Sách Nói] Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn - Chương 1
MƯỜI NGÀY Ở HUẾ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Tuyết
Ngày gửi: 14h:43' 20-05-2024
Dung lượng: 332.6 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Tuyết
Ngày gửi: 14h:43' 20-05-2024
Dung lượng: 332.6 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Mười ngày ở Huế
Phạm Quỳnh
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di
động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Mục lục
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Phần I
Phần II
Phần III
Phần IV
Phạm Quỳnh
Mười ngày ở Huế
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Khi nói đến những thành tựu rực rỡ của văn học hiện đại Việt Nam,
đặc biệt là thời kỳ 1930-1945 và tiếp tục về sau này của nền văn
học cách mạng, không thể không nói đến một tiền đề hết sức quan
trọng, một công cụ cơ bản nhất để tạo nên tác phẩm văn học, đó là
ngôn ngữ, là tiếng Việt La tinh hóa, tức chữ quốc ngữ như ta thường
gọi lâu nay. Việc dùng mẫu tự La tinh để ghi âm tiếng Việt (La tinh
hóa tiếng Việt) đã được các nhà truyền giáo Phương Tây thực hiện
từ các thế kỷ trước. Đặc biệt phải kể đến công lao của Alếchxăng
đờ Rốt đã tiếp tục công việc của các nhà truyền đạo trước đó, biên
soạn được cuốn từ điển đầu tiên Dictionnatium anamitium lusitanun
et latinum1(1)
Nhưng chữ quốc ngữ từ lĩnh vực giao tiếp truyền đạo, lĩnh vực
hành chính của chính quyền thuộc địa đến tiếng Việt như là ngôn
ngữ chính thức của đời sống xã hội, của báo chí truyền thông, của
văn học nghệ thuật là cả một thời gian dài để làm quen, rèn rũa,
trau chuốt cho đến thuần thục. Thời gian chuẩn bị đó khá dài,
khoảng trên ba thế kỷ (từ thế kỷ 16 cho đến tận gần giữa thế kỷ 20
(thời kỳ 1930 - 1945). Và, những báo, tạp chí, những công báo... ở
thời kỳ này, dù theo các xu hướng chính trị xã hội khác nhau, đều
có tác dụng khách quan thúc đẩy sự phát triển hoàn thiện của Tiếng
Việt La tinh hóa, của chữ quốc ngữ
. Trong số các báo, tạp chí như Đông Pháp, Trung Bắc tân văn, An
Nam tạp chí, Nam Phong tạp chí... thì tạp chí Nam Phong do Phạm
Quỳnh làm chủ bút (từ 1917 đến 1934) có những đóng góp cần
được nhìn nhận lại. Trong số các cây bút chính của Nam Phongnhư
Nguyễn Mạnh Bổng, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, hai cha con
Nguyễn Bá Học, Nguyễn Bá Trạc, Phạm Duy Tốn... thì cây bút chủ
báo Phạm Quỳnh là nổi bật nhất. Thượng Chi đã viết thường xuyên
về nhiều thể loại trên báo này: dịch thuật, thông tin, bình luận, khảo
cứu... Các bút ký Trẩy hội Chùa Hương, Mười ngày ở Huế, Một
tháng ở Nam Kỳ có thể gọi là bút ký du lịch, khi Phạm Quỳnh mới ra
làm báo Nam Phong, đầy hăm hở của một người ham hiểu biết, yêu
mến thiên nhiên, tìm hiểu các di sản văn hóa, các phong tục tập
quán. Trong bút ký Trẩy hội Chùa Hương, tác giả rất bài bác tệ mê
tín buôn thần bán thánh nhưng lại tỏ ra thích thú khi thưởng ngoạn
cảnh đẹp thiên nhiên và tìm thấy ở Đạo Phật chân chính một nguồn
cứu rỗi tâm hồn. Trong Bút ký Mười ngày ở Huế, với một thời gian
ngắn ngủi, tác giả đã nêu được nhiều hình ảnh phản ánh tình hình
đời sống, dân tình thời ấy cùng vẻ đẹp kỳ ảo của cảnh núi non sông
nước, các công trình kiến trúc đặc sắc của cố đô Huế, gặp gỡ
những gia đình quí tộc có danh tiếng như nữ sĩ Đạm Phương (mẹ
đẻ nhà văn Hải Triều tức NguyễnKhoa Văn...). Đặc biệt trong thiên
bút ký này Phạm Quỳnh được tận mắt chứng kiến lễ tế Nam Giao.
Những ghi chép này rất có giá trị trong việc tìm hiểu phong tục cung
đình thời nhà Nguyễn. Ở Một tháng ở Nam Kỳ, tác giả đã nhận biết
sớm và rất đúng tính cách đời sống Nam Bộ, ghi lại được nhiều
điều về đời sống Nam Kỳ lục tỉnh lúc đó, về tình hình của các Hội
khuyến học và báo chí Nam Kỳ đương thời. Tóm lại, về mặt nội
dung, các bút ký du lịch của Phạm Quỳnh đã ghi lại được nhiều mặt
về thiên nhiên đất nước, phong tục tập quán và đời sống đương
thời, cách viết hấp dẫn, suy tư phong phú, gây được tình cảm tốt
cho người đọc về nghĩa vụ của người công dân đối với quốc gia,
với truyền thống văn hóa của tiền nhân.
Cần phải khẳng định những đóng góp của tác giả Phạm Quỳnh về
ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại (chữ quốc ngữ). Nếu chúng ta nhớ lại
khoảng những năm hai mươi, văn xuôi quốc ngữ chưa phải đã đạt
đến trình độ thuần thục. Thời ấy, một người được dư luận chú ý là
Hoàng Tích Chu đưa ra lối văn mới chống lại thứ văn biền ngẫu
truyền thống, tác giả này thường ký là Văn Tôi, và giới văn học
thường gọi là thứ văn cộc, đã được coi như một sự đổi mới mạnh
dạn (theo Vũ Ngọc Phan -Những năm tháng ấy, hồi ký, Nxb Văn
học, 1987) thì những bút ký du lịch của Phạm Quỳnh trong những
năm 1918-1919 đã tỏ ra là một giọng văn trôi chảy, uyển chuyển,
diễn đạt được nhiều nội dung phong phú.
Phạm Quỳnh hoạt động khá rộng trên các lĩnh vựcchính trị, văn
hóa, nghệ thuật. Ông chủ trương dựa vào người Pháp để dần dần
đòi lại quyền tự trị, (chủ trươngthuyết lập hiến, dựa vào hiệp ước
Ácmăng 1883 để đòi lại quyền tự trị) khác với Nguyễn Văn Vĩnh chủ
trương để cho người Pháp cai trị trực tiếp (thuyết trực trị). Phạm
Quỳnh tỏ ra thần phục văn hóa Pháp, nước Pháp cũng như chính
quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam, những quan hệ chính trị giữa
Phạm Quỳnh với chính quyền thực dân Pháp là đề tài thuộc lĩnh vực
chính trị - lịchsử. Ông đã, đang và sẽ còn được phân tích, đánh giá,
phê phán trên lĩnh vực này, nhưng về mặt văn hóa, văn học, về tiến
trình phát triển của văn xuôi quốc ngữ thìcông lao đóng góp của ông
cần được nhìn nhận lại. Điều đó đã được thể hiện phần nào trên các
công trình gần đây. Trong Từ điển Văn hóa Việt Nam (Nxb Văn hóa
- Thông tin. Hà Nội. 1993) đã ghi nhận điều đó và tác giả Phạm
Quỳnh đã được đưa vào chương trình giảng dạy ở nhà trường
(Sách giáo khoa Văn 12. Nxb Giáo dục. 199....). Vì vậy việc cho in
lại các bút ký du lịch của Phạm
Quỳnh chỉ là cụ thể hóa sự đánh giá lại tác giả này trên lĩnh vực văn
học - báo chí, với tư cách là mộttác giả văn học. Để giúp cho việc
nghiên cứu tiến trình văn xuôi quốc ngữ cũng như chữ quốc ngữ,
và ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại, chúng tôi giữ nguyên trạng hình
thức văn phong của tác giả, chỉ lược bỏ những chi tiết xét không
cần gợi lại.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc và rất mong nhận được sự
phê bình góp ý của các nhà nghiên cứu và đông đảo bạn đọc.
Hà Nội tháng 6-1994 Nhà Xuất bản Văn học
1 Tự điển Annam - Bồ Đào Nha và La Tinh. Rôme. 1651.
Phạm Quỳnh
Mười ngày ở Huế
Phần I
Nhân dịp tế Nam Giao tôi có về chơi Huế, thật là phỉ cái lòng mong
mỏi đã lâu nay. Sinh trưởng ở một nơi đô hội mới, không còn tí gì là
cái dấu vết cựu thời, mối hoài cổ vẫn thường canh cánh trong lòng.
Quan niệm về lịch sử nước nhà, trông quanh mình không có cái
cảnh tượng gì đủ nhắc lại những sự nghiệp nhớn nhao của đời
trước, tình ái quốc vẫn thường ngang ngang trong dạ. Nên vẫn ước
ao được về nơi Đế Đô để chiêm ngưỡng cái hình ảnh của Tổ quốc.
Nay sự hi vọng đã thành, mắt đã được trông, tai đã được nghe, tinh
thần đã cảm cái hồn xưa của loài giống, thân thể đã gội cái khí
thiêng của núi sông, muốn đem những sự kiến văn, sự cảm giác,
sự tư tưởng trong mười ngày ở chốn Trường An thuật lại cho các
bạn đọc báo nghe, tưởng cũng giúp được một phần cho cái quan
niệm của quốc dân đối với Tổ quốc vậy.
