Sách Nói] Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn - Chương 1
Mô tả vương quốc đàng ngoài

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:49' 07-04-2024
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 7
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:49' 07-04-2024
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Thông tin
Mô tả vương quốc Đàng Ngoài
Tác giả: Samuel Baron
Dịch giả: Hoàng Anh Tuấn
Số trang: 184
Kích thước: 14x20.5 cm
Phát hành: Omega Plus
Năm xuất bản: 03/2019
Mô tả vương quốc Đàng Ngoài của Samuel Baron hoàn tất năm 1685 ở Fort Saint-Georges, Madras (Ấn Độ), là một trong những cuốn sách có giá trị của người phương Tây viết về Việt
Nam, bên cạnh những tác phẩm quan trọng của Alexandre de Rhodes, Cristoforo Borri - thế hệ những thương nhân, chính khách và giáo sĩ phương Tây đầu tiên đến Đại Việt vào thế kỷ
XVII-XVIII và để lại nhiều ghi chép quan trọng về văn hóa - lịch sử xứ này.
Trong cuốn sách Mô tả vương quốc Đàng Ngoài, rất nhiều chuyện không được ghi chép trong sử chính thống của nhà Nho được Baron mô tả chân thực, không kiêng dè. Một điều đặc
biệt là, Samuel Baron không viết về Đàng Ngoài dưới dạng du ký như nhiều nhà du hành hoặc thương buôn phương Tây khác. Đàng Ngoài dưới con mắt của Samuel Baron không phải
là một vùng đất ông lướt qua trong một chuyến đi mà những miêu tả tỉ mỉ về xứ sở này với sự phân chia các chương mục rất rõ ràng, đưa ra cả những số liệu cụ thể giống như một công
trình khảo sát của một nhà dân tộc chí cho thấy ông rất am hiểu vùng đất này.
Baron viết cuốn sách nhằm giới thiệu vương quốc Đàng Ngoài với các độc giả người Anh, đồng thời để bác bỏ, phê phán những nhận thức sai lầm của Jean Baptiste Tavernier về xứ
Đàng Ngoài.
Là con lai, Samuel Baron có mẹ là người bản xứ, cha người Hà Lan - là đại diện cho công ty Đông Ấn Hà Lan tại Kẻ Chợ. Bản thân Samuel Baron sau này cũng là thương nhân nhiều
năm sinh sống tại Kẻ Chợ nên những ghi chép của ông có cơ sở để tin cậy. Baron lại có quan hệ thân thiết với phủ Chúa nên có điều kiện tiếp xúc, trải nghiệm, tìm hiểu cuộc sống của
giới quý tộc cũng như những tập tục sinh hoạt đời thường của người dân vùng kinh kỳ.
Qua tác phẩm của Baron, độc giả ngày nay có cơ hội tìm hiểu về thể chế, luật pháp, tiền tệ, sức mạnh quân sự, phong tục, trò tiêu khiển, lễ tịch điền, tôn giáo, tang lễ, sản vật… của
nước ta vào thế kỷ XVII. Mặc dù, đôi chỗ vẫn có sự nhầm lẫn về các sự kiện, nhưng giá trị sử liệu cuốn sách mang lại là rất lớn.
Ý nghĩa bìa sách : Người Giao Chỉ (Đàng Ngoài).
E-book này được thực hiện trên tinh thần thiện nguyện, phi lợi nhuận và phục vụ cộng đồng người đọc chưa có điều kiện mua sách giấy.
TVE-4U
https://thuviensach.vn
CÙNG ĐỌC - CÙNG CHIA SẺ!
https://thuviensach.vn
Lời ngỏ
Samuel Baron sinh tại Đàng Ngoài (Đại Việt), con trai của thương nhân
Hà Lan Hendrick Baron và một phụ nữ bản xứ.
Cùng với Alexandre de Rhodes (giáo sĩ người Pháp), Cristoforo Borri
(giáo sĩ người Ý), Joseph Tissanier (giáo sĩ người Pháp), Jean Philippe
Marini (giáo sĩ người Ý), Juliano Baldinotti (giáo sĩ người Ý), Pierre Poivre
(thương nhân người Pháp), William Dampier (thương nhân người Anh),
John Barrow (nhà du hành, chính khách người Anh)... Samuel Baron thuộc
thế hệ những thương nhân, chính khách và giáo sĩ phương Tây đầu tiên đến
Đại Việt (Đàng Trong và Đàng Ngoài) vào thế kỷ XVII-XVIII và để lại
nhiều ghi chép quan trọng về văn hóa - lịch sử xứ này.
Baron làm cho Công ty Đông Ấn Anh trước năm 1672, được cử sang
Đàng Ngoài năm 1678, năm 1685 ông hoàn tất tác phẩm với nhan đề: A
Description of the Kingdom of Tonqueen (Mô tả vương quốc Đàng Ngoài).
Một trong những lý do Baron viết bản tường trình này là để bác bỏ, phê
phán những nhận thức sai lầm của Jean Baptiste Taverniere về xứ Đàng
Ngoài. Qua tác phẩm của Baron, độc giả ngày nay có cơ hội tìm hiểu về thể
chế, luật pháp, tiền tệ, sức mạnh quân sự, phong tục, trò tiêu khiển, lễ tịch
điền, tôn giáo, tang lễ, sản vật,... của nước ta vào thế kỷ XVII.
Đại Việt thế kỷ XVII tồn tại hai chính quyền song song, một cơ chế lưỡng
đầu về quyền lực chính trị: Vua Lê - Chúa Trịnh. Mặt khác, kể từ sau khi
Đoan quận công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa (1558), Đại Việt
xuất hiện thêm một thế lực chính trị mới ở Đàng Trong, mở đầu cho công
cuộc Nam tiến của dân tộc, cùng với đó là sự đứt gãy về văn hóa.
Bên cạnh việc xuất bản tác phẩm của Baron, Công ty cổ phần Sách
Omega Việt Nam (Omega+) cũng trân trọng giới thiệu đến độc giả bản Việt
ngữ tập ký sự Xứ Đàng Trong do giáo sĩ Cristoforo Borri viết trước đó hơn
năm mươi năm, mô tả khá chi tiết về xứ Đàng Trong (thời Chúa Sãi Nguyễn
Phúc Nguyên): từ quốc hiệu, cương vực, diện tích, khí hậu, đất đai, sản vật...
https://thuviensach.vn
đến phong hóa, tập quán, hành chính, quân sự, thương mại, đời sống tinh
thần...
Cùng với việc xuất bản Một chuyến du hành đến xứ Nam hà (John
Barrow, đã xuất bản), Mô tả vương quốc Đàng Ngoài (Samuel Baron), Xứ
Đàng Trong (Cristoforo Borri), trong thời gian tới đây Omega+ sẽ lần lượt
giới thiệu đến độc giả những sử liệu quan trọng khác của Tissanier,
Dampier... và những công trình của các tác giả phương Tây thuộc thế hệ thứ
hai, thứ ba.
Công ty cổ phần sách Omega Việt Nam
https://thuviensach.vn
Chương I
Phê phán nhận thức của Taverniere về xứ Đàng Ngoài
*
Vương quốc Đàng Ngoài đã được người Bồ Đào Nha khám phá hơn 120
năm về trước. Những mô tả của hai giáo sĩ Padre Martin và Alexander de
Rhodes về vùng đất này nhìn chung chính xác hơn những gì Taverniere đã
làm. Những sự mâu thuẫn đó có thể xuất phát từ sự biến đổi của các sự vật
qua những thời kỳ khác nhau.
Thoạt tiên, Taverniere cho rằng người Đàng Ngoài chẳng có ai là sư sãi
hay giáo sĩ, trong khi lại nói rằng, họ đi đến Bantam và Batavia2. Ông còn
nói rằng, khi người Đàng Ngoài vượt biển ra ngoài họ thường mang theo vợ
con và gia đình. Tôi nghĩ có vẻ như Taverniere đang nói về những chuyến đi
trên sông từ làng này sang làng khác của người Đàng Ngoài, bởi việc đi ra
nước ngoài chẳng mấy thông dụng với họ, ngoại trừ mấy kẻ bần hàn đi theo
hầu hạ người ngoại quốc hay những kẻ cùng đường phải thoát đi để mưu
sinh. Taverniere kể về sự ngạc nhiên và thán phục của người Đàng Ngoài
khi được ông cho xem tập địa đồ và một số bản đồ mô tả về thế giới cũng
như một vài vương quốc ở chốn xa xôi, khiến người Đàng Ngoài chăm chú
cứ như họ đang được xem một thế giới khác ở trên mặt trăng. Tôi chẳng
nghe bất kỳ ai nói về một ông Taverniere từng đến Đàng Ngoài 11 hay 12
lần, ngoại trừ thông tin về một người tên là Taverniere đến vương quốc này
một lần duy nhất trong vai trò nhân viên của Công ty Đông Ấn Hà Lan.
Taverniere ca ngợi anh trai mình là người can trường và sắc sảo. Tôi
không chắc điều này đúng đến đâu, nhưng cho dù có bị ông ta phản đối đi
chăng nữa thì tôi vẫn khẳng định một điều rằng, ông ta thiếu thiện chí và
không trung thực. Trong ghi chép của mình, Taverniere phóng đại về số tiền
lớn mà anh trai mình thường xuyên mang theo trong các chuyến đi. Thế
nhưng ai mà chẳng biết một nhân viên tài vụ của Công ty Đông Ấn Hà Lan
thì có thể làm được gì, có thể được phép mang theo những gì một khi hoạt
động buôn bán cá nhân đã bị nghiêm cấm3.
https://thuviensach.vn
Taverniere nói về những món quà lớn ông dùng để biếu tặng Vua và
Hoàng tử cũng như những buổi chầu và những cuộc đàm đạo với họ. Nếu
như đây là sự thực thì tôi cho rằng, người Đàng Ngoài đã mất hết thể diện
mất rồi. Không thể phủ nhận rằng, trước đây người ngoại quốc đến vương
quốc này được đối đãi nồng nhiệt hơn thời điểm hiện tại. Nhưng điều đó
không đồng nghĩa với việc hoàng gia đi lại thân mật với đám ngoại nhân. Ở
thời điểm hiện tại họ còn giữ khoảng cách với người nước ngoài hơn trước,
thậm chí chẳng thèm đếm xỉa đến họ. Ở Đàng Ngoài không có phong tục
hôn tay đức Vua, nhất là đối với người ngoại quốc.
