó
những cái mốc phần ranh giới có thể là biến cố chính trị, văn hóa mà cũng
có thể là các biến cố xã hội hay của chính làng báo xứ sở. Tiến trình của báo
chí Việt Nam dưới con mắt của Nguyễn Ngu Ý có 4 chặng dưới đây :
1. Giai đoạn lệ thuộc (báo chí do người Pháp chủ trương) 1865-1917.
2. Giai đoạn độc lập (báo chí do người Việt chủ trương) và đấu tranh
chánh trị 1918-1929.
3. Giai đoạn phát triển 1930-1945.
4. Giai đoạn thương mại hóa (Báo chí được khai thác như những cơ sở
doanh thương và kinh tế) 1946-1965.
Khi phân chia như trên, chính Nguyễn Ngu Ý cũng cho là để dễ trình
bày tiến trình của báo chí chứ không có gì khẳng định. Nhưng nhìn vào sự
phân chia đó ai cũng thấy cái mốc đầu tiên mà ông cắm vào cuối giai đoạn
một là sự giải thoát báo chí ra khỏi tay người Pháp. Sự thay đổi đó chính là
một biến cố của báo chí có pha lẫn màu sắc chính trị. Cái mốc thứ hai, đặt ở
năm 1918 là cái mốc văn hóa và xã hội, được cắm vào cuối giai đoạn hai để
đánh dấu ngày Thế chiến thứ hai chấm dứt. Ta thấy nó mang tính chất chính
trị, khi báo chí Việt Nam đóng vai trò đấu tranh chính trị giữa từng lớp sĩ
https://thuviensach.vn
phu nước ta với nhà cầm quyền thuộc địa. Cái mốc thứ ba thì hoàn toàn
mang tính chất văn hóa, còn cái mốc chót lại giống như cái mốc thứ nhất,
nghĩa là chỉ ghi dấu một biến cố của riêng báo chí mà thôi.
Như vậy, tiến trình 100 năm của báo chí Việt Nam do Nguyễn Ngu Ý
vạch ra cho mọi người thấy rõ ràng từ khi xuất hiện, báo chí nước ta đã
chuyển mình theo hai điều kiện : điều kiện thứ nhất là chính vì hoạt động
của nó (giai đoạn 1 và 4). Và điều kiện thứ hai là vì ảnh hưởng của các biến
cố ngoại cảnh (giai đoạn 2 và 3). Nhưng cũng theo ông, những ranh giới
phân chia không phải hoàn toàn cứng nhắc vì trong bất cứ giai đoạn nào,
người quan sát cũng vẫn tìm thấy những hoạt động dị biệt với ý nghĩa chung
của giai đoạn đó.
d) Tiêu chuẩn lịch sử
Ngoài những tiêu chuẩn phân chia đã nêu trên, người quan sát báo chí
Việt Nam có thể phân chia các tiến trình của báo chí theo tiêu chuẩn nào
khác hay không ? Câu trả lời nằm ngay nơi tiểu đề của phần này, đó là tiêu
chuẩn lịch sử. Nếu căn cứ vào tiêu chuẩn lịch sử mà phân chia các giai đoạn
trong tiến trình của báo chí, chúng ta sẽ tìm ra được một quan niệm khác
biệt với các nhà học giả tiền phong như Thê Húc, Trần Tấn Quốc, Nguyễn
Ngu Ý. Cái khía cạnh đúng hay sai xin để tùy người đọc quyết định, ở đây,
người viết chỉ đề nghị việc phân chia các giai đoạn báo chí theo lịch sử đất
nước để từ đó chúng ta theo dõi bước đi của làng báo xứ nhà.
Căn cứ vào tiêu chuẩn lịch sử, chúng ta phân chia báo chí như thế nào ?