Xưa chẩy Kinh mất hai mươi ngày, nay nhờ có xe hỏa xe hơi đi
đường bộ chỉ vừa đầy hai ngày tròn. Bắt đầu đi từ Hà Nội ngày 19
tháng 3 tây, ngày 21 tới Huế, ở Huế 12 ngày, ngày 2 tháng 4 bắt
đầu về, chiều ngày 3 tới Hà Nội, vừa đi vừa ở vừa về cả thảy 16
ngày. Đi qua mười tỉnh: Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình,
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa
Thiên; trải nhiều cảnh khác nhau: khi ruộng lúa, khi đồng cỏ, khi non
thấp, khi núi cao, khi sa mạc, khi cao nguyên, khi qua sông, khi men
bể; giải Hồng Lĩnh, núi Hoành Sơn, bến sông Gianh, truông nhà Hồ,
những nơi có tiếng to tiếng dữ ngày xưa lần lượt trình bầy ra trước
mắt, chỉ khác cổ nhân là thân không phải chịu khó nhọc mà trong
khoảng hai ngày thu được một mảnh giang sơn của cố quốc. Ở vào
thời đại khai thông cũng có nhiều điều tiện lợi, nhưng có nhẽ kém
cái thú riêng của các cụ ngày xưa, thong dong bầu rượu túi thơ, đi
đến đâu đề vịnh đến đấy, chẳng quản ngày qua tháng lại, cái thân
nhàn không hệ lụy với thời gian! Ngày nay thời giờ đã coi là vật rất
quí ở đời, người đời đối với ngày giời đã sinh lòng bủn sỉn, thì cái
hồn thơ lấy đâu mà lai láng được như xưa! Cho nên điện khí, hơi
nước, xe hỏa, xe hơi, không phải là những “thi khố” thiên nhiên của
giời đất.
Sáu giờ sáng ngày 19 lên xe hỏa về Vinh, năm giờ chiều tới nơi. Từ
Hà Nội đến Ninh Bình là phong cảnh đất đồng bằng, đất bằng giời
phẳng, bát ngát mênh mông, người đứng giữa như giam mình trong
cái ngục nhớn. Ai sinh trưởng ở chốn đồng bằng xứ Bắc, từ thủa
nhỏ đầy mắt chỉ là cái cảnh giời biếc ruộng xanh, song song bất
tuyệt, mới biết cái khổ lạ như cái khổ kẻ tù nhân, khao khát những
cảnh núi non cao thẳm, gò đống khi khu. Theo sách địa lý thì những
bậc anh tài hùng kiệt thường sinh ra ở gần nơi cao phong tuấn lĩnh:
mắt nhìn những cảnh tượng nhớn nhao, lòng tất rộng rãi mà trí tất
cao sâu. Sách tây cũng thường nói người Ấn Độ đời xưa sở dĩ
sáng lập ra được những tôn giáo triết lý cao thâm như đạo Thích ca,
đạo Phệ đà, cũng là bởi sinh trưởng ở dưới núi Tuyết Sơn, tinh thần
thường theo ngọn núi cao mà bay bổng lên chốn không gian vô
cực. Như thế thì xứ đồng bằng hiếm người anh tuấn cũng là phải:
người đồng bằng cái trí không lên khỏi ngọn cây tre! - Từ Ninh Bình
giở vào mới thấy nhiều núi non, trước còn thấp, rồi cao dần mãi lên.
Núi thường đột khởi ở giữa cánh đồng, đá trắng mọc rêu xanh, đen
đen đốm đốm, trông xa như những mảnh thành bị tàn phá đã lâu
ngày, hay là những bức tường đổ nát của cái lâu đài khổng lồ từ
thời thượng cổ. Trông những núi đó không khiếp sợ mà chạnh
thương, vì nó trơ vơ xơ xác giữa đồng, có cái hình dạng tiêu điều
như người đau đớn trong lòng: mộc thạch cũng có linh hồn chớ
chẳng không! Nhưng từ vùng Thanh Nghệ giở vào thì núi đã thấy
liên tiếp nhau mà thành từng rặng dài, đá thường lẫn đất, cỏ cây
rậm rạp, không xơ xác như những núi trên kia. Hình tròn sắc mượt,
như một đàn voi cực lớn theo nhau tự trong rừng Vạn Tượng ra
đến bờ bể Đông. “Hồng Lĩnh cửu thập cửu phong” là bắt đầu từ
đấy. Xe lửa chạy nhanh, không thể đếm được có đủ chín mươi chín
ngọn không. Nhưng túng sử đếm được mà cái số hoặc nhiều hơn
hay ít kém thì có hề chi; cái tên của cổ nhân đặt vẫn là có ý vị, dẫu
không đúng cũng chẳng giảm đi chút nào. Ôi! Cái hồn thơ của cha
ông!...
Đêm hôm ấy ngủ tại Vinh, sáng hôm sau lên xe hơi đi về Đông Hà.
Xe hơi có thể đi từ Vinh về Đông Hà trong 12 giờ, nhưng xe hỏa tự
Đông Hà về Huế chỉ có một chuyến chạy chín giờ sáng, vả Đông Hà
là một nhà ga cùng tịch ở đêm không tiện, nên ước năm sáu giờ
chiều tới Đồng Hới là tỉnh lỵ tỉnh Quảng Bình ngủ đêm đấy, sáng
hôm sau đi nốt Đồng Hới về Đông Hà, vừa gặp chuyến xe lửa về
Huế, đúng 12 giờ trưa thì tới Kinh đô. Nếu sở xe hỏa chịu đặt một
chuyến bảy tám giờ tối thì hành khách khỏi phải ngủ đêm ở Đồng
Hới, khỏi phải mất nửa ngày hôm sau, mà ước nửa đêm ngày thứ
hai đã tới Kinh. Cứ xem khi ở Huế ra Hà Nội chỉ vừa đầy hai ngày
thì đủ biết: 6 giờ sáng lên xe hỏa tự Huế ra Đông Hà, 8 giờ đến
Đông Hà, 9 giờ lên xe hơi ra Vinh, 10 giờ tối tới Vinh, ngủ đêm ở
đấy, sáng sớm mai lên xe hỏa ra Hà Nội, 5 giờ chiều tới nơi. Người
yếu sức cũng hơi nhọc mệt một đôi chút, nhưng trông phong cảnh
hai bên đường đủ làm cho quên cái nỗi lưng mỏi chân chồn.
Từ Vinh giở vào đi xe hơi là theo con đường Thiên Lý cũ gần bờ bể.
Phải một quãng ở khỏi Nghệ đường mới đắp xấu quá, hôm đi lại
vừa gặp giời mưa to đêm hôm trước, đường sũng nước thành bùn
lầy, bánh xe bết xuống không đi được hành khách phải xuống để
cho phu đẩy mất năm sáu trăm thước tây. Chuyến ấy có bốn người
đi, hai vợ chồng ông quan ba với hai anh em nhà báo mình là ông
Chương Dân và tôi. Bốn người cùng lội bì bõm, nhìn nhau mà buồn
cười thay. Quan ba cùng phu nhân tính vui mà nhã nhặn, thực là
một đôi bạn đi đường quí hóa. Suốt một ngày chuyện trò ân cần vui
vẻ, cùng nhau bình phẩm cái bức tranh thiên nhiên đương bầy ra
trước mắt. Đến lắm chỗ phong cảnh núi non đẹp, phu nhân nói nhớ
đến những cảnh quê hương bên mẫu quốc. Chẳng hay phu nhân
có biết hai người Việt Nam ngồi đấy trông cảnh ấy trong lòng cũng
đương vẩn vương về tổ quốc không?... Quan ba người đẫy đà, ngồi
trong xe khí chật, tủm tỉm cười mà nói: “Tôi to nhớn quá, ngồi chật
mất cả chỗ, không được thanh tú như các ông là những bậc văn
nhân...” Than ôi! Câu đó cũng là một câu nói nhã mà khiến cho
chúng tôi luống những rầu lòng. Trông người mạnh mẽ ta yếu ớt mà
buồn thay cho tư cách văn nhân của giống mình. Ngoài những khi
ngồi xe như lúc này, cái tư cách ấy há đáng người ta thèm lắm ru?
Ngay khi lóng cóng lội bùn vừa rồi cũng đủ biết cái tư cách văn
nhân không đủ ra đối đãi với đời. Ngán thay!
Xe hơi đi phăng phăng như nuốt đường, gió lộng tứ phía như đập
vào mặt đập vào tai mà thành một thứ âm nhạc riêng lẫn với tiếng
phành phạch của cái máy động cơ trong xe. Người nhà quê trong
Trung Kỳ này vụng tránh xe lắm. Nghe hiệu còi không biết đứng
nép ngay vào bên đường mình đương đi, lại hình như cuồng cẳng
lên mà đâm quàng sang bên kia, hoặc cứ chạy mãi cho đến chỗ
nào có cái cửa hay cái ngõ ngang mới rẽ vào, rồi cắp nón quay lại
nhìn, mặt ngơ ngác! Thường xe hại người cũng vì thế. Nhưng mà
nghĩ cho kỹ chẳng nên trách chi người nhà quê. Phàm cái gì có
hiểu, có giải được cái lý do nó thế nào thì làm mới phải đường;
người nhà quê trông cái xe hơi chạy vùn vụt, tưởng là có cái ma lực
gì nó đưa đi như mây như gió, lại không hiểu những người ngồi
trong xe ấy có công việc gì mà đến nỗi chạy bạt hơi bay tóc như lũ
cuồng như vậy, nên trông thấy cái xe đi đến kinh ngạc khiếp sợ, bối
rối lên mà không biết tới lui thế nào.