Và một khi Taverniere cho rằng, ông đã dùng tiếng Mã Lai thành thạo của
mình để nói chuyện với Vua và Hoàng tử, có lẽ ông ta cũng có thể nói tiếng
Pháp với họ - hai thứ tiếng mà Vua và Hoàng tử chẳng biết lấy một chữ bẻ
đôi. Khi Taverniere đánh bạc với Vua và Hoàng tử, không biết ông ta đã
chơi trò gì mà thua tới vài ngàn đồng bạc crown4 như ông ta đã biện bạch.
Điều ngạc nhiên nhất là việc một chú bê con cùng với hai vò rượu cất những thứ mà đức Vua thường hào phóng ban tặng - lại có thể bù đắp cho
những khoản thua bạc lớn của ông ta. Taverniere còn cho chúng ta biết thêm
rằng, sự thân quen của người anh trai tại triều đình Đàng Ngoài cũng như
những cuộc đàm đạo thường xuyên với người bản xứ (những người chẳng
bao giờ rời Đàng Ngoài, thế nhưng ông ta lại gặp được ở Bantam và
Batavia) là cơ sở để ông ta hoàn thành cuốn sách của mình một cách trung
thực và chính xác. Ông ta còn nói thêm rằng, chẳng có động cơ gì khác
ngoài ước vọng mô tả sự thật đã thúc giục ông viết tập du ký của mình - một
cuốn sách đầy rẫy những điều sai lạc và mâu thuẫn khiến cho ông ta càng
mất danh dự mà thôi.
Như nhiều người Âu châu khác, Taverniere đều gọi Chúa (Chova) là Vua
bởi cái cách Chúa cai trị vương quốc theo lối riêng của mình, kể cả việc tiếp
đón các sứ thần ngoại bang trừ sứ thần Trung Hoa. Tuy nhiên, đây là một sai
lầm tai hại bởi người Đàng Ngoài có Vua (Bova) cho dù đức Vua không có
thực quyền (điều này sẽ được nhắc đến ở nhiều chỗ trong cuốn du ký).
Taverniere không chỉ khoe khoang những tranh khắc mà ông khẳng định
đã được vẽ tại chỗ đem lại nhiều hứng thú cho người đọc mà còn ngợi ca sự
https://thuviensach.vn
chính xác của tấm bản đồ về Đàng Ngoài. Nhưng nếu so sánh với những bản
đồ hàng hải khác thì tấm bản đồ của ông ta chẳng còn gì có thể sai hơn được
nữa. Những câu chuyện hoang đường và bịa đặt được sáng tác vào lúc cao
hứng chỉ có thể hấp dẫn những kẻ ngu đần, bởi những độc giả thông thái
chắc chắn sẽ phê phán ông ta rằng đã hứa hão quá nhiều trong khi lại thể
hiện quá ít lòng trung thực từ chính những trải nghiệm của cuộc đời ông.
https://thuviensach.vn
Bản đồ khu vực đông bắc vương quốc Đàng Ngoài
Nguồn ảnh: A Description of the Kingdom of Tonqueen, Samuel Baron, 1685
https://thuviensach.vn
Chương II
Về vị trí và quy mô diện tích xứ Đàng Ngoài
Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi những người tiền nhiệm của chúng ta
đã không có hiểu biết gì về vương quốc này sớm hơn, như họ am tường về
xứ Trung Hoa, bởi sự khám phá xứ Đàng Ngoài diễn ra muộn hơn nhiều so
với việc thám hiểm nước Trung Hoa. Người Bồ Đào Nha không những đã
phát hiện ra xứ Đàng Ngoài sớm hơn mà còn phái cả tàu đến đó để kinh
doanh.
Hiển nhiên là xứ Đàng Ngoài trước đây từng là một tỉnh của Trung Quốc
và người Đàng Ngoài đến nay vẫn còn triều cống Hoàng đế Trung Hoa.
Nhưng đó không phải là lý do khiến chúng ta chậm có những hiểu biết về xứ
Đàng Ngoài, nhất là khi mà vương quốc này đã hoàn toàn do các bậc quân
vương người bản xứ cai trị liên tục từ hơn bốn trăm năm nay - sớm hơn
nhiều thời điểm người Bồ Đào Nha khám phá Ấn Độ. Có vẻ như lý do thực
sự là ở chỗ người Đàng Ngoài trước đây (và hiện tại cũng thế) chưa từng đi
ra nước ngoài buôn bán. Họ phần nào bị ảnh hưởng từ người Tàu về tính
cách kiêu hãnh, coi các dân tộc khác là man di. Họ học người Tàu cách tổ
chức triều chính, học nghiệp, chữ viết... nhưng bản thân họ lại thù ghét
người Tàu.
Tôi không hiểu tại sao Taverniere cho rằng nhiều người tin xứ Đàng
Ngoài ở vào khu vực khí hậu rất nóng, khi vương quốc này nằm ở dưới
đường chí tuyến và có một vùng quá lên phía bắc. Mặc dù vậy ông quả
quyết thời tiết ở đây khá ôn hòa nhờ có nhiều sông lớn tưới tiêu cùng với
lượng mưa theo các mùa (đồng thời không có những đụn cát và đồi trọc vốn
là tác nhân gây nóng ở các vùng Commaroan và vịnh Ba Tư). Sự thật là xứ
này thường có mưa vào các tháng Năm, Sáu, Bảy và Tám (đôi khi sớm hơn)
giúp làm ẩm đất nhưng không vì thế mà làm gió dễ chịu hơn. Trái lại, khí
hậu trong hai tháng Bảy và Tám nóng không chịu nổi. Sự thật là xứ Đàng
Ngoài có nhiều loại hoa quả; dân cư không quá đông đúc và sống chủ yếu
https://thuviensach.vn
nhờ lúa gạo. Họ tận dụng từng mảnh đất để trồng lúa và hiếm khi bỏ hoang
đất đai.
Xứ Đàng Ngoài tiếp giáp Quảng Châu (Canton) về phía đông bắc, tiếp
giáp vương quốc Lào và xứ Bowes5 về phía tây, tiếp giáp hai tỉnh Vân Nam
và Quảng Tây (còn gọi là Ai) của Trung Quốc về phía bắc, tiếp giáp vương
quốc Đàng Trong về phía nam và đông nam. Khí hậu ôn hòa từ tháng Chín
đến tháng Ba, đôi khi lạnh vào các tháng Một và Hai dù không bao giờ có
tuyết và băng giá. Các tháng Bốn, Năm và Sáu thường không lành bởi mưa,
mù trời và mặt trời chói lọi. Các tháng Sáu, Bảy, Tám là thời điểm cực nóng
trong năm. Gió ở đây thổi theo hai hướng bắc nam và nam bắc, mỗi hướng
đều sáu tháng. Từ tháng Năm đến tháng Tám là mùa đẹp nhất ở Đàng Ngoài
khi cây cối sum suê, ruộng đồng tươi tốt, phong cảnh trông thật đẹp mắt.
Những trận gió lớn ở đây được đám thủy thủ gọi là bão, người vùng này
gọi là Tanffoons6, hoành hành dữ dội ở đây và những vùng biển lân cận
không theo chu kỳ ổn định nào:
có khi 5 hoặc 6 năm một lần, có khi 8 hoặc 9 năm. Cho dù loại gió bão này không được gọi
cùng tên Tanffoons ở các vùng biển khác ở phương Đông, nhưng với sức tàn phá dữ dội như
thế có thể nói loại bão ở vùng vịnh Bengal và duyên hải Coromandel vốn được biết đến dưới
tên gọi Tượng phong (Elephant Wind) chẳng kém bão ở vùng Đàng Ngoài là mấy. Hậu quả của
loại bão này đối với đám thủy thủ thường rất thảm khốc. Tôi không thể tìm được một nhà thiên
văn học nào ở Đàng Ngoài để hỏi về xuất xứ của các trận bão trên, vậy nên tôi không thể khẳng
định rằng chúng được hình thành do những luồng khí thoát ra từ các vùng khai mỏ ở Nhật Bản.
Về diện tích của Đàng Ngoài, Taverniere đã sai lầm to khi cho rằng Đàng
Ngoài có diện tích tương đương nước Pháp. Những người trải nghiệm ở
Đàng Ngoài khẳng định vương quốc này chỉ nhỉnh hơn nước Bồ Đào Nha
một chút, dù dân số có thể nhiều gấp bốn lần. Taverniere cũng không mô tả
cụ thể về giới hạn đường biên cũng như diện tích của Đàng Ngoài.
Có một số đảo thuộc về vương quốc nằm trong vịnh Đàng Ngoài (vịnh
Bắc Bộ), hòn đảo lớn nhất được người địa phương gọi là Twon Bene7 còn
người Hà Lan gọi là đảo Rovers (đảo Kẻ Cướp). Hòn đảo này nằm ở vĩ độ
19 độ 15 phút bắc, dài 1,5 lý8, rộng tối đa nửa lý, phần lớn địa hình cao, cách
https://thuviensach.vn
bờ khoảng 1 lý, khe nước giữa đảo và đất liền tàu thuyền có thể qua lại
(người Hà Lan trước đây vẫn đi qua) nhưng người điều khiển tàu phải cẩn
trọng đi cách đảo khoảng một tầm súng để đảm bảo luồng sâu khoảng 6,7
hoặc 7,5 sải nước9. Ở phía tây của hòn đảo có hai vịnh nhỏ. Vịnh ở phía bắc
có bãi ngọc trai nhỏ nhưng chẳng ai dám đến mò ngọc nếu không được Vua
cấp phép. Cả hai vịnh đều có nước ngọt chất lượng rất tốt, tốt nhất mà chúng
tôi từng thử ở đây. Mũi phía tây nam của hòn đảo là một rặng đá ngầm nhô
ra biển khoảng 100 mét lộ rõ khi thủy triều xuống quá nửa. Ngoài mỏm đá
đó ra, các lối đi còn lại khá an toàn.
Phía tây bắc là một vụng biển đẹp, sâu chừng 3,5 đến 4 sải, đáy biển là
đất sét mềm. Nơi đây tập trung nhiều thuyền đánh cá thuộc về ngôi làng
ngay gần đó - tôi ước tính làng đó có khoảng 300 đến 400 người, phần lớn là
ngư dân.
Trên đảo có một đồn canh, thu lợi lớn cho vương quốc bởi tất cả tàu
thuyền buôn bán - dù đi đến tỉnh Tingway10 hoặc Guian11 hay đi từ đây về
phía bắc - đều phải dừng ở đây để nộp phí: tàu to vào khoảng 1,5 đô-la kèm
theo quà biếu, các loại thuyền khác thì tùy theo định mức. Nguồn thu hằng
năm của trạm kiểm soát này chắc chắn không dưới 1 triệu đô-la.