Dĩ nhiên ngày khai sinh của báo chí vẫn phải là theo các quan niệm cũ
(1865). Sau thời kỳ phôi thai, báo chí Việt Nam đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi
một biến cố lịch sử vĩ đại có liên quan đến vận mệnh toàn thể dân tộc. Đó là
Hòa ước 1884 hay còn gọi là Hòa ước Patenôtre qui định việc đặt Việt Nam
dưới sự bảo hộ của người Pháp. Theo các tài liệu được sưu khảo, báo chí xứ
ta bước một bước lớn nhờ biến cố vĩ đại này. Hòa Ước 1884 đã đem lại sự
phẫn nộ cho Triều Đình Huế cũng như các nhà ái quốc Việt Nam. Và chính
sự phẫn nộ đó đã được biểu lộ một cách kín đáo trên báo chí, đến nỗi nhà
https://thuviensach.vn
cầm quyền Pháp phải dành những tờ báo của họ để đánh lạc hướng niềm
công phẫn nói trên. Theo lịch sử đất nước, ta có thể nói rằng chính biến cố
1884 đã ghi cái mốc đầu trong tiền trình « bán ý thức » của báo chí.
Cái mốc thứ hai trên tiến trình này là cuộc Thế chiến Thứ Nhất 1914.
Từ tình trạng « bán ý thức » báo chí tiến qua tình trạng « ý thức » với sứ
mạng của mình. Thật vậy, khi tiếng súng của cuộc Thế Chiến bùng nổ bên
kia đại dương, dân ta đã nhìn nhận thấy sự liên hệ giữa Việt Nam và thế
giới, trong khi báo chí nhìn thấy trách nhiệm đối với đất nước. Lịch sử Việt
Nam cũng bởi cuộc Thế Chiến mà đi vào một khúc quanh và ảnh hưởng của
nó xâm nhập vào báo chí. Như vậy, ta có thể nói rằng thời kỳ từ Hòa Ước
1884 tới ngày bùng nổ Thế Chiến thứ nhất chính là giai đoạn thứ hai của báo
chí Việt Nam.
Từ khúc quanh 1884, lịch sử Việt Nam trở nên cực kỳ sôi động. Ý thức
quốc gia và trách nhiệm không còn là một cái gì quá xa lạ đối với những
người làm báo. Và suốt từ đó cho tới ngày khai hỏa cuộc Thế Chiến thứ hai,
dư luận báo chí đã đi vào giai đoạn « ý thức cao độ » đối với lịch sử. Trong
giai đoạn này, người ta đã làm báo vì lý tưởng dùng báo chí làm phương tiện
đấu tranh. Dẫn chứng cho lập luận này là tờ La Cloche fêlée của Nguyễn An
Ninh cũng như bao nhiêu tờ báo khác xả thân đòi thực hiện những tư tưởng
dân chủ cấp tiến.
Nhưng ngày kết liễu Thế chiến thứ hai, báo chí lại đi vào một giai đoạn
mới cùng với bước chân của lịch sử đất nước. 1945 là cái mốc lớn đánh dấu
bước đi này, và báo chí từ đó xoay sang giai đoạn thương mại hóa. Mặc dầu
thế, nó vẫn không phải là hoàn toàn xao lãng trách nhiệm của mình, cho nên
báo chí vẫn được gắn liền với tiến trình lịch sử và vẫn đấu tranh quyết liệt
trong những cơn nguy biến. Nhưng với đà tiến hóa của kỹ thuật, làng báo đã
được coi như một ngành khai thác tân tiến nặng tính chất thương mại, có lẽ
một phần cũng vì đà sống cơ khí tiến bộ du nhập vào xứ sở ta từ Âu châu.
Tới đây, có thể tạm chia các thời kỳ báo chí Việt Nam theo tiêu chuẩn
lịch sử như dưới đây :
https://thuviensach.vn
1. Giai đoạn phôi thai 1865-1884.
2. Giai đoạn bán ý thức 1884-1914.
3. Giai đoạn ý thức 1914-1945.
4. Giai đoạn thương mại hóa mặc dầu vẫn có ý thức cao độ 1945-1965.
e) Tiêu chuẩn văn hóa và kỹ thuật
Có lẽ không ai có thể hoàn toàn hài lòng với sự phân chia tiến trình báo
chí theo các tiêu chuẩn trên đây. Người quan sát báo chí vẫn còn khao khát
một tiêu chuẩn nào khác để hình dung một tiến trình hợp lý hơn và xác thực
hơn. Thưa đó là cách phân chia các giai đoạn lịch sử báo chí theo tiêu chuẩn
văn hóa và kỹ thuật.