Hai bên đường xe chạy, phong cảnh có cái vẻ buồn rầu lặng lẽ:
toàn thị là một rải đất hoang, xa xa mới có một thôn lạc năm ba nóc
nhà lơ thơ; ngoài là bãi cát trắng xóa, trong là rẫy núi xanh om. Cái
xe bon bon chạy giữa tưởng như con thú rừng lạc vào trong sa
mạc; kinh hoảng mà chạy cuồng. Ngoài xa nữa là bể khơi một mầu
xanh ngắt, sóng rạt gần bờ trông như một rải bạc trắng xóa. Phong
cảnh ấy tưởng những lúc bão bể mưa ngàn, tiếng sấm trên núi họa
với tiếng sóng ngoài khơi, thì kinh hãi biết chừng nào! Hoặc buổi
chiều mặt giời đã xế, cây cỏ rầu rầu, nghe tiếng con chim lạc đàn
kêu giữa bãi trường xa, thì thê thảm biết chừng nào! Mình ngồi
trong xe chạy vùn vụt, mà trông cảnh ấy trong lòng còn lạnh lẽo
thay, huống chi là những khách đường xa, người lữ thứ đi đến đấy,
tấm lữ hoài ngao ngán biết là bao!
Miền hải tần đó không phải là cái đất người ở được. Núi tuy có cây
mà là những cây cằn cọc, không phải là cái lợi nguyên cho cư dân.
Đất trộn lẫn với cát, không phải là cái chất nuôi được giống sinh vật.
Trông cây cỏ mọc đấy mà thương thay; có lắm giống giá vào chỗ
đất tốt sức nhớn được bằng cây đa cây đề, mà ở đây không sao lên
được hơn ba bốn mươi phân tây. Thực là cái cảnh sơn cùng địa
tịch vậy.
Nếu suốt đường cứ một cái cảnh tiêu điều như thế thì mắt cũng
phải chán mà lòng cũng phải ngán. Nhưng ước nửa đường thì đến
rặng Đèo Ngang. Phong cảnh ở đây mới thực là ngoạn mục, chẳng
khác gì một bức tranh sơn thủy vậy. Núi Đèo Ngang tức tên chữ là
Hoành Sơn. Ta thường dùng nhầm chữ Hoành Sơn mà dịch tên tây
Chalne Annamitique là gồm cả cái rẫy núi dài chạy dọc suốt đất
Trung kỳ, theo lưu vực sông Cửu Long, trên liền tiếp với các núi
miền Thượng du Bắc kỳ, dưới đến tận đồng bằng Lục tỉnh. Thực
Hoành Sơn chỉ là một chi núi của rẫy núi nhớn ấy, chạy thẳng ra bờ
bể, chắn ngang đường Thiên Lý tự Bắc vào Kinh, nên gọi là Đèo
Ngang, Bài thơ bà huyện Thanh Quan:
Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà... tức là vịnh núi ấy. Ngày xưa
khách bộ hành đi đến đấy tất phải trèo đèo, trèo ngược lên, rồi lại
trèo dốc xuống, lấy làm một bước đường rất gian hiểm. Khi đêm
các vì sơn quân vẫn thường lẩn quất ở đấy. Ngày nay đã có con
đường chạy quanh núi như xoáy trôn ốc, xe hơi đi ước mất hơn
nửa giờ, đến lưng chừng núi trông xuống không cảnh gì xinh bằng.
Thực là:
Dừng chân đứng lại giời, non, nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Cảnh vui này mới bõ cảnh buồn lúc nãy. Trên núi thì cỏ cây chen đá
lá chen hoa, dưới đồng thì ruộng lúa xanh rì dòng nước cuốn, ngoài
bể thì giời nước mênh mông sắc một mầu. Đến cửa “Hoành sơn
quan” xe đỗ tôi trèo lên xem. Cửa nay đã mất cánh, rêu mọc cỏ che.
Cạnh có cái bi đinh trong khắc bài bia ngự chế của Đức Thiệu Trị.
Trông cái cửa cỏn con ấy, không thấy gì là cái cảnh tượng một chốn
“hùng quan”! Đứng đấy mà lại sực nhớ đến hai câu thơ của bà
huyện:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia. Tuy bấy giờ không nghe tiếng
con quốc cái gia nào kêu, mà nỗi thương nước nhớ nhà như chan
chứa trong lòng.
Nghe nói gần đấy có cái đền thờ bà Liễu Hạnh linh lắm, nhưng
đường xuống dốc quá, không thể đi tới nơi.
Khi xuống xe thấy một ông lão già ngồi bên đường như người hành
khất, hình dáng tiều tuỵ, không nói không năng. Than ôi! Khoảng
vắng đường dài, trên rừng dưới bể, lão ở đâu đến, lão ngồi chi đây?
Hay là lão cực nỗi đời khốn khổ, đem thân tự hiến cho sơn quân?
Thương thay!
Lúc đã xuống đến chân núi ngửng trông lên thấy con đường mình
vừa đi như một dải lụa vòng quanh núi, khác nào như cái dây trắng
buộc quả bầu xanh vậy.
Hết rặng Đèo Ngang lại đến cái cảnh đất cát câycằn như trước. Đi
một ít lâu nữa thì tới một nơi có tiếng dữ ngày xưa, tức là nơi truông
nhà Hồ, thuộc tỉnh Quảnh Bình, làng Hồ Xá. Truông là một khoảng
đất cây cỏ rậm rạp, không có đường đi lối lại. Ngày nay thì không
có cái cảnh tượng như thế nữa, cây cỏ ở đấy cũng cằn cọc như ở
trên kia, nhưng xưa thực là một nơi sào huyệt của bọn cướp
đường, khách bộ hành lấy làm nguy hiểm hơn cả, nên đi qua đấy
phải đông người mới dám đi. Những buổi nhiễu nhũng khách đi qua
thường bị bọn cướp bắt đem vào trong xa bóc lột, quân quan không
biết đường nào mà tìm bắt, vì cây cỏ rậm quá. Thuộc về lịch sử nơi
truông nhà Hồ ấy, ở đường trong có tương truyền truyện như sau
này. Ông Nguyễn Khoa Đăng làm chức nội tán cho chúa Minh
vương (1691 - 1725) nghe nói nơi truông nhà Hồ có nhiều giặc
cướp, hay bóc lột khách đi đường, bèn lập kếtrị cho yên. Ông cho
tải đến nơi ấy ước hai mươi cái hòm to đóng kín, trong phục người,
để giả làm một bọn nhà buôn chở đồ hàng đi qua. Đám cướp vẫn
rình ở đấy trông thấy bọn khách đông, lại nhiều đồ hàng, tưởng là
một dịp béo bở lắm, xông vào đánh cướp, rồi đem đến nơi bụi rậm
chia nhau. Trong hai mươi cái hòm ấy một cái có khoan lỗ thủng,
người nằm trong ấy đi đến đâu rắc giấy đến đấy, để cho quân lính
theo sau biết đường mà tìm vào. Đương khi bọn cướp họp lại đông
đủ cả để bàn nhau chia của thì người trong hòm đâm xổ ra, quân ở
ngoài kéo ùa vào, vây bốn bề, bắt được cả bọn, không thiếu đứa
nào. Từ đấy cả miền đó được yên. Sau ông truyền cho người bộ
hành nào đi qua đấy cũng phải cắt những cây mọc bên đường. Hai
đầu đường đã để dao sẵn cho mà dùng. Cứ thế mãi, không bao lâu
mà con đường thành ra quang đãng, người đi lại giao thông như
thường; từ đấy không có tiếng giặc cướp gì nữa. - Lại gần Kinh,
giáp bể, ở nơi tên là Bàu Ngược, thuộc huyện Quảng Điền, có một
cái đầm nước gọi là phá Tam Giang, cũng có tiếng dữ lắm. Nay xe
hơi không đi gần đến đấy, nhưng xưa hành khách về Kinh tất phải
chở thuyền qua đấy.
Nhất là về mùa thu mùa đông, sóng gió nhiều, thuyền thường đắm
luôn, rất là nguy hiểm, vì chỗ ấy nước vừa sâu mà đường đi lại
quanh co khúc khuỷu. Tục truyền là đấy có ba cái Sóng thần dữlắm.
Ông Nguyễn Khoa Đăng muốn trị cho được, bèn truyền đóng một
chiếc thuyền rất vững vàng, đặt chiếc súng thần công ở trong. Ra
đến giữa phá ông nổ hai phát súng bắn tan được hai cái Sóngthần,
còn cái thứ ba thì chạy ra bể mất. Đêm hôm ấy ông cho đào liền
một con sông thẳng đấy; từ đó thuyền bé không hay đắm nữa.
Nhân hai việc tục truyền đó mà có câu hát như sau này:
- Thương anh em cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ sợ Phá Tam Giang
- Phá Tam Giang nay rày đã cạn,
Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm(1)
Xe hơi đi đến Đông Hà thì thôi. Đấy là đầu đường xe hỏa Quảng
Trị. Có một nhà ga nhỏ với năm ba cái hàng quán con ở giữa
khoảng đồng không mông quạnh. Xe hơi tới nơi, đợi ít lâu thì có
chuyến xe hỏa về Huế. Hai bên đường cũng vẫn nhiều đất rậm bỏ
hoang, chưa ra cái cảnh tượng trù mật. Xe hỏa chạy gần tỉnh
Quảng Trị, nhưng không đi qua.
Vào đến địa phận Thừa Thiên thì phong cảnh thấy khác ngay. Làng
xóm đông đúc, ruộng lúa xanh rì, không phải đất bỏ hoang như trên
kia nữa. Dẫu không biết rằng đã sắp đến Huế, cũng đoán được
rằng sắp tới một nơi đô hội nhớn. Quả nhiên ước một giờ đồng hồ
thì xe hỏa tới Kinh đô: Bây giờ vừa đúng 12 giờ trưa...
Kể chi những nỗi dọc đường... tới đây mới nhớ đến câu thơ ấy
trong truyện Kiều, thì ra từ trên toàn thị là những nỗi dọc đường cả,
mà chính chuyện trong “mười ngày ở Huế” chưa từng kể đến. Ôi!