Đất đai trên đảo khô cằn và nhiều sỏi đá, không tốt để canh tác. Không có
nhiều gia súc; người dân ở đây nói rằng có khá nhiều sơn dương sống ẩn nấp
trên những vách đá và lùm cây trên đảo. Vì thế thóc gạo và thực phẩm đều
phải mang từ các vùng khác đến. Nếu có quy chế tốt thì cuộc sống nơi đây
sẽ đủ đầy, trong khi chỉ cần một số vốn đầu tư nhỏ cũng có thể biến nơi đây
thành một cảng tốt.
https://thuviensach.vn
Sông Hồng và kinh đô Kẻ Chợ
(thương điếm Anh và Hà Lan ở ngoài cùng bên phải)
Nguồn ảnh: A Description of the Kingdom of Tonqueen, Samuel Baron, 1685
https://thuviensach.vn
Về thành phố và thị trấn, ngoại trừ Kẻ Chợ12, Đàng Ngoài có không quá 2
hoặc 3 thành thị trong toàn vương quốc. Làng xóm thì nhiều, ngoài khả năng
tính toán của tôi, cũng chưa có ai đưa ra nhận định về số lượng làng cả. Kẻ
Chợ là thủ đô của xứ Đàng Ngoài, nằm ở vĩ độ 21° bắc, cách biển chừng 40
lý. Quy mô của Kẻ Chợ sánh ngang nhiều thành thị khác ở châu Á trong khi
dân số của Kẻ Chợ lớn hơn nhiều, nhất là vào phiên chợ ngày 1 và 15 âm
lịch hằng tháng khi người dân cùng với hàng hóa từ các làng ven đô đổ về
đây nhiều không đếm xuể. Những con phố ngày thường vốn rộng rãi và
quang đãng giờ đây trở nên chật chội đến nỗi chỉ nhích được 100 bước trong
vòng 30 phút đã là tốt lắm rồi. Các loại hàng hóa khác nhau được quy định
bán ở các con phố riêng; mỗi con phố gồm cư dân của một hoặc hai ba làng.
Những người dân ở các con phố tổ chức hàng bán theo kiểu phường hội ở
các thành thị châu Âu. Triều đình, cung điện của Vua, tướng lĩnh, hoàng
thân quốc thích và các vị đại thần đều đóng ở đây và chiếm một diện tích
khá lớn trong thành phố. Tôi chỉ có thể nói rằng kiến trúc ở đây rất giản tiện,
một số làm bằng gỗ, còn lại được dựng bằng tre nứa và trát đất trông rất
tuềnh toàng, lèo tèo một vài ngôi nhà gạch vốn là thương điếm của người
ngoại quốc. Kỳ vĩ nhất là bức tường ba lớp bao bọc khu thành cổ và các
cung điện. Những phế tích còn lại minh chứng cho sự kiên cố cùng với
những chiếc cổng lớn và chắc chắn được ốp đá cẩm thạch. Chu vi cung điện
lên đến 6 hoặc 7 dặm13, những lâu đài, cửa cổng, sân vườn đều thể hiện vẻ
đẹp nguy nga tráng lệ. Một lực lượng quân đội hùng hậu đóng trong thành
phố, sẵn sàng ứng phó mọi tình huống xảy ra. Kho quân dụng được đóng
ngay tại bờ sông, gần cồn cát, nơi có Thecadaw14. Người địa phương gọi con
sông này là Songkoy15. Con sông này bắt nguồn từ Trung Quốc, chạy dài vài
trăm dặm trước khi chảy qua thành phố Kẻ Chợ và đổ ra biển ở vịnh Hải
Nam qua 8 hoặc 9 cửa, tất cả các cửa đều đủ sâu để các thuyền cỡ nhỏ có thể
đi lại. Con sông mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho thành phố này bởi tất cả
hàng hóa đều được vận chuyển bằng đường sông đến trung tâm của vương
quốc thông qua một số lượng lớn thuyền buôn hoạt động ngược xuôi khắp
vương quốc. Tuy nhiên, những người buôn bán này đều có nhà cửa ở quê
https://thuviensach.vn
hương chứ không phải sống lênh đênh trên thuyền như ông Taverniere mô
tả, tất nhiên là trừ khi họ đi buôn chuyến.
https://thuviensach.vn
Chương III
Về tự nhiên và sản vật của vương quốc Đàng Ngoài
Địa hình xứ Đàng Ngoài phần lớn thấp và bằng phẳng, không khác xứ
Hà Lan là mấy, nhất là những con kênh mương và hệ thống đê điều. Rừng
núi tạo thành biên giới của vương quốc ở các hướng tây, bắc và nam. Một
dòng sông đặc biệt lớn tưới tiêu cho vương quốc, sau đó chia thành nhiều
nhánh để đổ ra biển, các nhánh đều thuận tiện cho các thuyền nhỏ đi lại.
Trên sông có nhiều tàu thuyền ngược xuôi, làm lợi rất nhiều cho thương
nhân. Quả thực ở Đàng Ngoài không thấy trồng lúa mạch hay nho để làm
rượu vang. Lý do không phải do thiếu mưa bởi những giống này cần đất khô
hơn là đất ướt, mà bởi người Đàng Ngoài không mặn mà do thiếu hiểu biết
về ưu điểm của chúng nên không trồng. Thóc gạo tất nhiên là lương thực
chính của người xứ này; vương quốc Đàng Ngoài sản xuất một lượng lớn
loại lương thực này. Giá như cây lúa có thể phát triển nhờ mưa trong các
tháng Sáu và Bảy, chúng ta đã không phải trải qua những thời khắc buồn rầu
trong những trận đói khủng khiếp giết chết hàng triệu sinh linh trong hai
năm vừa qua.
Từ gạo, người ta cất được một loại đồ uống gọi là rượu. Tuy nhiên, thứ
rượu này còn kém xa loại rượu cốt. Chiếc cày và cách sử dụng của người
Đàng Ngoài học theo lối người Tàu, như được mô tả trong lịch sử Trung
Quốc. Họ đạp lúa bằng chân, trông thật điệu nghệ.
Các loại hoa quả Đàng Ngoài cũng ngon như tại nhiều xứ khác ở phương
Đông, riêng cam thì ngon hơn hẳn các loại cam mà tôi từng thử. Loại cây
mà Taverniere gọi là cọ thực ra là cây dừa, có cùi trắng và vị như quả hạnh
nhân. Giống cây này rất phổ biến ở Xiêm, nơi quả được ép để làm ra dầu.
Loại dầu này được các tàu buôn mang đi bán cho dân các nước lân cận để
thắp đèn. Nước dừa mát và dễ uống, nhưng nghe nói rất hại thần kinh. Quả
thật dừa là giống cây có lợi bậc nhất xứ Ấn Độ, dùng làm thực phẩm, quần
áo, chất đốt, xây dựng...
https://thuviensach.vn
Ổi là thứ quả Taverniere mô tả đúng, nhưng ông lại không đúng khi nói về
công dụng của nó bởi dù xanh hay chín ổi đều dễ gây táo bón, nên chẳng
mấy ai ăn ổi xanh.
Đu đủ có hình dáng như dưa bở, ăn có vị chứ không đến nỗi khó chịu.
Cau, người Mã Lai gọi là penang, là giống cây mọc thẳng đứng, không có
cành, ngọn trùm ra như vương miện, quả cau to như quả trứng bồ câu. Phần
lớn người Ấn nhai cau với một thứ lá mà người Bồ Đào Nha gọi là beetle
(trầu) còn người Mã Lai gọi là sera. Thức nhai này làm dịu hơi thở, chắc
răng, phấn chấn tinh thần; nhai rồi nước trầu có vị đỏ. Trầu phổ biến đến nỗi
người ta không thể tiếp đón bạn bè mà không có đĩa trầu để mời. Người
Đàng Ngoài cũng như người Xiêm và người Mã Lai, sẵn sàng nhịn một
phần ba bữa ăn để mua trầu. Quả sung được người Đàng Ngoài gọi là hungs,
vị như cà rốt nhưng êm hơn cà rốt, chẳng giống vị quả vả ở châu Âu chút
nào.
Một thứ quả khác là chuối, Taverniere gọi nó là quả sung Adam, dài độ
gang tay, có khi ngắn hơn.
Dọc đường cái quan ở xứ Đàng Ngoài có nhiều những rặng cây lớn và
những hàng quán bán trầu và nước trà, thật tiện lợi cho lữ khách. Những
rặng đa lớn có tán che mát cho cả ngàn người đi đường. Tôi không thể phê
phán Taverniere về điểm này, chỉ nói thêm rằng những rặng cổ thụ tôi nhìn
thấy ở các xứ Swallow, Mareene, Surat có kích cỡ lớn hơn nhiều.
Xứ Đàng Ngoài có nhiều quả vải mà người địa phương gọi là bajay, sinh
trưởng chủ yếu trong phạm vi từ vĩ độ 20° đến vĩ độ 30° bắc. Quả vải mọc
trên cây cao, lá tựa như lá nguyệt quế, quả mọc trên cành trông như hằng hà
vô số trái tim, độ to nhỏ khác nhau nhưng trung bình như quả trứng. Vải
chín có màu đỏ thẫm, vỏ xù xì nhưng mỏng và dễ bóc, cùi mọng có nước
trắng. Vải chín có vị ngon tuyệt chính vụ vào tháng Tư và không kéo dài quá
40 ngày. Lúc đó một vị tướng quân sẽ mang theo lệnh chỉ đến dán vào
những cây nhãn ngon nhất vùng, không kể chúng thuộc về ai. Chủ nhân của
những cây nhãn bị đánh dấu này không chỉ không được hái ăn, mà còn có
nghĩa vụ trông nom không để người khác xâm phạm, nếu không sẽ bị triều
https://thuviensach.vn
đình xử tội. Triều đình chẳng bố thí cho những chủ nhân tội nghiệp này lấy
một xu.
Nhãn, hoặc lungtung (nghĩa chữ Hán là trứng rồng)16, được trồng nhiều ở
xứ này. Cây nhãn tựa như cây vải, cùi nhãn trắng và vị dịu, quả nhãn tròn và
nhỏ hơn quả mận bé, vỏ không xù xì và có màu ôliu nhạt tựa lá úa. Người
Đàng Ngoài thích vị ngon ngọt của nhãn, nhưng cho rằng thứ quả này nóng
và không lành. Mùa nhãn chín là tháng năm, kéo dài đến tận tháng Bảy.