Sở dĩ chúng ta cần phối hợp cả hai yếu tố văn hóa và kỹ thuật thành
một tiêu chuẩn bởi vì những biến chuyển trong tiến trình của báo chí đòi hỏi
cả hai yếu tố này.
Theo tiêu chuẩn trên, cái mốc đầu tiên xin được đặt ở năm 1915. 40
năm sau khi báo chí Việt Nam xuất đầu lộ diện. Tại sao vậy ? Lý do là vì
trong 40 năm đó mặc dầu báo chí có biến chuyển theo các sự kiện lịch sử
hay chính trị, nhưng chẳng thay đổi là bao về mặt văn hóa và kỹ thuật. Suốt
trong 40 năm, nội dung tờ báo có khác nhau nhưng về phương diện văn hóa,
phải đợi mãi tới 1915 mới xuất hiện một biến cố đặc biệt. Đó là sự chuyển
hướng của báo chí từ chính trị vào đời sống văn hóa, với sự góp mặt đầu tiên
của những cây viết tên tuổi mới cùng với những chủ đề mới. Các chủ đề này
đưa người đọc vào vấn đề phát triển học thuật Đông, Tây, phổ biến tư tưởng
triết học, đồng thời đề cao văn hóa quốc gia. Đây là thời kỳ báo chí nhận
thức được rằng nhiệm vụ của mình không hẳn chỉ ở trong lãnh vực chính trị
mà còn ở cả trong lãnh vực văn hóa nữa.
Nhưng giai đoạn đó chưa phải là giai đoạn nhảy vọt. Cái mốc của bước
tiến nhảy vọt về văn hóa phải là năm 1930, khi cả làng báo nối gót nhau
chuyển mình theo chiều hướng mới. Đây là năm những tờ báo phụ nữ đầu
tiên xuất hiện trên văn đàn. Cùng với những tờ báo đó, báo chí Việt Nam ồ
ạt lột xác, xuất hiện với những bộ mặt khác lạ hơn và nội dung phong phú
https://thuviensach.vn
chứa đựng toàn những món ăn tinh thần mới như thơ văn trào phúng, tin tức
thể thao, kịch trường, tiểu thuyết dài, tranh hí họa. Như một cơn gió mát,
báo chí đã được dân chúng đón nhận niềm nở. Nhờ sự niềm nở đó, báo chí
bước xa hơn trong việc cải tiến xã hội, chỉ trích các bất công, hướng dẫn dư
luận trong cách sống, đóng góp vào việc phục hưng và kiện toàn văn hóa.
Chúng ta có thể coi giai đoạn này như một cách mạng báo chí, so với thời
gian trước.
Nhưng thời gian nhảy vọt không kéo dài lâu. Biến cố năm 1946 đã lại
lôi kéo báo chí về với sứ mạng lịch sử. Với cuộc cách mạng mùa thu 1945,
báo chí lại trở thành lơ là với văn hóa và đặt nặng vai trò chính trị. Cùng với
chiều hướng đó, báo chí còn dấn thân phục vụ độc giả theo chiều hướng
thương mại. Cho nên giai đoạn sau 1945 có thể chỉ coi là giai đoạn « tất cả
cho độc giả », báo chí trở thành những cơ sở giao dịch và phát triển kinh tế.
Để kết luận phần này, ta có thể phân chia các thời kỳ báo chí theo tiêu
chuẩn văn hóa như dưới đây :
1. Giai đoạn phôi thai 1865-1915.
2. Giai đoạn phát triển văn hóa 1915-1930.
3. Giai đoạn cách mạng báo chí 1930-1945.
4. Giai đoạn phát triển kinh tế 1945-1965.
f) Tiêu chuẩn độc giả
Trong số những người phân chia các giai đoạn lịch sử báo chí, có người
chỉ nhìn vào con số độc giả để dùng nó như một thước đo bước tiến của báo
chí. Cái nhìn này tuy có phần hạn hẹp, nhưng vô cùng chính xác, mặc dù
rằng nó không phản ảnh được nhiều khía cạnh liên quan đến báo chí.