Cổ nhân có tính hay thơ, mà tôi đây thực là thơ thẩn vậy. Thơ thẩn
thẩn thơ, giời đã bẩm sinh cho cái tính luyến cảnh luyến người, bình
sinh đã từng biết người nào cảnh nào, những khi hồi tưởng đến
không thể dứt cho đành. Thôi thì:
Dở hay cũng bởi tính giời biết sao? tưởng các bạn đọc báo cũng
lượng cho vậy.
Từ đây xin thuật chuyện Trường An.
1 Họ Nguyễn Khoa là một vọng tộc ở tỉnh Thừa Thiên, khi ở Huế tôi
có được tiếp truyện một ông Nguyễn Khoa, sau này sẽ kể qua cái
lịch sử họ ấy, theo một bài khảo cứu trong sách Biên tập của hội
“Đô thành hiếu cổ xả”.
Phạm Quỳnh
Mười ngày ở Huế
Phần II
Cổ ngữ Âu châu có câu: “Trăm con đường đều quay đầu về thành
La Mã”. Có ý nói thành La Mã là nơi trung tâm của lịch sử Âu châu
đời xưa, đâu đâu cũng qui phục về đấy, muôn sự đều do đấy mà ra.
Cái ánh sáng của văn minh nước La Mã nhóm lên từ đấy mà chiếu
khắp thế giới, cái oai quyền của quân đội nước La Mã dấy lên từ
đấy mà trấn áp hoàn cầu; cái then máy của cuộc thống nhất nước
La Mã cũng do tự đấy mà vận động ra suốt cõiÂu Châu. Từ xưa
đến nay phàm nước nào đã có một cuộc lịch sử lâu dài đều có một
nơi trung tâm như thế: nước nào cũng có một thành La Mã vậy.
Thành La Mã của Việt Nam ta là ở đâu? Tức là nơi Đế đô bây giờ,
đất Thuận Hóa khi xưa, kinh thành Huế ngày nay vậy.
Lấy lịch sử mà xét, lấy địa thế mà chứng, lấy cái tình thế chính trị
ngày nay mà chiêm nghiệm, lấy lòng khuynh hướng quốc dân sau
này mà dự đoán, thành Huế thực là chốn căn cứ, nơi yếu điểm của
giống Việt Nam, xưa đã nhờ đấy mà gây dựng nên bờ cõi, nay lại
nhân đấy mà nói lên cái tư cách mộtdân quốc hoàn toàn. Ôi! Phàm
đã gọi là một dân quốc không thể giây phút thiếu cái tư tưởng, cái
tinh thần một dân quốc. Tư tưởng ấy, tinh thần ấy gọi một tên tức là
cái quốc hồn vậy. Quốc hồn của Việt Nam ta ngày nay phải tìm ở
đâu cho thấy? Thiết tưởng phi ở Huế không đâu thấy vậy.
Ấy trước khi bước chân xuống đất Huế, cái tư tưởng tôi triền miên
như vậy. Tôi chưa biết Huế tôi đã yêu Huế rồi, yêu vì cái nghĩa cao
thượng nó ngụ ở trong cái tên ấy, yêu vì cái cảm tình vô hạn nó
chan chứa trong lòng tôi. Bình sinh tôi học vấn được đến đâu, cảm
giác được đến đâu, tư tưởng được đến đâu, hy vọng được đến đâu,
bấy giờ tựa hồ như con sông vỡ đê mà tràn ngập cả trong tâm giới
tôi vậy.
Đương mộng tưởng mơ màng thì xe hỏa dừng trước nhà ga Huế.
Sực tỉnh trong bụng nửa mừng mà nửa lo. Mừng rằng nay đã tới nơi
rồi, lo rằng không biết sự thực có xứng với cái mộng không, hay là
quen thói thường chỉ đủ khiến cho mình thất vọng...
Thường câu đọc trong sách Đại Nam nhất thống chí, thiên Kinh sư,
có tả địa thế cùng lược lịch sử nơi kinh thành Huế như sau này:
“Chốn Kinh sư gồm cả núi bể trong nước mà ở vào giữa khoảng
Bắc Nam, khí hậu hòa bình, sơn thủy kỳ tú. Đường bể thì có cửa
Thuận An, cửa Tư Hiền làm hiểm, đường lục thì có ải Quảng Bình,
ải Hải Vân làm trở. Sông nhớn bao mặt trước, núi cao chắn mặt
sau. Ba nguồn Bồ Trạch bọc bên tả bên hữu. Đầm Tam Giang, đầm
Thanh Lam, đầm Hà Trung làm then làm chốt. Thực là một nơi hổ
chồm rồng cuốn, địa thắng hình cường; đất hiểm yếu của giời đất,
làm thượng đô cho đế vương. Kể từ khi nước Nam dựng nước,
thuộc về nhà Trần là đất Thuận Hóa, thuộc về nhà Lê là Thuận Hóa
thừa tuyên, đều xưng là nơi trọng trấn. Về Bản Triều, đức Thái tổ
Gia Dũ Hoàng đế chịu mệnh Giời mở nền nước ở cõi Nam, trước
đóng ở Ái Tử, sau đi ra Trà Bát (tên làng thuộc tỉnh Quảng Trị,
huyện Đăng Xương, lại đi ra phía đông Ái Tử nữa ở nơi gọi là Cát
Doanh). Đức Hi tôn Hiếu Văn Hoàng đế lại tự Cát Doanh đi ra Phúc
An (tên làng, thuộc huyệnQuảng Điền). Đức Thần Tôn Hiếu Chiêu
Hoàng đế lấy nơi Kim Long là đất có hình thế, đổi ra đóng đấy. Đức
Anh tôn Hiếu Nghĩa Hoàng đế lại dịch ra Phú Xuân (Kim Long Phú
Xuân đều là tên làng). Đức Thế tôn Hiếu Võ Hoàng đế chia đất
trong cõi làm 12 doanh. Ở Phú Xuân thì gọi là Chính doanh,lại xưng
là Đô thành. Đều là đất Thuận Hóa vậy. Phía Bắc cưỡi lên sông
Gianh, phía Nam gồm đất Chân Lạp, Liệt Thánh tương truyền hơn
hai trăm năm. Năm Giáp Ngọ đời đức Duệ tôn Hiếu Định Hoàng đế,
quân Trịnh đến chiếm. Sau bị giạc Tây Sơn trộm giữ trong ba mươi
năm. Kịp đến đức Thế tổ Cao Hoàng đế ta dấy lên như rồng như
mây, thay Giời dẹp giặc, mùa thu năm Mậu Tuất thu phục thành Gia
Định, mùa hạ năm Tân Dậu khắc phục chốn cựu kinh, mùa hạ năm
Nhâm Tuất bắt tướng giặc ở cõi Bắc; từ đó gồm An Nam nhất thống
dư đồ, bờ cõi mênh mông, nam tới Tiêm La Chân Lạp, bắc giáp
nước Tàu, đông đến bể, tây đến Ai Lao. Giở về đất cũ, mở rộng
thêm ra, định đô ở Phú Xuân, từ đấy mới xưng là Kinh sư vậy. Đặt
phép tắc, định triều cống, như cái nóc nhà cao hơn cả, bốn bề đều
quay về đấy, như ngôi sao Bắc đẩu tôn hơn cả, trăm sao đều chầu
chung quanh. Cái nền vững vàng thịnh vượng của nước nhà trong
ức vạn năm thực là ở đấy vậy. Rực rỡ thay! Vẻ vang thay!"
Lấy cái cảm giác nhà ái quốc mà đọc những nhời đó, trong lòng
hứng khởi biết chừng nào! Người vô tình cho là nhời văn chương
hư sức, mà người có cảm với nước nhà qua câu văn hình như
trông thấy cái hồn trong nước sinh trưởng ở vùng Thuận Hóa Phú
Xuân nơi đất cũ vậy.
Tôi vốn không tin cái thuật địa lý của bọn thầy vườn lấy đống đất
giữa đồng, ngòi nước bên ruộng làm ngai rồng tay hổ. Nhưng tôi tin
những nơi sơn thủy kỳ tú có ảnh hưởng đến vận mệnh một nước.
Người ta đối với cái ngoại cảnh không phải là không có quan hệ.
Người đồng bằng biệt ra tính cách đất đồng bằng, người rừng núi
biệt ra tính cách nơi rừng núi; thói ăn cách ở, đường sinh kế, lối tư
tưởng, không gì là không tùy theo cái ngoại cảnh mà khác nhau.
Huống chi là những bậc đế vương mở đất dựng nước, những nơi
sông núi xinh đẹp lại không có quan hệ với cái lòng hoài bão nhớn
nhaohay sao? Liệt Thánh bản triều ta đặt nền Đại Việt ở đất Phú
Xuân thực đã dự tưởng mà biết cái cơ đồ vĩ đại về sau vậy.
Người khách mới đến thành Huế tưởng như bước chân vào bức
tranh cảnh: chung quanh núi, giữa con sông, nhà cửa tụ họp hai
bên bờ, trên bến dưới thuyền, trông xa một tòa thành cổ bao la,
thâm nghiêm kín cổng. Cái phong cảnh Huế sở dĩ đẹp là thứ nhất
bởi con sông Hương Giang. Con sông xinh thay! Hà Nội cũng có
sông Nhị Hà, mà sông Nhị với sông Hương khác nhau biết chừng
nào! Một đằng ví như cô con gái tươi cười, một đằng ví như bà lão
già cay nghiệt. Nhị Hà là cái thiên tai của xứ Bắc, Hương Giang là
cái châu báu của xứ Kinh. Nước trong như vắt, dòng phẳng như tờ,
ít khi có tị sóng gợn trên mặt, đi thuyền trên sông như đi trong hồ
vậy. Huế không có con sông Hương thì tưởng cái đẹp của xứ Huế
giảm mất nửa phần. Nhưng đã có sông Hương lại có núi Ngự nữa,
cái cảnh mới thực là toàn xinh. Ngự Bình không phải là một núi cao
như núi Phú Sĩ nước Nhật, Hương Giang không phải là một sông
rộng như sông Hoàng Hà nước Tàu, nên nói rằng sông ấy núi ấy
làm hiểm trở cho chốn Đế kinh thì cũng là nói quá, nhưng sông ấy
núi ấy thực là vẽ nên phong cảnh xứ Huế vậy. Vả cái khí vị của
phong cảnh Huế không phải là cái khí vị hùng tráng, mà là cái khí vị
mĩ diệu; cảnh Huế xinh mà đẹp, không phải là hùng mà cường,
đáng yêu mà không phải là đáng sợ, có thi vị mà không phải là có
khí tượng. Phải nhận kỹ như thế thì mới khỏi nhầm mà hiểu được
tinh thần của cái bức sơn thủy hiển nhiên ấy.