Quả na, người Bồ Đào Nha gọi là annona pampelmoor, cũng như hai hoặc
ba loại mận và các loại quả khác của vùng Đông Ấn (ngoại trừ sầu riêng vốn
chỉ ưa khí hậu nóng từ Xiêm đến Mã Lai, Malacca, Java...) đều có ở Đàng
Ngoài. Nhưng thứ quả ngon nhất mà tôi từng được nếm ở xứ phương Đông
này là quả jaca, hay quả myte (mít) ở xứ Đàng Ngoài. Tôi cho rằng đây là
thứ quả lớn nhất thế giới mà tôi từng thấy. Và cũng bởi độ lớn của nó mà
thiên nhiên đã biết tiên liệu để đặt nó ở trên thân cây chứ không phải trên
cành vì e ngại rằng cành cây chẳng thể mang nổi nó. Khi còn xanh vỏ mít rất
rắn, nhưng khi chín vỏ ngả màu vàng và có thể dễ dàng cắt bằng dao. Mít
cũng có vài loại nhưng loại ngon nhất là loại có múi khô, khi ăn không bị
nhựa dính vào tay và vào môi17. Phần lớn mít có nhựa dính, cùi màu vàng
bọc hạt, hạt nằm trong lỗ nhỏ. Những người nghèo luộc hoặc rang hạt mít để
ăn, vị gần như hạt dẻ ở ta, nhưng nghe nói vô cùng có hại cho phổi.
Taverniere kể tỉ mỉ về một loài chuột hiếm ở đây, gồm nhiều loại khác
nhau, nhưng vì tôi chưa dự một buổi tiệc nào có loại thức nhắm này nên
không thể đánh giá về độ khoái khẩu của nó. Tôi biết người Bồ Đào Nha ăn
thịt chuột để trị một số bệnh.
Sản vật đáng lưu ý tiếp theo là yến sào, được người vùng Đông Ấn
ngưỡng mộ, có giá rất cao và được đánh giá Là loại thức ăn bổ dưỡng và có
tác dụng kích dục. Tôi chắc chắn rằng Taverniere đã sai lầm lớn khi cho
rằng yến sào chỉ có thể được tìm thấy tại 4 hòn đảo A, B, C, D thuộc Đàng
Trong. Tôi không biết các hòn đảo nói trên và cũng không thấy một tổ yến
nào ở đó cả. Loài chim yến sản sinh ra yến sào nhỏ hơn loài chim nhạn, hình
dáng và kích thước tổ yến thì đúng như Taverniere đã mô tả. Một lượng lớn
https://thuviensach.vn
yến sào được thu hoạch tại Jehor, Reho, Pattany18 và các tiểu quốc vùng Mã
Lai. Taverniere thật hoang đường khi nói rằng yến sào tỏa ra mùi thơm khi
đun nấu. Người ta ngâm các tổ yến vào nước ấm hai tiếng đồng hồ, xé thành
các sợi càng nhỏ càng tốt, sau đó chỉ cho một ít nước vào và đem hầm với
các món vịt, chim câu hoặc các loại thịt khác. Sau khi hầm chín yến sào tan
ra thành một thứ nước sền sệt, không mùi không vị.
Bởi tấm bản đồ của ông Taverniere có quá nhiều sai sót, tôi không hiểu và
cũng chưa từng nghe đến các hòn đảo được ký hiệu 1, 2, 3, 4, 5 nơi có vô số
rùa. Người Anh chúng ta ai cũng biết đến vị ngon của loài rùa trong những
chuyến tàu về châu Âu. Thế nhưng, việc Taverniere nói rằng người Đàng
Trong và Đàng Ngoài không thể hài lòng với sự thịnh tình của bản thân
trong các buổi tiệc tùng nếu như họ chưa thết đãi bạn bè món rùa thì quả thật
là hoang tưởng. Khi chúng tôi ở trạm thuế quan trên đảo Tevan Bene (mà
người Hà Lan gọi là đảo Kẻ Cướp), người ta mang đến bán một con rùa
nặng chừng 20 pound19 nhưng những người Đàng Ngoài ở đó chẳng thèm để
ý đến loại đồ ăn này. Khi tôi trên đường từ Xiêm sang và dừng lại ở Cù lao
Ubi20, những thủy thủ đồng nghiệp của tôi mua lên tàu cùng một lúc 5 hoặc 6
con rùa to. Những người Đàng Ngoài đi cùng chúng tôi - những người buộc
phải làm thuê cho chúng tôi để thoát khỏi nạn đói khủng khiếp đang hoành
hành xứ Đàng Ngoài lúc đó - chẳng thèm ngó ngàng đến món rùa. Tôi cũng
không biết rõ liệu có chuyện buôn bán rùa ở đây hay không, vậy nên rất lấy
làm nghi ngờ về lời khẳng định của Taverniere rằng đã có những xung đột
giữa các vương quốc ở đây liên quan đến chuyện đánh bắt rùa.
Xứ Đàng Ngoài không có nhiều loại dứa. Quả chanh mà Taverniere mô tả
không hoàn toàn to như giống chanh ở châu Âu, lúc còn xanh có màu xanh
và lúc chín thì ngả màu vàng.
Người Đàng Ngoài sản xuất ra nhiều tơ lụa đến nỗi cả người giàu và
người nghèo đều có thể mua để may quần áo. Giá tơ lụa rẻ tương tự như mặt
hàng vải bông thô vậy.
Nói về loại hoa có mùi hương thơm ngọt, cho dù không phải là người
trồng và bán hoa thì tôi cũng biết ít nhất hơn hai loài hoa ở xứ Đàng Ngoài.
https://thuviensach.vn
Nhưng thứ hoa mà Taverniere gọi là bayne thì tôi không chắc chắn lắm. Thứ
nhất, có một loại hoa hồng màu trắng phơn phớt hồng. Tiếp đến là loài hoa
hồng có màu đỏ lẫn với sắc vàng. Các giống hồng này được trồng thành
khóm, không có gai cũng chẳng có mùi thơm.
Có một loại hoa chỉ có nụ, trông giống như loài bạch hoa nhưng có kích
cỡ nhỏ hơn, mùi hương tương tự những loài hoa khác mà tôi biết và có thể
giữ hương khoảng nửa tháng cho dù đã bị hái khỏi cành. Các cung nữ
thường dùng mùi hương này để xông xiêm y của họ.21
Giống hoa huệ trồng ở đây cũng như một số vùng thuộc Ấn Độ có hình
dáng tựa như loài hoa huệ ở châu Âu nhưng kích cỡ nhỏ hơn nhiều. Hoa có
màu trắng, mọc trên thân cây cao, trông rất ưa nhìn, dù không được thơm
lắm.
Ở Đàng Ngoài có một loài hoa nhỏ màu trắng tuyết, mọc trên khóm thấp,
hương thơm tựa hoa nhài nhưng mùi thơm mạnh hơn. Ở xứ Ba Tư có rất
nhiều, người ta chiết xuất để lấy nước thơm và xuất khẩu ra bên ngoài qua
các thuyền buôn. Người Đàng Ngoài không chuộng loài hoa này lắm nên tôi
cũng không bàn thêm.
Mía được trồng rất nhiều ở Đàng Ngoài. Bản thân người Đàng Ngoài
không giỏi về kỹ thuật tinh chế đường mà vẫn sản xuất theo lối riêng của họ
để phục vụ tiêu dùng. Người ta không ăn đường sau bữa cơm như
Taverniere mô tả mà vào các dịp nhất định.
Ở Đàng Ngoài có hổ và hươu đực nhưng số lượng không nhiều. Khỉ thì
nhiều vô kể. Bò, lợn, gà, vịt, ngỗng thì nhiều không kể hết. Ngựa xứ Đàng
Ngoài nhỏ nhưng dũng mãnh và nhanh nhẹn. Không phải là người ta không
dùng ngựa để cưỡi mà chỉ để lấy thịt. Ngựa rất hữu dụng cho nhiều công
việc.
Voi được huấn luyện cho mục đích chiến trận và không to đến mức kỳ lạ
như Taverniere mô tả bởi tôi đã chứng kiến những con voi to hơn nhiều ở
Xiêm. Chúng cũng chẳng khéo léo hơn những con voi xứ khác, được huấn
luyện biết quỳ xuống để quản tượng trèo lên.
https://thuviensach.vn
Ở Đàng Ngoài có rất nhiều mèo nhưng lại ít những con mèo bắt chuột
giỏi. Khiếm khuyết này được bổ sung bởi loài chó, nhất là những con chó
nhỏ bắt chuột rất nhanh nhạy.
Các loài chim không nhiều nhưng lại rất nhiều giống hoang cho các tay
thợ săn.
Vùng ven biển và trong thành phố có rất nhiều muỗi. Ở nông thôn ít có
vấn đề với muỗi hơn. Nếu muốn xua muỗi thì người ta phải xông khói
phòng ở, hoặc nằm màn làm bằng loại lụa mỏng. Gió mùa Đông Bắc xua
đàn muỗi đi và người dân được yên ổn trong một khoảng thời gian ngắn.
Những mô tả của Taverniere về kiến trắng rất chính xác. Loài côn trùng
này thật ghê gớm. Ở Xiêm chẳng có nhà nào thoát nạn kiến trắng. Vì thế
thương nhân buộc phải làm các thùng kiểu như nhà táng để chứa hàng, sau
đó bôi dầu vào chân để xua kiến vì kiến vốn sợ mùi dầu.
Taverniere mô tả đúng về việc ngâm muối trứng gà hoặc vịt nhưng những
quả trứng muối này chỉ được dùng để làm nước sốt22.
https://thuviensach.vn
Chương IV
Hàng hóa, thương mại và tiền tệ của xứ Đàng Ngoài
Tơ lụa, gồm cả tơ sống và lụa tấm là những thứ hàng hóa quan trọng
nhất và cũng là loại thương phẩm chính của Đàng Ngoài. Với tơ sống, lần
lượt người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, người Hà Lan và hiện nay là người
Tàu đem sang bán ở Nhật Bản. Sản phẩm lụa tấm chủ yếu được người Hà
Lan và người Anh tiêu thụ.
Xứ Đàng Ngoài không có gỗ lô hội. Các thương nhân nước ngoài nhập
khẩu sản phẩm này vào vương quốc.
Xạ hương ở Đàng Ngoài được nhập khẩu vào từ Trung Quốc và xứ
Bowes, số lượng nhập hằng năm có khi lên đến 5 hoặc 6 picul23, có khi ít
hơn. Xứ Đàng Ngoài cũng không sản xuất vàng mà nhập từ Trung Quốc.
Bạc được người Hà Lan, người Anh và người Tàu mang từ Nhật Bản vào.
Người Đàng Ngoài khai mỏ sắt và chì nhưng sản lượng thường chỉ đủ dùng
cho một số lĩnh vực.