Với cái nhìn đó, ông ta đưa tầm mắt vào con số độc giả cũng như hình
thức của tờ báo để dựng những cái mốc phân chia, nhưng không đặt tên các
giai đoạn trong tiến trình của báo chí. Cái mốc đầu tiên được đặt vào năm
1865, với Gia Định Báo, nghĩa là ngày báo chí phát sinh tại nước ta. Mốc
thứ hai được đặt ở năm 1924, với Trung Lập Báo, tờ báo đầu tiên của Việt
Nam làm theo quan niệm Tây phương với các bài nói về đời sống dân
https://thuviensach.vn
chúng, và các bản kẽm in hình sinh hoạt người dân lên trang nhất, tạo được
một số độc giả lớn.
Năm 1929, năm sanh của tờ Thần Chung, được dùng làm cái mốc thứ
ba vì tính chất sôi động về mặt chính trị của nó. Tuy Thần Chung không cải
tiến hơn Trung Lập Báo nhưng đã thu hút được con số độc giả kỷ lục. Cuối
cùng, cái mốc chót được đặt vào cuối năm 1929 khi Phụ Nữ Tân Văn ra mắt.
Mang tiếng là báo phụ nữ, Phụ Nữ Tân Văn lại bao gồm cả những mục dành
cho nhiều loại độc giả khác nhau, lại đẹp về hình thức nên thành công mỹ
mãn.
Xin đưa quan niệm phân chia lịch sử báo chí dưới cái nhìn vào con số
độc giả như dưới đây :
1. Giai đoạn 1 : 1865-1924 (không có tên)
2. Giai đoạn 2 : 1924-1929
3. Giai đoạn 3 : đầu 1929 (Thần Chung)
4. Giai đoạn 4 : cuối 1929 (Phụ Nữ Tân Văn)
g) Tiêu chuẩn thế hệ
Người chót đưa ra nỗ lực phân chia các giai đoạn lịch sử báo chí Việt
Nam được đề cập tới trong cuốn sách này là Linh Mục Thanh Lãng, một
người đã từng đóng góp rất nhiều cho các công trình khảo sát báo chí. Trong
nhiều tác phẩm, đặc biệt là trên tờ Văn Bút, dưới tựa đề « Báo chí Việt Nam
và 100 năm xây dựng văn hóa », LM Thanh Lãng đã phân tích lịch sử sinh
hoạt của báo chí qua 100 năm mà ông chia ra làm bảy thế hệ. Đây là một
quan điểm vô cùng độc đáo và xác thực, khác hẳn với lối phân chia của các
nhà khảo sát báo chí từng được mô tả trong các đoạn trên.
- Thế Hệ « Bình Tây Sát Tả » 1862-1900 : Thế hệ này, thời gian mở
đầu của báo chí Việt Nam, là thế hệ người Việt nổi lên chống Pháp và chống
sự truyền giảng Công Giáo. Bối cảnh lịch sử lúc đó khá sôi động, với nhiều
biến cố nhắm vào việc đấu tranh chống ngoại xâm. Nhưng có điều lạ là báo
chí trong thế hệ này lại đứng ngoài cuộc đấu tranh đó, không tham dự vào
thời cuộc. Với 5 tờ báo có mặt, 4 ở Sàigon và 1 ở Hànội (Đại Nam Đồng
https://thuviensach.vn
Văn Nhật Báo), những người làm báo chỉ đặt nặng công cuộc truyền bá văn
minh Pháp kèm theo việc phổ biến đôi chút cổ văn Việt Nam.
- Thế Hệ « Hóa Dân Cường Quốc » 1900-1913 : Báo chí Việt Nam
trong thế hệ này chưa thoát được sự kềm tỏa của thực dân Pháp, và tất cả chỉ
có 6 tờ báo ở cả hai miền. Khá hơn thế hệ trước, báo chí tuy vậy cũng tương
kế tựu kế, tạm đóng vai trò phục vụ việc giáo hóa quần chúng và mở đường
cho cuộc cách mạng bằng cách chuyển hướng vào văn hóa. Sự đóng góp của
báo chí cho đất nước trong thế hệ này cũng khá quan trọng, do những tờ báo
có uy tín thực hiện, như tờ Nông Cổ Mín Đàm, Lục Tỉnh Tân Văn, và Đăng
Cổ Tùng Báo là tờ báo hướng vào đối tượng chính là giới trí thức đang âm
thầm thực hiện cuộc cách mạng xã hội hoặc mở đường cho phong trào Đông
Du và Đông Kinh Nghĩa Thục sau này.