Khi mới bước chân vào một xứ lạ, cái gì nó cảm mình trước nhất là
cái cảnh ngoài. Có cái cảnh ưa người, như tươi cười mà đón
khách, có cái cảnh ghét người như hẩm hiu mà mới gượng, lại có
lắm cái cảnh vô tình, mình hỏi không thèm đáp, phần đó là phần
nhiều. Cảnh Huế là một cảnh rất ưa người, ngoài mặt mới tiếp xúc
trong lòng đã sinh cảm tình. Hay là lòng tôi đã nhiệt thành sẵn mà
dễ cảm như thế? Cũng có nhẽ, nhưng bởi cái tinh thần riêng của
phong cảnh cũng nhiều.
Nay đã có cảm tình với cảnh Huế, phải gây lấy mối cảm tình với
người Huế nữa. Đó là cái công việc tôi trong mấy ngày về sau này.
Cái mục đích cuộc du Kinh của tôi là chủ xem tế Nam Giao. Vậy
trước nhất hẵng xin thuật chuyện Giao.
Tế Giao đính nhật đêm ngày 12 rạng 13 tháng 2 an nam (tức là 2425 tháng 3 tây). Tôi tới Kinh từ ngày mồng 9, có ý sớm mấy bữa để
xem cái cảnh tượng trong phố phường cùng cách trần thiết ở Giao
Đàn. Mấy ngày ấy thành Huế tấp nập những kẻ đi người lại. Hai
bên đường Hoàng Thượng sắp ngự qua từ Nội thành đến Giao Đàn
đương làm rạp đặt hương án. Những hương án đó là do các thôn
xã mấy huyện ở gần Kinh đô, mỗi làng phải đặt một sở, nghe nói cả
thảy mấy trăm sở. Nhất là con đường thẳng lên Nam Giao hai ngày
10-11 đi dạo chơi không cảnh gì vui mắt bằng: cờ xanh, cờ đỏ, cờ
đuôi nheo, cờ ngũ hành, các hạng cờ cắm san sát hai bên đường,
gió thổi bay cả về một hướng, xa trông phấp phới, tưởng tượng
như con hoàng long ở dưới đất nổi lên mà mỗi lá cờ là một cái vẩy
đương rung động vậy! Hương án liên tiếp nhau, cách vài thước lại
một cái, không có khoảng nào bỏ không. Mỗi sở có mấy viên ký-mục
ngồi túc trực. Sau lưng những hàng quán dựng lên nhan nhản.
Giữa đường kẻ đi người lại như nước chảy, nào là người phục dịch
về Giao Đàn, về các hương án, nào là dân các nơi lại xem, đàn bà
con trẻ cũng nhiều. Tôi có ý nhận những đám đông người ở đây rất
nghiêm, không những như ngoài Bắc. Lính cảnh sát có ít mà trên
đường vẫn có trật tự, không hề thấy đám đánh nhau chửi nhau, ồn
ào rộn rịp, thứ nhất là không có cái tiếng rất khả ố là tiếng cập kè
của bọn sẩm chợ, như những khi hội hè ở ngoài ta.
Cái vui của người dân ...
Phạm Quỳnh
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di
động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Mục lục
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Phần I
Phần II
Phần III
Phần IV
Phạm Quỳnh
Mười ngày ở Huế
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Khi nói đến những thành tựu rực rỡ của văn học hiện đại Việt Nam,
đặc biệt là thời kỳ 1930-1945 và tiếp tục về sau này của nền văn
học cách mạng, không thể không nói đến một tiền đề hết sức quan
trọng, một công cụ cơ bản nhất để tạo nên tác phẩm văn học, đó là
ngôn ngữ, là tiếng Việt La tinh hóa, tức chữ quốc ngữ như ta thường
gọi lâu nay. Việc dùng mẫu tự La tinh để ghi âm tiếng Việt (La tinh
hóa tiếng Việt) đã được các nhà truyền giáo Phương Tây thực hiện
từ các thế kỷ trước. Đặc biệt phải kể đến công lao của Alếchxăng
đờ Rốt đã tiếp tục công việc của các nhà truyền đạo trước đó, biên
soạn được cuốn từ điển đầu tiên Dictionnatium anamitium lusitanun
et latinum1(1)
Nhưng chữ quốc ngữ từ lĩnh vực giao tiếp truyền đạo, lĩnh vực
hành chính của chính quyền thuộc địa đến tiếng Việt như là ngôn
ngữ chính thức của đời sống xã hội, của báo chí truyền thông, của
văn học nghệ thuật là cả một thời gian dài để làm quen, rèn rũa,
trau chuốt cho đến thuần thục. Thời gian chuẩn bị đó khá dài,
khoảng trên ba thế kỷ (từ thế kỷ 16 cho đến tận gần giữa thế kỷ 20
(thời kỳ 1930 - 1945). Và, những báo, tạp chí, những công báo... ở
thời kỳ này, dù theo các xu hướng chính trị xã hội khác nhau, đều
có tác dụng khách quan thúc đẩy sự phát triển hoàn thiện của Tiếng
Việt La tinh hóa, của chữ quốc ngữ
. Trong số các báo, tạp chí như Đông Pháp, Trung Bắc tân văn, An
Nam tạp chí, Nam Phong tạp chí... thì tạp chí Nam Phong do Phạm
Quỳnh làm chủ bút (từ 1917 đến 1934) có những đóng góp cần
được nhìn nhận lại. Trong số các cây bút chính của Nam Phongnhư
Nguyễn Mạnh Bổng, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, hai cha con
Nguyễn Bá Học, Nguyễn Bá Trạc, Phạm Duy Tốn... thì cây bút chủ
báo Phạm Quỳnh là nổi bật nhất. Thượng Chi đã viết thường xuyên
về nhiều thể loại trên báo này: dịch thuật, thông tin, bình luận, khảo
cứu... Các bút ký Trẩy hội Chùa Hương, Mười ngày ở Huế, Một
tháng ở Nam Kỳ có thể gọi là bút ký du lịch, khi Phạm Quỳnh mới ra
làm báo Nam Phong, đầy hăm hở của một người ham hiểu biết, yêu
mến thiên nhiên, tìm hiểu các di sản văn hóa, các phong tục tập
quán. Trong bút ký Trẩy hội Chùa Hương, tác giả rất bài bác tệ mê
tín buôn thần bán thánh nhưng lại tỏ ra thích thú khi thưởng ngoạn
cảnh đẹp thiên nhiên và tìm thấy ở Đạo Phật chân chính một nguồn
cứu rỗi tâm hồn. Trong Bút ký Mười ngày ở Huế, với một thời gian
ngắn ngủi, tác giả đã nêu được nhiều hình ảnh phản ánh tình hình
đời sống, dân tình thời ấy cùng vẻ đẹp kỳ ảo của cảnh núi non sông
nước, các công trình kiến trúc đặc sắc của cố đô Huế, gặp gỡ
những gia đình quí tộc có danh tiếng như nữ sĩ Đạm Phương (mẹ
đẻ nhà văn Hải Triều tức NguyễnKhoa Văn...). Đặc biệt trong thiên
bút ký này Phạm Quỳnh được tận mắt chứng kiến lễ tế Nam Giao.
Những ghi chép này rất có giá trị trong việc tìm hiểu phong tục cung
đình thời nhà Nguyễn. Ở Một tháng ở Nam Kỳ, tác giả đã nhận biết
sớm và rất đúng tính cách đời sống Nam Bộ, ghi lại được nhiều
điều về đời sống Nam Kỳ lục tỉnh lúc đó, về tình hình của các Hội
khuyến học và báo chí Nam Kỳ đương thời. Tóm lại, về mặt nội
dung, các bút ký du lịch của Phạm Quỳnh đã ghi lại được nhiều mặt
về thiên nhiên đất nước, phong tục tập quán và đời sống đương
thời, cách viết hấp dẫn, suy tư phong phú, gây được tình cảm tốt
cho người đọc về nghĩa vụ của người công dân đối với quốc gia,
với truyền thống văn hóa của tiền nhân.
Cần phải khẳng định những đóng góp của tác giả Phạm Quỳnh về
ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại (chữ quốc ngữ). Nếu chúng ta nhớ lại
khoảng những năm hai mươi, văn xuôi quốc ngữ chưa phải đã đạt
đến trình độ thuần thục. Thời ấy, một người được dư luận chú ý là
Hoàng Tích Chu đưa ra lối văn mới chống lại thứ văn biền ngẫu
truyền thống, tác giả này thường ký là Văn Tôi, và giới văn học
thường gọi là thứ văn cộc, đã được coi như một sự đổi mới mạnh
dạn (theo Vũ Ngọc Phan -Những năm tháng ấy, hồi ký, Nxb Văn
học, 1987) thì những bút ký du lịch của Phạm Quỳnh trong những
năm 1918-1919 đã tỏ ra là một giọng văn trôi chảy, uyển chuyển,
diễn đạt được nhiều nội dung phong phú.