Sản phẩm nội thương có gạo, cá mắm và một số loại thực phẩm...
Thông tin
Mô tả vương quốc Đàng Ngoài
Tác giả: Samuel Baron
Dịch giả: Hoàng Anh Tuấn
Số trang: 184
Kích thước: 14x20.5 cm
Phát hành: Omega Plus
Năm xuất bản: 03/2019
Mô tả vương quốc Đàng Ngoài của Samuel Baron hoàn tất năm 1685 ở Fort Saint-Georges, Madras (Ấn Độ), là một trong những cuốn sách có giá trị của người phương Tây viết về Việt
Nam, bên cạnh những tác phẩm quan trọng của Alexandre de Rhodes, Cristoforo Borri - thế hệ những thương nhân, chính khách và giáo sĩ phương Tây đầu tiên đến Đại Việt vào thế kỷ
XVII-XVIII và để lại nhiều ghi chép quan trọng về văn hóa - lịch sử xứ này.
Trong cuốn sách Mô tả vương quốc Đàng Ngoài, rất nhiều chuyện không được ghi chép trong sử chính thống của nhà Nho được Baron mô tả chân thực, không kiêng dè. Một điều đặc
biệt là, Samuel Baron không viết về Đàng Ngoài dưới dạng du ký như nhiều nhà du hành hoặc thương buôn phương Tây khác. Đàng Ngoài dưới con mắt của Samuel Baron không phải
là một vùng đất ông lướt qua trong một chuyến đi mà những miêu tả tỉ mỉ về xứ sở này với sự phân chia các chương mục rất rõ ràng, đưa ra cả những số liệu cụ thể giống như một công
trình khảo sát của một nhà dân tộc chí cho thấy ông rất am hiểu vùng đất này.
Baron viết cuốn sách nhằm giới thiệu vương quốc Đàng Ngoài với các độc giả người Anh, đồng thời để bác bỏ, phê phán những nhận thức sai lầm của Jean Baptiste Tavernier về xứ
Đàng Ngoài.
Là con lai, Samuel Baron có mẹ là người bản xứ, cha người Hà Lan - là đại diện cho công ty Đông Ấn Hà Lan tại Kẻ Chợ. Bản thân Samuel Baron sau này cũng là thương nhân nhiều
năm sinh sống tại Kẻ Chợ nên những ghi chép của ông có cơ sở để tin cậy. Baron lại có quan hệ thân thiết với phủ Chúa nên có điều kiện tiếp xúc, trải nghiệm, tìm hiểu cuộc sống của
giới quý tộc cũng như những tập tục sinh hoạt đời thường của người dân vùng kinh kỳ.
Qua tác phẩm của Baron, độc giả ngày nay có cơ hội tìm hiểu về thể chế, luật pháp, tiền tệ, sức mạnh quân sự, phong tục, trò tiêu khiển, lễ tịch điền, tôn giáo, tang lễ, sản vật… của
nước ta vào thế kỷ XVII. Mặc dù, đôi chỗ vẫn có sự nhầm lẫn về các sự kiện, nhưng giá trị sử liệu cuốn sách mang lại là rất lớn.
Ý nghĩa bìa sách : Người Giao Chỉ (Đàng Ngoài).
E-book này được thực hiện trên tinh thần thiện nguyện, phi lợi nhuận và phục vụ cộng đồng người đọc chưa có điều kiện mua sách giấy.
TVE-4U
https://thuviensach.vn
CÙNG ĐỌC - CÙNG CHIA SẺ!
https://thuviensach.vn
Lời ngỏ
Samuel Baron sinh tại Đàng Ngoài (Đại Việt), con trai của thương nhân
Hà Lan Hendrick Baron và một phụ nữ bản xứ.
Cùng với Alexandre de Rhodes (giáo sĩ người Pháp), Cristoforo Borri
(giáo sĩ người Ý), Joseph Tissanier (giáo sĩ người Pháp), Jean Philippe
Marini (giáo sĩ người Ý), Juliano Baldinotti (giáo sĩ người Ý), Pierre Poivre
(thương nhân người Pháp), William Dampier (thương nhân người Anh),
John Barrow (nhà du hành, chính khách người Anh)... Samuel Baron thuộc
thế hệ những thương nhân, chính khách và giáo sĩ phương Tây đầu tiên đến
Đại Việt (Đàng Trong và Đàng Ngoài) vào thế kỷ XVII-XVIII và để lại
nhiều ghi chép quan trọng về văn hóa - lịch sử xứ này.
Baron làm cho Công ty Đông Ấn Anh trước năm 1672, được cử sang
Đàng Ngoài năm 1678, năm 1685 ông hoàn tất tác phẩm với nhan đề: A
Description of the Kingdom of Tonqueen (Mô tả vương quốc Đàng Ngoài).
Một trong những lý do Baron viết bản tường trình này là để bác bỏ, phê
phán những nhận thức sai lầm của Jean Baptiste Taverniere về xứ Đàng
Ngoài. Qua tác phẩm của Baron, độc giả ngày nay có cơ hội tìm hiểu về thể
chế, luật pháp, tiền tệ, sức mạnh quân sự, phong tục, trò tiêu khiển, lễ tịch
điền, tôn giáo, tang lễ, sản vật,... của nước ta vào thế kỷ XVII.
Đại Việt thế kỷ XVII tồn tại hai chính quyền song song, một cơ chế lưỡng
đầu về quyền lực chính trị: Vua Lê - Chúa Trịnh. Mặt khác, kể từ sau khi
Đoan quận công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa (1558), Đại Việt
xuất hiện thêm một thế lực chính trị mới ở Đàng Trong, mở đầu cho công
cuộc Nam tiến của dân tộc, cùng với đó là sự đứt gãy về văn hóa.
Bên cạnh việc xuất bản tác phẩm của Baron, Công ty cổ phần Sách
Omega Việt Nam (Omega+) cũng trân trọng giới thiệu đến độc giả bản Việt
ngữ tập ký sự Xứ Đàng Trong do giáo sĩ Cristoforo Borri viết trước đó hơn
năm mươi năm, mô tả khá chi tiết về xứ Đàng Trong (thời Chúa Sãi Nguyễn
Phúc Nguyên): từ quốc hiệu, cương vực, diện tích, khí hậu, đất đai, sản vật...
https://thuviensach.vn
đến phong hóa, tập quán, hành chính, quân sự, thương mại, đời sống tinh
thần...
Cùng với việc xuất bản Một chuyến du hành đến xứ Nam hà (John
Barrow, đã xuất bản), Mô tả vương quốc Đàng Ngoài (Samuel Baron), Xứ
Đàng Trong (Cristoforo Borri), trong thời gian tới đây Omega+ sẽ lần lượt
giới thiệu đến độc giả những sử liệu quan trọng khác của Tissanier,
Dampier... và những công trình của các tác giả phương Tây thuộc thế hệ thứ
hai, thứ ba.
Công ty cổ phần sách Omega Việt Nam
https://thuviensach.vn
Chương I
Phê phán nhận thức của Taverniere về xứ Đàng Ngoài
*
Vương quốc Đàng Ngoài đã được người Bồ Đào Nha khám phá hơn 120
năm về trước. Những mô tả của hai giáo sĩ Padre Martin và Alexander de
Rhodes về vùng đất này nhìn chung chính xác hơn những gì Taverniere đã
làm. Những sự mâu thuẫn đó có thể xuất phát từ sự biến đổi của các sự vật
qua những thời kỳ khác nhau.
Thoạt tiên, Taverniere cho rằng người Đàng Ngoài chẳng có ai là sư sãi
hay giáo sĩ, trong khi lại nói rằng, họ đi đến Bantam và Batavia2. Ông còn
nói rằng, khi người Đàng Ngoài vượt biển ra ngoài họ thường mang theo vợ
con và gia đình. Tôi nghĩ có vẻ như Taverniere đang nói về những chuyến đi
trên sông từ làng này sang làng khác của người Đàng Ngoài, bởi việc đi ra
nước ngoài chẳng mấy thông dụng với họ, ngoại trừ mấy kẻ bần hàn đi theo
hầu hạ người ngoại quốc hay những kẻ cùng đường phải thoát đi để mưu
sinh. Taverniere kể về sự ngạc nhiên và thán phục của người Đàng Ngoài
khi được ông cho xem tập địa đồ và một số bản đồ mô tả về thế giới cũng
như một vài vương quốc ở chốn xa xôi, khiến người Đàng Ngoài chăm chú
cứ như họ đang được xem một thế giới khác ở trên mặt trăng. Tôi chẳng
nghe bất kỳ ai nói về một ông Taverniere từng đến Đàng Ngoài 11 hay 12
lần, ngoại trừ thông tin về một người tên là Taverniere đến vương quốc này
một lần duy nhất trong vai trò nhân viên của Công ty Đông Ấn Hà Lan.
Taverniere ca ngợi anh trai mình là người can trường và sắc sảo. Tôi
không chắc điều này đúng đến đâu, nhưng cho dù có bị ông ta phản đối đi
chăng nữa thì tôi vẫn khẳng định một điều rằng, ông ta thiếu thiện chí và
không trung thực. Trong ghi chép của mình, Taverniere phóng đại về số tiền
lớn mà anh trai mình thường xuyên mang theo trong các chuyến đi. Thế
nhưng ai mà chẳng biết một nhân viên tài vụ của Công ty Đông Ấn Hà Lan
thì có thể làm được gì, có thể được phép mang theo những gì một khi hoạt
động buôn bán cá nhân đã bị nghiêm cấm3.
https://thuviensach.vn
Taverniere nói về những món quà lớn ông dùng để biếu tặng Vua và
Hoàng tử cũng như những buổi chầu và những cuộc đàm đạo với họ. Nếu
như đây là sự thực thì tôi cho rằng, người Đàng Ngoài đã mất hết thể diện
mất rồi. Không thể phủ nhận rằng, trước đây người ngoại quốc đến vương
quốc này được đối đãi nồng nhiệt hơn thời điểm hiện tại. Nhưng điều đó
không đồng nghĩa với việc hoàng gia đi lại thân mật với đám ngoại nhân. Ở
thời điểm hiện tại họ còn giữ khoảng cách với người nước ngoài hơn trước,
thậm chí chẳng thèm đếm xỉa đến họ. Ở Đàng Ngoài không có phong tục
hôn tay đức Vua, nhất là đối với người ngoại quốc.
Và một khi Taverniere cho rằng, ông đã dùng tiếng Mã Lai thành thạo của
mình để nói chuyện với Vua và Hoàng tử, có lẽ ông ta cũng có thể nói tiếng
Pháp với họ - hai thứ tiếng mà Vua và Hoàng tử chẳng biết lấy một chữ bẻ
đôi. Khi Taverniere đánh bạc với Vua và Hoàng tử, không biết ông ta đã
chơi trò gì mà thua tới vài ngàn đồng bạc crown4 như ông ta đã biện bạch.