- Thế Hệ « Dung Hòa Đông Tây » 1913-1932 : năm 1913, Đông
Dương Tạp Chí ra đời, rồi tới Trung Bắc Tân Văn, mở một kỷ nguyên mới
cho báo chí xứ này. Sinh hoạt báo chí trỗi lên ồ ạt, với tổng số 97 tờ, và
người làm báo đã nhận thức được thiên chức của mình, đó là dung hòa văn
hóa Đông Phương và văn minh Tây Phương để phục vụ quốc gia, dân tộc.
Làng báo Việt Nam trong thế hệ này được sự góp mặt quý giá của những
nhân vật lớn như Phan Kế Bính, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Đỗ Mục v.v…
- Thế Hệ « Đoạn Tuyệt Đông Phương » 1932-1945 : Hô hào phong
trào Âu hóa 100 phần trăm, báo chí cổ võ cho việc thoát khỏi mọi ràng buộc
của truyền thống Đông Phương từng ăn sâu trong tinh thần người Việt. Biến
cố nổi bật nhất trong thế hệ này là sự khai sinh Tự Lực Văn Đoàn vào năm
1932 cùng với tờ Phong Hóa. Tổng số báo trong thế hệ này lên tới 432 tờ đủ
mọi loại, và tất cả đều chủ trương Âu hóa.
- Thế Hệ « Kháng Pháp dành Độc Lập » 1945-1954 : Làng báo Việt
Nam trải qua rất nhiều thử thách để trưởng thành, nhưng gặp hai tai họa lớn
trong thế hệ này là nạn độc tài và chiến tranh ác liệt. Chế độ kiểm duyệt
cũng ràng buộc và làm chậm bước tiến của sinh hoạt báo chí, tuy vậy báo
chí vẫn làm tròn được thiên chức của mình, với 196 tờ báo góp mặt. Con số
này đã sút giảm so với số báo trong thế hệ trước, nhưng bước chân của báo
https://thuviensach.vn
chí Việt Nam đã chứng tỏ sự tiến-triển vững chãi và già dặn. Sự già dặn đó
chính là nhờ ở sự tôi luyện của hoàn cảnh khó khăn kéo dài theo cuộc chiến,
giúp cho báo chí vượt qua được mọi khó khăn và rút tỉa được nhiều kinh
nghiệm mới.
- Thế Hệ « Cộng Hòa I » 1954-1963
: Làng báo Việt Nam dồn mọi nỗ
lực cho việc xây dựng chế độ Cộng Hòa Nhân Vị, bỏ quên các mục tiêu
khác. Tổng số báo trong thế hệ này lên tới 212 tờ.
- Thế Hệ « Cách Mạng » 1963-1972 : Thế hệ này là giai đoạn thác
loạn của báo chí nước ta, một cơn lốc khủng khiếp. Vào cuối năm 1963,
tổng số báo tất cả có 25 tờ, đến đầu năm 1964, số này tăng lên 91, để rồi tụt
xuống 47 tờ vào năm 1965, Sinh hoạt báo chí tuy có rầm rộ nhưng pha mầu
hỗn loạn và mục tiêu thì không minh định rõ rệt. Hàng loạt báo mới ra đời
và hàng loạt báo cũ đóng cửa. Báo chí thực sự đi vào giai đoạn thương mại
hóa và trở thành một kỹ nghệ có tầm vóc lớn như các đại kỹ nghệ sản xuất
khác. Nhưng trong tầm vóc đó, báo chí hầu hết làm môi trường cho một thứ
văn chương sa đọa tầm thường.
3. NHẬN XÉT
Không ai có thể dễ dàng khẳng định việc phân chia các giai đoạn lịch
sử báo chí theo tiêu chuẩn nào là hợp lý hơn tiêu chuẩn nào, vì mỗi tiêu
chuẩn phân chia chỉ phản ảnh một khía cạnh của tiến trình báo chí. Tuy
nhiên chúng ta có thể nhìn vào những tiêu chuẩn đó để đưa ra một vài nhận
xét tổng quát về quan niệm của người đã làm công việc phân chia tiến trình
báo chí.