Phạm Quỳnh hoạt động khá rộng trên các lĩnh vựcchính trị, văn
hóa, nghệ thuật. Ông chủ trương dựa vào người Pháp để dần dần
đòi lại quyền tự trị, (chủ trươngthuyết lập hiến, dựa vào hiệp ước
Ácmăng 1883 để đòi lại quyền tự trị) khác với Nguyễn Văn Vĩnh chủ
trương để cho người Pháp cai trị trực tiếp (thuyết trực trị). Phạm
Quỳnh tỏ ra thần phục văn hóa Pháp, nước Pháp cũng như chính
quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam, những quan hệ chính trị giữa
Phạm Quỳnh với chính quyền thực dân Pháp là đề tài thuộc lĩnh vực
chính trị - lịchsử. Ông đã, đang và sẽ còn được phân tích, đánh giá,
phê phán trên lĩnh vực này, nhưng về mặt văn hóa, văn học, về tiến
trình phát triển của văn xuôi quốc ngữ thìcông lao đóng góp của ông
cần được nhìn nhận lại. Điều đó đã được thể hiện phần nào trên các
công trình gần đây. Trong Từ điển Văn hóa Việt Nam (Nxb Văn hóa
- Thông tin. Hà Nội. 1993) đã ghi nhận điều đó và tác giả Phạm
Quỳnh đã được đưa vào chương trình giảng dạy ở nhà trường
(Sách giáo khoa Văn 12. Nxb Giáo dục. 199....). Vì vậy việc cho in
lại các bút ký du lịch của Phạm
Quỳnh chỉ là cụ thể hóa sự đánh giá lại tác giả này trên lĩnh vực văn
học - báo chí, với tư cách là mộttác giả văn học. Để giúp cho việc
nghiên cứu tiến trình văn xuôi quốc ngữ cũng như chữ quốc ngữ,
và ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại, chúng tôi giữ nguyên trạng hình
thức văn phong của tác giả, chỉ lược bỏ những chi tiết xét không
cần gợi lại.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc và rất mong nhận được sự
phê bình góp ý của các nhà nghiên cứu và đông đảo bạn đọc.
Hà Nội tháng 6-1994 Nhà Xuất bản Văn học
1 Tự điển Annam - Bồ Đào Nha và La Tinh. Rôme. 1651.
Phạm Quỳnh
Mười ngày ở Huế
Phần I
Nhân dịp tế Nam Giao tôi có về chơi Huế, thật là phỉ cái lòng mong
mỏi đã lâu nay. Sinh trưởng ở một nơi đô hội mới, không còn tí gì là
cái dấu vết cựu thời, mối hoài cổ vẫn thường canh cánh trong lòng.
Quan niệm về lịch sử nước nhà, trông quanh mình không có cái
cảnh tượng gì đủ nhắc lại những sự nghiệp nhớn nhao của đời
trước, tình ái quốc vẫn thường ngang ngang trong dạ. Nên vẫn ước
ao được về nơi Đế Đô để chiêm ngưỡng cái hình ảnh của Tổ quốc.
Nay sự hi vọng đã thành, mắt đã được trông, tai đã được nghe, tinh
thần đã cảm cái hồn xưa của loài giống, thân thể đã gội cái khí
thiêng của núi sông, muốn đem những sự kiến văn, sự cảm giác,
sự tư tưởng trong mười ngày ở chốn Trường An thuật lại cho các
bạn đọc báo nghe, tưởng cũng giúp được một phần cho cái quan
niệm của quốc dân đối với Tổ quốc vậy.
Xưa chẩy Kinh mất hai mươi ngày, nay nhờ có xe hỏa xe hơi đi
đường bộ chỉ vừa đầy hai ngày tròn. Bắt đầu đi từ Hà Nội ngày 19
tháng 3 tây, ngày 21 tới Huế, ở Huế 12 ngày, ngày 2 tháng 4 bắt
đầu về, chiều ngày 3 tới Hà Nội, vừa đi vừa ở vừa về cả thảy 16
ngày. Đi qua mười tỉnh: Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình,
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa
Thiên; trải nhiều cảnh khác nhau: khi ruộng lúa, khi đồng cỏ, khi non
thấp, khi núi cao, khi sa mạc, khi cao nguyên, khi qua sông, khi men
bể; giải Hồng Lĩnh, núi Hoành Sơn, bến sông Gianh, truông nhà Hồ,
những nơi có tiếng to tiếng dữ ngày xưa lần lượt trình bầy ra trước
mắt, chỉ khác cổ nhân là thân không phải chịu khó nhọc mà trong
khoảng hai ngày thu được một mảnh giang sơn của cố quốc. Ở vào
thời đại khai thông cũng có nhiều điều tiện lợi, nhưng có nhẽ kém
cái thú riêng của các cụ ngày xưa, thong dong bầu rượu túi thơ, đi
đến đâu đề vịnh đến đấy, chẳng quản ngày qua tháng lại, cái thân
nhàn không hệ lụy với thời gian! Ngày nay thời giờ đã coi là vật rất
quí ở đời, người đời đối với ngày giời đã sinh lòng bủn sỉn, thì cái
hồn thơ lấy đâu mà lai láng được như xưa! Cho nên điện khí, hơi
nước, xe hỏa, xe hơi, không phải là những “thi khố” thiên nhiên của
giời đất.
Sáu giờ sáng ngày 19 lên xe hỏa về Vinh, năm giờ chiều tới nơi. Từ
Hà Nội đến Ninh Bình là phong cảnh đất đồng bằng, đất bằng giời
phẳng, bát ngát mênh mông, người đứng giữa như giam mình trong
cái ngục nhớn. Ai sinh trưởng ở chốn đồng bằng xứ Bắc, từ thủa
nhỏ đầy mắt chỉ là cái cảnh giời biếc ruộng xanh, song song bất
tuyệt, mới biết cái khổ lạ như cái khổ kẻ tù nhân, khao khát những
cảnh núi non cao thẳm, gò đống khi khu. Theo sách địa lý thì những
bậc anh tài hùng kiệt thường sinh ra ở gần nơi cao phong tuấn lĩnh:
mắt nhìn những cảnh tượng nhớn nhao, lòng tất rộng rãi mà trí tất
cao sâu. Sách tây cũng thường nói người Ấn Độ đời xưa sở dĩ
sáng lập ra được những tôn giáo triết lý cao thâm như đạo Thích ca,
đạo Phệ đà, cũng là bởi sinh trưởng ở dưới núi Tuyết Sơn, tinh thần
thường theo ngọn núi cao mà bay bổng lên chốn không gian vô
cực. Như thế thì xứ đồng bằng hiếm người anh tuấn cũng là phải:
người đồng bằng cái trí không lên khỏi ngọn cây tre! - Từ Ninh Bình
giở vào mới thấy nhiều núi non, trước còn thấp, rồi cao dần mãi lên.
Núi thường đột khởi ở giữa cánh đồng, đá trắng mọc rêu xanh, đen
đen đốm đốm, trông xa như những mảnh thành bị tàn phá đã lâu
ngày, hay là những bức tường đổ nát của cái lâu đài khổng lồ từ
thời thượng cổ. Trông những núi đó không khiếp sợ mà chạnh
thương, vì nó trơ vơ xơ xác giữa đồng, có cái hình dạng tiêu điều
như người đau đớn trong lòng: mộc thạch cũng có linh hồn chớ
chẳng không! Nhưng từ vùng Thanh Nghệ giở vào thì núi đã thấy
liên tiếp nhau mà thành từng rặng dài, đá thường lẫn đất, cỏ cây
rậm rạp, không xơ xác như những núi trên kia. Hình tròn sắc mượt,
như một đàn voi cực lớn theo nhau tự trong rừng Vạn Tượng ra
đến bờ bể Đông. “Hồng Lĩnh cửu thập cửu phong” là bắt đầu từ
đấy. Xe lửa chạy nhanh, không thể đếm được có đủ chín mươi chín
ngọn không. Nhưng túng sử đếm được mà cái số hoặc nhiều hơn
hay ít kém thì có hề chi; cái tên của cổ nhân đặt vẫn là có ý vị, dẫu
không đúng cũng chẳng giảm đi chút nào. Ôi! Cái hồn thơ của cha
ông!...
Đêm hôm ấy ngủ tại Vinh, sáng hôm sau lên xe hơi đi về Đông Hà.
Xe hơi có thể đi từ Vinh về Đông Hà trong 12 giờ, nhưng xe hỏa tự
Đông Hà về Huế chỉ có một chuyến chạy chín giờ sáng, vả Đông Hà
là một nhà ga cùng tịch ở đêm không tiện, nên ước năm sáu giờ
chiều tới Đồng Hới là tỉnh lỵ tỉnh Quảng Bình ngủ đêm đấy, sáng
hôm sau đi nốt Đồng Hới về Đông Hà, vừa gặp chuyến xe lửa về
Huế, đúng 12 giờ trưa thì tới Kinh đô. Nếu sở xe hỏa chịu đặt một
chuyến bảy tám giờ tối thì hành khách khỏi phải ngủ đêm ở Đồng
Hới, khỏi phải mất nửa ngày hôm sau, mà ước nửa đêm ngày thứ
hai đã tới Kinh. Cứ xem khi ở Huế ra Hà Nội chỉ vừa đầy hai ngày
thì đủ biết: 6 giờ sáng lên xe hỏa tự Huế ra Đông Hà, 8 giờ đến
Đông Hà, 9 giờ lên xe hơi ra Vinh, 10 giờ tối tới Vinh, ngủ đêm ở
đấy, sáng sớm mai lên xe hỏa ra Hà Nội, 5 giờ chiều tới nơi. Người
yếu sức cũng hơi nhọc mệt một đôi chút, nhưng trông phong cảnh
hai bên đường đủ làm cho quên cái nỗi lưng mỏi chân chồn.