Điều ngạc nhiên nhất là việc một chú bê con cùng với hai vò rượu cất những thứ mà đức Vua thường hào phóng ban tặng - lại có thể bù đắp cho
những khoản thua bạc lớn của ông ta. Taverniere còn cho chúng ta biết thêm
rằng, sự thân quen của người anh trai tại triều đình Đàng Ngoài cũng như
những cuộc đàm đạo thường xuyên với người bản xứ (những người chẳng
bao giờ rời Đàng Ngoài, thế nhưng ông ta lại gặp được ở Bantam và
Batavia) là cơ sở để ông ta hoàn thành cuốn sách của mình một cách trung
thực và chính xác. Ông ta còn nói thêm rằng, chẳng có động cơ gì khác
ngoài ước vọng mô tả sự thật đã thúc giục ông viết tập du ký của mình - một
cuốn sách đầy rẫy những điều sai lạc và mâu thuẫn khiến cho ông ta càng
mất danh dự mà thôi.
Như nhiều người Âu châu khác, Taverniere đều gọi Chúa (Chova) là Vua
bởi cái cách Chúa cai trị vương quốc theo lối riêng của mình, kể cả việc tiếp
đón các sứ thần ngoại bang trừ sứ thần Trung Hoa. Tuy nhiên, đây là một sai
lầm tai hại bởi người Đàng Ngoài có Vua (Bova) cho dù đức Vua không có
thực quyền (điều này sẽ được nhắc đến ở nhiều chỗ trong cuốn du ký).
Taverniere không chỉ khoe khoang những tranh khắc mà ông khẳng định
đã được vẽ tại chỗ đem lại nhiều hứng thú cho người đọc mà còn ngợi ca sự
https://thuviensach.vn
chính xác của tấm bản đồ về Đàng Ngoài. Nhưng nếu so sánh với những bản
đồ hàng hải khác thì tấm bản đồ của ông ta chẳng còn gì có thể sai hơn được
nữa. Những câu chuyện hoang đường và bịa đặt được sáng tác vào lúc cao
hứng chỉ có thể hấp dẫn những kẻ ngu đần, bởi những độc giả thông thái
chắc chắn sẽ phê phán ông ta rằng đã hứa hão quá nhiều trong khi lại thể
hiện quá ít lòng trung thực từ chính những trải nghiệm của cuộc đời ông.
https://thuviensach.vn
Bản đồ khu vực đông bắc vương quốc Đàng Ngoài
Nguồn ảnh: A Description of the Kingdom of Tonqueen, Samuel Baron, 1685
https://thuviensach.vn
Chương II
Về vị trí và quy mô diện tích xứ Đàng Ngoài
Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi những người tiền nhiệm của chúng ta
đã không có hiểu biết gì về vương quốc này sớm hơn, như họ am tường về
xứ Trung Hoa, bởi sự khám phá xứ Đàng Ngoài diễn ra muộn hơn nhiều so
với việc thám hiểm nước Trung Hoa. Người Bồ Đào Nha không những đã
phát hiện ra xứ Đàng Ngoài sớm hơn mà còn phái cả tàu đến đó để kinh
doanh.
Hiển nhiên là xứ Đàng Ngoài trước đây từng là một tỉnh của Trung Quốc
và người Đàng Ngoài đến nay vẫn còn triều cống Hoàng đế Trung Hoa.
Nhưng đó không phải là lý do khiến chúng ta chậm có những hiểu biết về xứ
Đàng Ngoài, nhất là khi mà vương quốc này đã hoàn toàn do các bậc quân
vương người bản xứ cai trị liên tục từ hơn bốn trăm năm nay - sớm hơn
nhiều thời điểm người Bồ Đào Nha khám phá Ấn Độ. Có vẻ như lý do thực
sự là ở chỗ người Đàng Ngoài trước đây (và hiện tại cũng thế) chưa từng đi
ra nước ngoài buôn bán. Họ phần nào bị ảnh hưởng từ người Tàu về tính
cách kiêu hãnh, coi các dân tộc khác là man di. Họ học người Tàu cách tổ
chức triều chính, học nghiệp, chữ viết... nhưng bản thân họ lại thù ghét
người Tàu.
Tôi không hiểu tại sao Taverniere cho rằng nhiều người tin xứ Đàng
Ngoài ở vào khu vực khí hậu rất nóng, khi vương quốc này nằm ở dưới
đường chí tuyến và có một vùng quá lên phía bắc. Mặc dù vậy ông quả
quyết thời tiết ở đây khá ôn hòa nhờ có nhiều sông lớn tưới tiêu cùng với
lượng mưa theo các mùa (đồng thời không có những đụn cát và đồi trọc vốn
là tác nhân gây nóng ở các vùng Commaroan và vịnh Ba Tư). Sự thật là xứ
này thường có mưa vào các tháng Năm, Sáu, Bảy và Tám (đôi khi sớm hơn)
giúp làm ẩm đất nhưng không vì thế mà làm gió dễ chịu hơn. Trái lại, khí
hậu trong hai tháng Bảy và Tám nóng không chịu nổi. Sự thật là xứ Đàng
Ngoài có nhiều loại hoa quả; dân cư không quá đông đúc và sống chủ yếu
https://thuviensach.vn
nhờ lúa gạo. Họ tận dụng từng mảnh đất để trồng lúa và hiếm khi bỏ hoang
đất đai.
Xứ Đàng Ngoài tiếp giáp Quảng Châu (Canton) về phía đông bắc, tiếp
giáp vương quốc Lào và xứ Bowes5 về phía tây, tiếp giáp hai tỉnh Vân Nam
và Quảng Tây (còn gọi là Ai) của Trung Quốc về phía bắc, tiếp giáp vương
quốc Đàng Trong về phía nam và đông nam. Khí hậu ôn hòa từ tháng Chín
đến tháng Ba, đôi khi lạnh vào các tháng Một và Hai dù không bao giờ có
tuyết và băng giá. Các tháng Bốn, Năm và Sáu thường không lành bởi mưa,
mù trời và mặt trời chói lọi. Các tháng Sáu, Bảy, Tám là thời điểm cực nóng
trong năm. Gió ở đây thổi theo hai hướng bắc nam và nam bắc, mỗi hướng
đều sáu tháng. Từ tháng Năm đến tháng Tám là mùa đẹp nhất ở Đàng Ngoài
khi cây cối sum suê, ruộng đồng tươi tốt, phong cảnh trông thật đẹp mắt.
Những trận gió lớn ở đây được đám thủy thủ gọi là bão, người vùng này
gọi là Tanffoons6, hoành hành dữ dội ở đây và những vùng biển lân cận
không theo chu kỳ ổn định nào:
có khi 5 hoặc 6 năm một lần, có khi 8 hoặc 9 năm. Cho dù loại gió bão này không được gọi
cùng tên Tanffoons ở các vùng biển khác ở phương Đông, nhưng với sức tàn phá dữ dội như
thế có thể nói loại bão ở vùng vịnh Bengal và duyên hải Coromandel vốn được biết đến dưới
tên gọi Tượng phong (Elephant Wind) chẳng kém bão ở vùng Đàng Ngoài là mấy. Hậu quả của
loại bão này đối với đám thủy thủ thường rất thảm khốc. Tôi không thể tìm được một nhà thiên
văn học nào ở Đàng Ngoài để hỏi về xuất xứ của các trận bão trên, vậy nên tôi không thể khẳng
định rằng chúng được hình thành do những luồng khí thoát ra từ các vùng khai mỏ ở Nhật Bản.
Về diện tích của Đàng Ngoài, Taverniere đã sai lầm to khi cho rằng Đàng
Ngoài có diện tích tương đương nước Pháp. Những người trải nghiệm ở
Đàng Ngoài khẳng định vương quốc này chỉ nhỉnh hơn nước Bồ Đào Nha
một chút, dù dân số có thể nhiều gấp bốn lần. Taverniere cũng không mô tả
cụ thể về giới hạn đường biên cũng như diện tích của Đàng Ngoài.
Có một số đảo thuộc về vương quốc nằm trong vịnh Đàng Ngoài (vịnh
Bắc Bộ), hòn đảo lớn nhất được người địa phương gọi là Twon Bene7 còn
người Hà Lan gọi là đảo Rovers (đảo Kẻ Cướp). Hòn đảo này nằm ở vĩ độ
19 độ 15 phút bắc, dài 1,5 lý8, rộng tối đa nửa lý, phần lớn địa hình cao, cách
https://thuviensach.vn
bờ khoảng 1 lý, khe nước giữa đảo và đất liền tàu thuyền có thể qua lại
(người Hà Lan trước đây vẫn đi qua) nhưng người điều khiển tàu phải cẩn
trọng đi cách đảo khoảng một tầm súng để đảm bảo luồng sâu khoảng 6,7
hoặc 7,5 sải nước9. Ở phía tây của hòn đảo có hai vịnh nhỏ. Vịnh ở phía bắc
có bãi ngọc trai nhỏ nhưng chẳng ai dám đến mò ngọc nếu không được Vua
cấp phép. Cả hai vịnh đều có nước ngọt chất lượng rất tốt, tốt nhất mà chúng
tôi từng thử ở đây. Mũi phía tây nam của hòn đảo là một rặng đá ngầm nhô
ra biển khoảng 100 mét lộ rõ khi thủy triều xuống quá nửa. Ngoài mỏm đá
đó ra, các lối đi còn lại khá an toàn.
Phía tây bắc là một vụng biển đẹp, sâu chừng 3,5 đến 4 sải, đáy biển là
đất sét mềm. Nơi đây tập trung nhiều thuyền đánh cá thuộc về ngôi làng
ngay gần đó - tôi ước tính làng đó có khoảng 300 đến 400 người, phần lớn là
ngư dân.
Trên đảo có một đồn canh, thu lợi lớn cho vương quốc bởi tất cả tàu
thuyền buôn bán - dù đi đến tỉnh Tingway10 hoặc Guian11 hay đi từ đây về
phía bắc - đều phải dừng ở đây để nộp phí: tàu to vào khoảng 1,5 đô-la kèm
theo quà biếu, các loại thuyền khác thì tùy theo định mức. Nguồn thu hằng
năm của trạm kiểm soát này chắc chắn không dưới 1 triệu đô-la.