Người đầu tiên, Thê Húc, cho chúng ta thấy ông có cái nhìn tường tận
về báo chí, nhưng cái nhìn đó chỉ giới hạn vào cái nhìn của người làm báo
mà thôi. Sự phân chia của ông hoàn toàn căn cứ vào những sinh hoạt nội bộ
làng báo, nghĩa là mọi ranh giới phân chia đều phản ảnh những biến cố liên
quan đến hoạt động của báo chí. Báo ra mắt, báo đóng cửa, báo do người
Pháp chủ trương, báo do người Việt chủ trương, báo phát triển, báo phân hóa
https://thuviensach.vn
v.v… Tất cả mọi biến đổi của báo chí được Thê Húc sưu tầm, đánh giá,
nghiên cứu để rồi lựa ra những biến đổi quan trọng làm cái mốc cho các thời
kỳ của tiến trình báo chí.
Vậy sự phân chia theo tiêu chuẩn hoạt động của báo chí, như Thê Húc
đã làm, mang những tính chất gì ? Câu trả lời có thể là sự phân chia đó chính
xác, đầy đủ, nhưng… phiến diện. Chính xác vì nó đã căn cứ vào những sự
kiện có thực. Đầy đủ vì nó đã căn cứ vào hết mọi biến đổi đáng kể trong tiến
trình báo chí 100 năm qua. Nhưng phiến diện vì nó chỉ phản ảnh những sinh
hoạt của riêng báo chí mà thôi, trong khi báo chí không phải là một sinh hoạt
riêng rẽ trong xã hội. Nó là một phần tử trong một cộng đồng, nó phân phối
ảnh hưởng của nó ra ngoài, đồng thời tiếp nhận ảnh hưởng của các sinh hoạt
khác vào trong. Như vậy việc phân chia các thời kỳ lịch sử báo chí theo tiêu
chuẩn của Thê Húc rất cần được bổ khuyết cho được thêm hoàn hảo.
Người bổ khuyết cho Thê Húc có thể là Trấn Tấn Quốc. Ông vốn là
một nhà báo, nghĩa là làm báo, viết báo và sống bằng nghề báo. Nhưng khi
phân chia các giai đoạn lịch sử báo chí, ông không đóng vai người làm báo
mà lại đóng vai chính khách, nhìn vào các biến cố chính trị để cắt đoạn con
đường mà báo chí đã đi qua. Thật vậy, T.T. Quốc, khi đi tìm ranh giới cho
các giai đoạn, không để ý tới việc báo ra mắt, báo đóng cửa, báo phát triển
như Thê Húc. Ông chỉ để ý tới việc báo chí có ý thức được nhiệm vụ chính
trị của mình không mà thôi. Cũng chính vì quan niệm đó mà T.T. Quốc chỉ
chia tiến trình báo chí ra làm hai : giai đoạn vô ý thức và giai đoạn ý thức.
Đối với T.T. Quốc, tiến trình báo chí, cả 100 năm dài, chỉ mang duy
nhất một cái mốc giữa đường là năm 1926, năm mà nhà cách mạng Phan
Châu Trinh về nước và chết. Đây là biến cố chính trị, hoàn toàn bắt nguồn từ
lịch sử chính trị và chỉ ảnh hưởng tới báo chí chứ không phải là một biến cố
của báo chí.
Như vậy, cái nhìn của T.T. Quốc đối với báo chí, đối với một người làm
chính trị có thể là đầy đủ, nhưng đối với người làm báo thì quả là thiếu sót.
Cái nhìn đó không cho chúng ta một hình ảnh đầy đủ về các giai đoạn lịch
https://thuviensach.vn
sử báo chí, và cũng không cho thấy gì ngoài một cái mốc duy nhất, hơi bé
nhỏ, trên con đường quá dài và đầy rẫy biến cố.
Trên con đường dài và đầy rẫy biến cố đó, Nguyễn Ngu Ý đã đứng ra...
 