Từ Vinh giở vào đi xe hơi là theo con đường Thiên Lý cũ gần bờ bể.
Phải một quãng ở khỏi Nghệ đường mới đắp xấu quá, hôm đi lại
vừa gặp giời mưa to đêm hôm trước, đường sũng nước thành bùn
lầy, bánh xe bết xuống không đi được hành khách phải xuống để
cho phu đẩy mất năm sáu trăm thước tây. Chuyến ấy có bốn người
đi, hai vợ chồng ông quan ba với hai anh em nhà báo mình là ông
Chương Dân và tôi. Bốn người cùng lội bì bõm, nhìn nhau mà buồn
cười thay. Quan ba cùng phu nhân tính vui mà nhã nhặn, thực là
một đôi bạn đi đường quí hóa. Suốt một ngày chuyện trò ân cần vui
vẻ, cùng nhau bình phẩm cái bức tranh thiên nhiên đương bầy ra
trước mắt. Đến lắm chỗ phong cảnh núi non đẹp, phu nhân nói nhớ
đến những cảnh quê hương bên mẫu quốc. Chẳng hay phu nhân
có biết hai người Việt Nam ngồi đấy trông cảnh ấy trong lòng cũng
đương vẩn vương về tổ quốc không?... Quan ba người đẫy đà, ngồi
trong xe khí chật, tủm tỉm cười mà nói: “Tôi to nhớn quá, ngồi chật
mất cả chỗ, không được thanh tú như các ông là những bậc văn
nhân...” Than ôi! Câu đó cũng là một câu nói nhã mà khiến cho
chúng tôi luống những rầu lòng. Trông người mạnh mẽ ta yếu ớt mà
buồn thay cho tư cách văn nhân của giống mình. Ngoài những khi
ngồi xe như lúc này, cái tư cách ấy há đáng người ta thèm lắm ru?
Ngay khi lóng cóng lội bùn vừa rồi cũng đủ biết cái tư cách văn
nhân không đủ ra đối đãi với đời. Ngán thay!
Xe hơi đi phăng phăng như nuốt đường, gió lộng tứ phía như đập
vào mặt đập vào tai mà thành một thứ âm nhạc riêng lẫn với tiếng
phành phạch của cái máy động cơ trong xe. Người nhà quê trong
Trung Kỳ này vụng tránh xe lắm. Nghe hiệu còi không biết đứng
nép ngay vào bên đường mình đương đi, lại hình như cuồng cẳng
lên mà đâm quàng sang bên kia, hoặc cứ chạy mãi cho đến chỗ
nào có cái cửa hay cái ngõ ngang mới rẽ vào, rồi cắp nón quay lại
nhìn, mặt ngơ ngác! Thường xe hại người cũng vì thế. Nhưng mà
nghĩ cho kỹ chẳng nên trách chi người nhà quê. Phàm cái gì có
hiểu, có giải được cái lý do nó thế nào thì làm mới phải đường;
người nhà quê trông cái xe hơi chạy vùn vụt, tưởng là có cái ma lực
gì nó đưa đi như mây như gió, lại không hiểu những người ngồi
trong xe ấy có công việc gì mà đến nỗi chạy bạt hơi bay tóc như lũ
cuồng như vậy, nên trông thấy cái xe đi đến kinh ngạc khiếp sợ, bối
rối lên mà không biết tới lui thế nào.
Hai bên đường xe chạy, phong cảnh có cái vẻ buồn rầu lặng lẽ:
toàn thị là một rải đất hoang, xa xa mới có một thôn lạc năm ba nóc
nhà lơ thơ; ngoài là bãi cát trắng xóa, trong là rẫy núi xanh om. Cái
xe bon bon chạy giữa tưởng như con thú rừng lạc vào trong sa
mạc; kinh hoảng mà chạy cuồng. Ngoài xa nữa là bể khơi một mầu
xanh ngắt, sóng rạt gần bờ trông như một rải bạc trắng xóa. Phong
cảnh ấy tưởng những lúc bão bể mưa ngàn, tiếng sấm trên núi họa
với tiếng sóng ngoài khơi, thì kinh hãi biết chừng nào! Hoặc buổi
chiều mặt giời đã xế, cây cỏ rầu rầu, nghe tiếng con chim lạc đàn
kêu giữa bãi trường xa, thì thê thảm biết chừng nào! Mình ngồi
trong xe chạy vùn vụt, mà trông cảnh ấy trong lòng còn lạnh lẽo
thay, huống chi là những khách đường xa, người lữ thứ đi đến đấy,
tấm lữ hoài ngao ngán biết là bao!
Miền hải tần đó không phải là cái đất người ở được. Núi tuy có cây
mà là những cây cằn cọc, không phải là cái lợi nguyên cho cư dân.
Đất trộn lẫn với cát, không phải là cái chất nuôi được giống sinh vật.
Trông cây cỏ mọc đấy mà thương thay; có lắm giống giá vào chỗ
đất tốt sức nhớn được bằng cây đa cây đề, mà ở đây không sao lên
được hơn ba bốn mươi phân tây. Thực là cái cảnh sơn cùng địa
tịch vậy.
Nếu suốt đường cứ một cái cảnh tiêu điều như thế thì mắt cũng
phải chán mà lòng cũng phải ngán. Nhưng ước nửa đường thì đến
rặng Đèo Ngang. Phong cảnh ở đây mới thực là ngoạn mục, chẳng
khác gì một bức tranh sơn thủy vậy. Núi Đèo Ngang tức tên chữ là
Hoành Sơn. Ta thường dùng nhầm chữ Hoành Sơn mà dịch tên tây
Chalne Annamitique là gồm cả cái rẫy núi dài chạy dọc suốt đất
Trung kỳ, theo lưu vực sông Cửu Long, trên liền tiếp với các núi
miền Thượng du Bắc kỳ, dưới đến tận đồng bằng Lục tỉnh. Thực
Hoành Sơn chỉ là một chi núi của rẫy núi nhớn ấy, chạy thẳng ra bờ
bể, chắn ngang đường Thiên Lý tự Bắc vào Kinh, nên gọi là Đèo
Ngang, Bài thơ bà huyện Thanh Quan:
Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà... tức là vịnh núi ấy. Ngày xưa
khách bộ hành đi đến đấy tất phải trèo đèo, trèo ngược lên, rồi lại
trèo dốc xuống, lấy làm một bước đường rất gian hiểm. Khi đêm
các vì sơn quân vẫn thường lẩn quất ở đấy. Ngày nay đã có con
đường chạy quanh núi như xoáy trôn ốc, xe hơi đi ước mất hơn
nửa giờ, đến lưng chừng núi trông xuống không cảnh gì xinh bằng.
Thực là:
Dừng chân đứng lại giời, non, nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Cảnh vui này mới bõ cảnh buồn lúc nãy. Trên núi thì cỏ cây chen đá
lá chen hoa, dưới đồng thì ruộng lúa xanh rì dòng nước cuốn, ngoài
bể thì giời nước mênh mông sắc một mầu. Đến cửa “Hoành sơn
quan” xe đỗ tôi trèo lên xem. Cửa nay đã mất cánh, rêu mọc cỏ che.
Cạnh có cái bi đinh trong khắc bài bia ngự chế của Đức Thiệu Trị.
Trông cái cửa cỏn con ấy, không thấy gì là cái cảnh tượng một chốn
“hùng quan”! Đứng đấy mà lại sực nhớ đến hai câu thơ của bà
huyện:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia. Tuy bấy giờ không nghe tiếng
con quốc cái gia nào kêu, mà nỗi thương nước nhớ nhà như chan
chứa trong lòng.
Nghe nói gần đấy có cái đền thờ bà Liễu Hạnh linh lắm, nhưng
đường xuống dốc quá, không thể đi tới nơi.
Khi xuống xe thấy một ông lão già ngồi bên đường như người hành
khất, hình dáng tiều tuỵ, không nói không năng. Than ôi! Khoảng
vắng đường dài, trên rừng dưới bể, lão ở đâu đến, lão ngồi chi đây?
Hay là lão cực nỗi đời khốn khổ, đem thân tự hiến cho sơn quân?
Thương thay!
Lúc đã xuống đến chân núi ngửng trông lên thấy con đường mình
vừa đi như một dải lụa vòng quanh núi, khác nào như cái dây trắng
buộc quả bầu xanh vậy.
Hết rặng Đèo Ngang lại đến cái cảnh đất cát câycằn như trước. Đi
một ít lâu nữa thì tới một nơi có tiếng dữ ngày xưa, tức là nơi truông
nhà Hồ, thuộc tỉnh Quảnh Bình, làng Hồ Xá. Truông là một khoảng
đất cây cỏ rậm rạp, không có đường đi lối lại. Ngày nay thì không
có cái cảnh tượng như thế nữa, cây cỏ ở đấy cũng cằn cọc như ở
trên kia, nhưng xưa thực là một nơi sào huyệt của bọn cướp
đường, khách bộ hành lấy làm nguy hiểm hơn cả, nên đi qua đấy
phải đông người mới dám đi. Những buổi nhiễu nhũng khách đi qua
thường bị bọn cướp bắt đem vào trong xa bóc lột, quân quan không
biết đường nào mà tìm bắt, vì cây cỏ rậm quá. Thuộc về lịch sử nơi
truông nhà Hồ ấy, ở đường trong có tương truyền truyện như sau
này. Ông Nguyễn Khoa Đăng làm chức nội tán cho chúa Minh
vương (1691 - 1725) nghe nói nơi truông nhà Hồ có nhiều giặc
cướp, hay bóc lột khách đi đường, bèn lập kếtrị cho yên. Ông cho
tải đến nơi ấy ước hai mươi cái hòm to đóng kín, trong phục người,
để giả làm một bọn nhà buôn chở đồ hàng đi qua. Đám cướp vẫn
rình ở đấy trông thấy bọn khách đông, lại nhiều đồ hàng, tưởng là
một dịp béo bở lắm, xông vào đánh cướp, rồi đem đến nơi bụi rậm
chia nhau. Trong hai mươi cái hòm ấy một cái có khoan lỗ thủng,
người nằm trong ấy đi đến đâu rắc giấy đến đấy, để cho quân lính
theo sau biết đường mà tìm vào. Đương khi bọn cướp họp lại đông
đủ cả để bàn nhau chia của thì người trong hòm đâm xổ ra, quân ở
ngoài kéo ùa vào, vây bốn bề, bắt được cả bọn, không thiếu đứa
nào. Từ đấy cả miền đó được yên. Sau ông truyền cho người bộ
hành nào đi qua đấy cũng phải cắt những cây mọc bên đường. Hai
đầu đường đã để dao sẵn cho mà dùng. Cứ thế mãi, không bao lâu
mà con đường thành ra quang đãng, người đi lại giao thông như
thường; từ đấy không có tiếng giặc cướp gì nữa. - Lại gần Kinh,
giáp bể, ở nơi tên là Bàu Ngược, thuộc huyện Quảng Điền, có một
cái đầm nước gọi là phá Tam Giang, cũng có tiếng dữ lắm. Nay xe
hơi không đi gần đến đấy, nhưng xưa hành khách về Kinh tất phải
chở thuyền qua đấy.