Đất đai trên đảo khô cằn và nhiều sỏi đá, không tốt để canh tác. Không có
nhiều gia súc; người dân ở đây nói rằng có khá nhiều sơn dương sống ẩn nấp
trên những vách đá và lùm cây trên đảo. Vì thế thóc gạo và thực phẩm đều
phải mang từ các vùng khác đến. Nếu có quy chế tốt thì cuộc sống nơi đây
sẽ đủ đầy, trong khi chỉ cần một số vốn đầu tư nhỏ cũng có thể biến nơi đây
thành một cảng tốt.
https://thuviensach.vn
Sông Hồng và kinh đô Kẻ Chợ
(thương điếm Anh và Hà Lan ở ngoài cùng bên phải)
Nguồn ảnh: A Description of the Kingdom of Tonqueen, Samuel Baron, 1685
https://thuviensach.vn
Về thành phố và thị trấn, ngoại trừ Kẻ Chợ12, Đàng Ngoài có không quá 2
hoặc 3 thành thị trong toàn vương quốc. Làng xóm thì nhiều, ngoài khả năng
tính toán của tôi, cũng chưa có ai đưa ra nhận định về số lượng làng cả. Kẻ
Chợ là thủ đô của xứ Đàng Ngoài, nằm ở vĩ độ 21° bắc, cách biển chừng 40
lý. Quy mô của Kẻ Chợ sánh ngang nhiều thành thị khác ở châu Á trong khi
dân số của Kẻ Chợ lớn hơn nhiều, nhất là vào phiên chợ ngày 1 và 15 âm
lịch hằng tháng khi người dân cùng với hàng hóa từ các làng ven đô đổ về
đây nhiều không đếm xuể. Những con phố ngày thường vốn rộng rãi và
quang đãng giờ đây trở nên chật chội đến nỗi chỉ nhích được 100 bước trong
vòng 30 phút đã là tốt lắm rồi. Các loại hàng hóa khác nhau được quy định
bán ở các con phố riêng; mỗi con phố gồm cư dân của một hoặc hai ba làng.
Những người dân ở các con phố tổ chức hàng bán theo kiểu phường hội ở
các thành thị châu Âu. Triều đình, cung điện của Vua, tướng lĩnh, hoàng
thân quốc thích và các vị đại thần đều đóng ở đây và chiếm một diện tích
khá lớn trong thành phố. Tôi chỉ có thể nói rằng kiến trúc ở đây rất giản tiện,
một số làm bằng gỗ, còn lại được dựng bằng tre nứa và trát đất trông rất
tuềnh toàng, lèo tèo một vài ngôi nhà gạch vốn là thương điếm của người
ngoại quốc. Kỳ vĩ nhất là bức tường ba lớp bao bọc khu thành cổ và các
cung điện. Những phế tích còn lại minh chứng cho sự kiên cố cùng với
những chiếc cổng lớn và chắc chắn được ốp đá cẩm thạch. Chu vi cung điện
lên đến 6 hoặc 7 dặm13, những lâu đài, cửa cổng, sân vườn đều thể hiện vẻ
đẹp nguy nga tráng lệ. Một lực lượng quân đội hùng hậu đóng trong thành
phố, sẵn sàng ứng phó mọi tình huống xảy ra. Kho quân dụng được đóng
ngay tại bờ sông, gần cồn cát, nơi có Thecadaw14. Người địa phương gọi con
sông này là Songkoy15. Con sông này bắt nguồn từ Trung Quốc, chạy dài vài
trăm dặm trước khi chảy qua thành phố Kẻ Chợ và đổ ra biển ở vịnh Hải
Nam qua 8 hoặc 9 cửa, tất cả các cửa đều đủ sâu để các thuyền cỡ nhỏ có thể
đi lại. Con sông mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho thành phố này bởi tất cả
hàng hóa đều được vận chuyển bằng đường sông đến trung tâm của vương
quốc thông qua một số lượng lớn thuyền buôn hoạt động ngược xuôi khắp
vương quốc. Tuy nhiên, những người buôn bán này đều có nhà cửa ở quê
https://thuviensach.vn
hương chứ không phải sống lênh đênh trên thuyền như ông Taverniere mô
tả, tất nhiên là trừ khi họ đi buôn chuyến.
https://thuviensach.vn
Chương III
Về tự nhiên và sản vật của vương quốc Đàng Ngoài
Địa hình xứ Đàng Ngoài phần lớn thấp và bằng phẳng, không khác xứ
Hà Lan là mấy, nhất là những con kênh mương và hệ thống đê điều. Rừng
núi tạo thành biên giới của vương quốc ở các hướng tây, bắc và nam. Một
dòng sông đặc biệt lớn tưới tiêu cho vương quốc, sau đó chia thành nhiều
nhánh để đổ ra biển, các nhánh đều thuận tiện cho các thuyền nhỏ đi lại.
Trên sông có nhiều tàu thuyền ngược xuôi, làm lợi rất nhiều cho thương
nhân. Quả thực ở Đàng Ngoài không thấy trồng lúa mạch hay nho để làm
rượu vang. Lý do không phải do thiếu mưa bởi những giống này cần đất khô
hơn là đất ướt, mà bởi người Đàng Ngoài không mặn mà do thiếu hiểu biết
về ưu điểm của chúng nên không trồng. Thóc gạo tất nhiên là lương thực
chính của người xứ này; vương quốc Đàng Ngoài sản xuất một lượng lớn
loại lương thực này. Giá như cây lúa có thể phát triển nhờ mưa trong các
tháng Sáu và Bảy, chúng ta đã không phải trải qua những thời khắc buồn rầu
trong những trận đói khủng khiếp giết chết hàng triệu sinh linh trong hai
năm vừa qua.
Từ gạo, người ta cất được một loại đồ uống gọi là rượu. Tuy nhiên, thứ
rượu này còn kém xa loại rượu cốt. Chiếc cày và cách sử dụng của người
Đàng Ngoài học theo lối người Tàu, như được mô tả trong lịch sử Trung
Quốc. Họ đạp lúa bằng chân, trông thật điệu nghệ.
Các loại hoa quả Đàng Ngoài cũng ngon như tại nhiều xứ khác ở phương
Đông, riêng cam thì ngon hơn hẳn các loại cam mà tôi từng thử. Loại cây
mà Taverniere gọi là cọ thực ra là cây dừa, có cùi trắng và vị như quả hạnh
nhân. Giống cây này rất phổ biến ở Xiêm, nơi quả được ép để làm ra dầu.
Loại dầu này được các tàu buôn mang đi bán cho dân các nước lân cận để
thắp đèn. Nước dừa mát và dễ uống, nhưng nghe nói rất hại thần kinh. Quả
thật dừa là giống cây có lợi bậc nhất xứ Ấn Độ, dùng làm thực phẩm, quần
áo, chất đốt, xây dựng...
https://thuviensach.vn
Ổi là thứ quả Taverniere mô tả đúng, nhưng ông lại không đúng khi nói về
công dụng của nó bởi dù xanh hay chín ổi đều dễ gây táo bón, nên chẳng
mấy ai ăn ổi xanh.
Đu đủ có hình dáng như dưa bở, ăn có vị chứ không đến nỗi khó chịu.
Cau, người Mã Lai gọi là penang, là giống cây mọc thẳng đứng, không có
cành, ngọn trùm ra như vương miện, quả cau to như quả trứng bồ câu. Phần
lớn người Ấn nhai cau với một thứ lá mà người Bồ Đào Nha gọi là beetle
(trầu) còn người Mã Lai gọi là sera. Thức nhai này làm dịu hơi thở, chắc
răng, phấn chấn tinh thần; nhai rồi nước trầu có vị đỏ. Trầu phổ biến đến nỗi
người ta không thể tiếp đón bạn bè mà không có đĩa trầu để mời. Người
Đàng Ngoài cũng như người Xiêm và người Mã Lai, sẵn sàng nhịn một
phần ba bữa ăn để mua trầu. Quả sung được người Đàng Ngoài gọi là hungs,
vị như cà rốt nhưng êm hơn cà rốt, chẳng giống vị quả vả ở châu Âu chút
nào.
Một thứ quả khác là chuối, Taverniere gọi nó là quả sung Adam, dài độ
gang tay, có khi ngắn hơn.
Dọc đường cái quan ở xứ Đàng Ngoài có nhiều những rặng cây lớn và
những hàng quán bán trầu và nước trà, thật tiện lợi cho lữ khách. Những
rặng đa lớn có tán che mát cho cả ngàn người đi đường. Tôi không thể phê
phán Taverniere về điểm này, chỉ nói thêm rằng những rặng cổ thụ tôi nhìn
thấy ở các xứ Swallow, Mareene, Surat có kích cỡ lớn hơn nhiều.
Xứ Đàng Ngoài có nhiều quả vải mà người địa phương gọi là bajay, sinh
trưởng chủ yếu trong phạm vi từ vĩ độ 20° đến vĩ độ 30° bắc. Quả vải mọc
trên cây cao, lá tựa như lá nguyệt quế, quả mọc trên cành trông như hằng hà
vô số trái tim, độ to nhỏ khác nhau nhưng trung bình như quả trứng. Vải
chín có màu đỏ thẫm, vỏ xù xì nhưng mỏng và dễ bóc, cùi mọng có nước
trắng. Vải chín có vị ngon tuyệt chính vụ vào tháng Tư và không kéo dài quá
40 ngày. Lúc đó một vị tướng quân sẽ mang theo lệnh chỉ đến dán vào
những cây nhãn ngon nhất vùng, không kể chúng thuộc về ai. Chủ nhân của
những cây nhãn bị đánh dấu này không chỉ không được hái ăn, mà còn có
nghĩa vụ trông nom không để người khác xâm phạm, nếu không sẽ bị triều
https://thuviensach.vn
đình xử tội. Triều đình chẳng bố thí cho những chủ nhân tội nghiệp này lấy
một xu.
Nhãn, hoặc lungtung (nghĩa chữ Hán là trứng rồng)16, được trồng nhiều ở
xứ này. Cây nhãn tựa như cây vải, cùi nhãn trắng và vị dịu, quả nhãn tròn và
nhỏ hơn quả mận bé, vỏ không xù xì và có màu ôliu nhạt tựa lá úa. Người
Đàng Ngoài thích vị ngon ngọt của nhãn, nhưng cho rằng thứ quả này nóng
và không lành. Mùa nhãn chín là tháng năm, kéo dài đến tận tháng Bảy.
Quả na, người Bồ Đào Nha gọi là annona pampelmoor, cũng như hai hoặc
ba loại mận và các loại quả khác của vùng Đông Ấn (ngoại trừ sầu riêng vốn
chỉ ưa khí hậu nóng từ Xiêm đến Mã Lai, Malacca, Java...) đều có ở Đàng
Ngoài. Nhưng thứ quả ngon nhất mà tôi từng được nếm ở xứ phương Đông
này là quả jaca, hay quả myte (mít) ở xứ Đàng Ngoài. Tôi cho rằng đây là
thứ quả lớn nhất thế giới mà tôi từng thấy. Và cũng bởi độ lớn của nó mà
thiên nhiên đã biết tiên liệu để đặt nó ở trên thân cây chứ không phải trên
cành vì e ngại rằng cành cây chẳng thể mang nổi nó. Khi còn xanh vỏ mít rất
rắn, nhưng khi chín vỏ ngả màu vàng và có thể dễ dàng cắt bằng dao. Mít
cũng có vài loại nhưng loại ngon nhất là loại có múi khô, khi ăn không bị
nhựa dính vào tay và vào môi17. Phần lớn mít có nhựa dính, cùi màu vàng
bọc hạt, hạt nằm trong lỗ nhỏ. Những người nghèo luộc hoặc rang hạt mít để
ăn, vị gần như hạt dẻ ở ta, nhưng nghe nói vô cùng có hại cho phổi.
Taverniere kể tỉ mỉ về một loài chuột hiếm ở đây, gồm nhiều loại khác
nhau, nhưng vì tôi chưa dự một buổi tiệc nào có loại thức nhắm này nên
không thể đánh giá về độ khoái khẩu của nó. Tôi biết người Bồ Đào Nha ăn
thịt chuột để trị một số bệnh.
Sản vật đáng lưu ý tiếp theo là yến sào, được người vùng Đông Ấn
ngưỡng mộ, có giá rất cao và được đánh giá Là loại thức ăn bổ dưỡng và có
tác dụng kích dục. Tôi chắc chắn rằng Taverniere đã sai lầm lớn khi cho
rằng yến sào chỉ có thể được tìm thấy tại 4 hòn đảo A, B, C, D thuộc Đàng
Trong. Tôi không biết các hòn đảo nói trên và cũng không thấy một tổ yến
nào ở đó cả. Loài chim yến sản sinh ra yến sào nhỏ hơn loài chim nhạn, hình
dáng và kích thước tổ yến thì đúng như Taverniere đã mô tả. Một lượng lớn
https://thuviensach.vn
yến sào được thu hoạch tại Jehor, Reho, Pattany18 và các tiểu quốc vùng Mã
Lai. Taverniere thật hoang đường khi nói rằng yến sào tỏa ra mùi thơm khi
đun nấu. Người ta ngâm các tổ yến vào nước ấm hai tiếng đồng hồ, xé thành
các sợi càng nhỏ càng tốt, sau đó chỉ cho một ít nước vào và đem hầm với
các món vịt, chim câu hoặc các loại thịt khác. Sau khi hầm chín yến sào tan
ra thành một thứ nước sền sệt, không mùi không vị.
Bởi tấm bản đồ của ông Taverniere có quá nhiều sai sót, tôi không hiểu và
cũng chưa từng nghe đến các hòn đảo được ký hiệu 1, 2, 3, 4, 5 nơi có vô số
rùa. Người Anh chúng ta ai cũng biết đến vị ngon của loài rùa trong những
chuyến tàu về châu Âu. Thế nhưng, việc Taverniere nói rằng người Đàng
Trong và Đàng Ngoài không thể hài lòng với sự thịnh tình của bản thân
trong các buổi tiệc tùng nếu như họ chưa thết đãi bạn bè món rùa thì quả thật
là hoang tưởng. Khi chúng tôi ở trạm thuế quan trên đảo Tevan Bene (mà
người Hà Lan gọi là đảo Kẻ Cướp), người ta mang đến bán một con rùa
nặng chừng 20 pound19 nhưng những người Đàng Ngoài ở đó chẳng thèm để
ý đến loại đồ ăn này. Khi tôi trên đường từ Xiêm sang và dừng lại ở Cù lao
Ubi20, những thủy thủ đồng nghiệp của tôi mua lên tàu cùng một lúc 5 hoặc 6
con rùa to. Những người Đàng Ngoài đi cùng chúng tôi - những người buộc
phải làm thuê cho chúng tôi để thoát khỏi nạn đói khủng khiếp đang hoành
hành xứ Đàng Ngoài lúc đó - chẳng thèm ngó ngàng đến món rùa. Tôi cũng
không biết rõ liệu có chuyện buôn bán rùa ở đây hay không, vậy nên rất lấy
làm nghi ngờ về lời khẳng định của Taverniere rằng đã có những xung đột
giữa các vương quốc ở đây liên quan đến chuyện đánh bắt rùa.
Xứ Đàng Ngoài không có nhiều loại dứa. Quả chanh mà Taverniere mô tả
không hoàn toàn to như giống chanh ở châu Âu, lúc còn xanh có màu xanh
và lúc chín thì ngả màu vàng.
Người Đàng Ngoài sản xuất ra nhiều tơ lụa đến nỗi cả người giàu và
người nghèo đều có thể mua để may quần áo. Giá tơ lụa rẻ tương tự như mặt
hàng vải bông thô vậy.
Nói về loại hoa có mùi hương thơm ngọt, cho dù không phải là người
trồng và bán hoa thì tôi cũng biết ít nhất hơn hai loài hoa ở xứ Đàng Ngoài.
https://thuviensach.vn
Nhưng thứ hoa mà Taverniere gọi là bayne thì tôi không chắc chắn lắm. Thứ
nhất, có một loại hoa hồng màu trắng phơn phớt hồng. Tiếp đến là loài hoa
hồng có màu đỏ lẫn với sắc vàng. Các giống hồng này được trồng thành
khóm, không có gai cũng chẳng có mùi thơm.
Có một loại hoa chỉ có nụ, trông giống như loài bạch hoa nhưng có kích
cỡ nhỏ hơn, mùi hương tương tự những loài hoa khác mà tôi biết và có thể
giữ hương khoảng nửa tháng cho dù đã bị hái khỏi cành. Các cung nữ
thường dùng mùi hương này để xông xiêm y của họ.21
Giống hoa huệ trồng ở đây cũng như một số vùng thuộc Ấn Độ có hình
dáng tựa như loài hoa huệ ở châu Âu nhưng kích cỡ nhỏ hơn nhiều. Hoa có
màu trắng, mọc trên thân cây cao, trông rất ưa nhìn, dù không được thơm
lắm.
Ở Đàng Ngoài có một loài hoa nhỏ màu trắng tuyết, mọc trên khóm thấp,
hương thơm tựa hoa nhài nhưng mùi thơm mạnh hơn. Ở xứ Ba Tư có rất
nhiều, người ta chiết xuất để lấy nước thơm và xuất khẩu ra bên ngoài qua
các thuyền buôn. Người Đàng Ngoài không chuộng loài hoa này lắm nên tôi
cũng không bàn thêm.
Mía được trồng rất nhiều ở Đàng Ngoài. Bản thân người Đàng Ngoài
không giỏi về kỹ thuật tinh chế đường mà vẫn sản xuất theo lối riêng của họ
để phục vụ tiêu dùng. Người ta không ăn đường sau bữa cơm như
Taverniere mô tả mà vào các dịp nhất định.
Ở Đàng Ngoài có hổ và hươu đực nhưng số lượng không nhiều. Khỉ thì
nhiều vô kể. Bò, lợn, gà, vịt, ngỗng thì nhiều không kể hết. Ngựa xứ Đàng
Ngoài nhỏ nhưng dũng mãnh và nhanh nhẹn. Không phải là người ta không
dùng ngựa để cưỡi mà chỉ để lấy thịt. Ngựa rất hữu dụng cho nhiều công
việc.
Voi được huấn luyện cho mục đích chiến trận và không to đến mức kỳ lạ
như Taverniere mô tả bởi tôi đã chứng kiến những con voi to hơn nhiều ở
Xiêm. Chúng cũng chẳng khéo léo hơn những con voi xứ khác, được huấn
luyện biết quỳ xuống để quản tượng trèo lên.
https://thuviensach.vn
Ở Đàng Ngoài có rất nhiều mèo nhưng lại ít những con mèo bắt chuột
giỏi. Khiếm khuyết này được bổ sung bởi loài chó, nhất là những con chó
nhỏ bắt chuột rất nhanh nhạy.
Các loài chim không nhiều nhưng lại rất nhiều giống hoang cho các tay
thợ săn.
Vùng ven biển và trong thành phố có rất nhiều muỗi. Ở nông thôn ít có
vấn đề với muỗi hơn. Nếu muốn xua muỗi thì người ta phải xông khói
phòng ở, hoặc nằm màn làm bằng loại lụa mỏng. Gió mùa Đông Bắc xua
đàn muỗi đi và người dân được yên ổn trong một khoảng thời gian ngắn.
Những mô tả của Taverniere về kiến trắng rất chính xác. Loài côn trùng
này thật ghê gớm. Ở Xiêm chẳng có nhà nào thoát nạn kiến trắng. Vì thế
thương nhân buộc phải làm các thùng kiểu như nhà táng để chứa hàng, sau
đó bôi dầu vào chân để xua kiến vì kiến vốn sợ mùi dầu.
Taverniere mô tả đúng về việc ngâm muối trứng gà hoặc vịt nhưng những
quả trứng muối này chỉ được dùng để làm nước sốt22.
https://thuviensach.vn
Chương IV
Hàng hóa, thương mại và tiền tệ của xứ Đàng Ngoài
Tơ lụa, gồm cả tơ sống và lụa tấm là những thứ hàng hóa quan trọng
nhất và cũng là loại thương phẩm chính của Đàng Ngoài. Với tơ sống, lần
lượt người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, người Hà Lan và hiện nay là người
Tàu đem sang bán ở Nhật Bản. Sản phẩm lụa tấm chủ yếu được người Hà
Lan và người Anh tiêu thụ.
Xứ Đàng Ngoài không có gỗ lô hội. Các thương nhân nước ngoài nhập
khẩu sản phẩm này vào vương quốc.
Xạ hương ở Đàng Ngoài được nhập khẩu vào từ Trung Quốc và xứ
Bowes, số lượng nhập hằng năm có khi lên đến 5 hoặc 6 picul23, có khi ít
hơn. Xứ Đàng Ngoài cũng không sản xuất vàng mà nhập từ Trung Quốc.
Bạc được người Hà Lan, người Anh và người Tàu mang từ Nhật Bản vào.
Người Đàng Ngoài khai mỏ sắt và chì nhưng sản lượng thường chỉ đủ dùng
cho một số lĩnh vực.
Sản phẩm nội thương có gạo, cá mắm và một số loại thực phẩm...
 