Nhất là về mùa thu mùa đông, sóng gió nhiều, thuyền thường đắm
luôn, rất là nguy hiểm, vì chỗ ấy nước vừa sâu mà đường đi lại
quanh co khúc khuỷu. Tục truyền là đấy có ba cái Sóng thần dữlắm.
Ông Nguyễn Khoa Đăng muốn trị cho được, bèn truyền đóng một
chiếc thuyền rất vững vàng, đặt chiếc súng thần công ở trong. Ra
đến giữa phá ông nổ hai phát súng bắn tan được hai cái Sóngthần,
còn cái thứ ba thì chạy ra bể mất. Đêm hôm ấy ông cho đào liền
một con sông thẳng đấy; từ đó thuyền bé không hay đắm nữa.
Nhân hai việc tục truyền đó mà có câu hát như sau này:
- Thương anh em cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ sợ Phá Tam Giang
- Phá Tam Giang nay rày đã cạn,
Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm(1)
Xe hơi đi đến Đông Hà thì thôi. Đấy là đầu đường xe hỏa Quảng
Trị. Có một nhà ga nhỏ với năm ba cái hàng quán con ở giữa
khoảng đồng không mông quạnh. Xe hơi tới nơi, đợi ít lâu thì có
chuyến xe hỏa về Huế. Hai bên đường cũng vẫn nhiều đất rậm bỏ
hoang, chưa ra cái cảnh tượng trù mật. Xe hỏa chạy gần tỉnh
Quảng Trị, nhưng không đi qua.
Vào đến địa phận Thừa Thiên thì phong cảnh thấy khác ngay. Làng
xóm đông đúc, ruộng lúa xanh rì, không phải đất bỏ hoang như trên
kia nữa. Dẫu không biết rằng đã sắp đến Huế, cũng đoán được
rằng sắp tới một nơi đô hội nhớn. Quả nhiên ước một giờ đồng hồ
thì xe hỏa tới Kinh đô: Bây giờ vừa đúng 12 giờ trưa...
Kể chi những nỗi dọc đường... tới đây mới nhớ đến câu thơ ấy
trong truyện Kiều, thì ra từ trên toàn thị là những nỗi dọc đường cả,
mà chính chuyện trong “mười ngày ở Huế” chưa từng kể đến. Ôi!
Cổ nhân có tính hay thơ, mà tôi đây thực là thơ thẩn vậy. Thơ thẩn
thẩn thơ, giời đã bẩm sinh cho cái tính luyến cảnh luyến người, bình
sinh đã từng biết người nào cảnh nào, những khi hồi tưởng đến
không thể dứt cho đành. Thôi thì:
Dở hay cũng bởi tính giời biết sao? tưởng các bạn đọc báo cũng
lượng cho vậy.
Từ đây xin thuật chuyện Trường An.
1 Họ Nguyễn Khoa là một vọng tộc ở tỉnh Thừa Thiên, khi ở Huế tôi
có được tiếp truyện một ông Nguyễn Khoa, sau này sẽ kể qua cái
lịch sử họ ấy, theo một bài khảo cứu trong sách Biên tập của hội
“Đô thành hiếu cổ xả”.
Phạm Quỳnh
Mười ngày ở Huế
Phần II
Cổ ngữ Âu châu có câu: “Trăm con đường đều quay đầu về thành
La Mã”. Có ý nói thành La Mã là nơi trung tâm của lịch sử Âu châu
đời xưa, đâu đâu cũng qui phục về đấy, muôn sự đều do đấy mà ra.
Cái ánh sáng của văn minh nước La Mã nhóm lên từ đấy mà chiếu
khắp thế giới, cái oai quyền của quân đội nước La Mã dấy lên từ
đấy mà trấn áp hoàn cầu; cái then máy của cuộc thống nhất nước
La Mã cũng do tự đấy mà vận động ra suốt cõiÂu Châu. Từ xưa
đến nay phàm nước nào đã có một cuộc lịch sử lâu dài đều có một
nơi trung tâm như thế: nước nào cũng có một thành La Mã vậy.
Thành La Mã của Việt Nam ta là ở đâu? Tức là nơi Đế đô bây giờ,
đất Thuận Hóa khi xưa, kinh thành Huế ngày nay vậy.
Lấy lịch sử mà xét, lấy địa thế mà chứng, lấy cái tình thế chính trị
ngày nay mà chiêm nghiệm, lấy lòng khuynh hướng quốc dân sau
này mà dự đoán, thành Huế thực là chốn căn cứ, nơi yếu điểm của
giống Việt Nam, xưa đã nhờ đấy mà gây dựng nên bờ cõi, nay lại
nhân đấy mà nói lên cái tư cách mộtdân quốc hoàn toàn. Ôi! Phàm
đã gọi là một dân quốc không thể giây phút thiếu cái tư tưởng, cái
tinh thần một dân quốc. Tư tưởng ấy, tinh thần ấy gọi một tên tức là
cái quốc hồn vậy. Quốc hồn của Việt Nam ta ngày nay phải tìm ở
đâu cho thấy? Thiết tưởng phi ở Huế không đâu thấy vậy.
Ấy trước khi bước chân xuống đất Huế, cái tư tưởng tôi triền miên
như vậy. Tôi chưa biết Huế tôi đã yêu Huế rồi, yêu vì cái nghĩa cao
thượng nó ngụ ở trong cái tên ấy, yêu vì cái cảm tình vô hạn nó
chan chứa trong lòng tôi. Bình sinh tôi học vấn được đến đâu, cảm
giác được đến đâu, tư tưởng được đến đâu, hy vọng được đến đâu,
bấy giờ tựa hồ như con sông vỡ đê mà tràn ngập cả trong tâm giới
tôi vậy.
Đương mộng tưởng mơ màng thì xe hỏa dừng trước nhà ga Huế.
Sực tỉnh trong bụng nửa mừng mà nửa lo. Mừng rằng nay đã tới nơi
rồi, lo rằng không biết sự thực có xứng với cái mộng không, hay là
quen thói thường chỉ đủ khiến cho mình thất vọng...
Thường câu đọc trong sách Đại Nam nhất thống chí, thiên Kinh sư,
có tả địa thế cùng lược lịch sử nơi kinh thành Huế như sau này:
“Chốn Kinh sư gồm cả núi bể trong nước mà ở vào giữa khoảng
Bắc Nam, khí hậu hòa bình, sơn thủy kỳ tú. Đường bể thì có cửa
Thuận An, cửa Tư Hiền làm hiểm, đường lục thì có ải Quảng Bình,
ải Hải Vân làm trở. Sông nhớn bao mặt trước, núi cao chắn mặt
sau. Ba nguồn Bồ Trạch bọc bên tả bên hữu. Đầm Tam Giang, đầm
Thanh Lam, đầm Hà Trung làm then làm chốt. Thực là một nơi hổ
chồm rồng cuốn, địa thắng hình cường; đất hiểm yếu của giời đất,
làm thượng đô cho đế vương. Kể từ khi nước Nam dựng nước,
thuộc về nhà Trần là đất Thuận Hóa, thuộc về nhà Lê là Thuận Hóa
thừa tuyên, đều xưng là nơi trọng trấn. Về Bản Triều, đức Thái tổ
Gia Dũ Hoàng đế chịu mệnh Giời mở nền nước ở cõi Nam, trước
đóng ở Ái Tử, sau đi ra Trà Bát (tên làng thuộc tỉnh Quảng Trị,
huyện Đăng Xương, lại đi ra phía đông Ái Tử nữa ở nơi gọi là Cát
Doanh). Đức Hi tôn Hiếu Văn Hoàng đế lại tự Cát Doanh đi ra Phúc
An (tên làng, thuộc huyệnQuảng Điền). Đức Thần Tôn Hiếu Chiêu
Hoàng đế lấy nơi Kim Long là đất có hình thế, đổi ra đóng đấy. Đức
Anh tôn Hiếu Nghĩa Hoàng đế lại dịch ra Phú Xuân (Kim Long Phú
Xuân đều là tên làng). Đức Thế tôn Hiếu Võ Hoàng đế chia đất
trong cõi làm 12 doanh. Ở Phú Xuân thì gọi là Chính doanh,lại xưng
là Đô thành. Đều là đất Thuận Hóa vậy. Phía Bắc cưỡi lên sông
Gianh, phía Nam gồm đất Chân Lạp, Liệt Thánh tương truyền hơn
hai trăm năm. Năm Giáp Ngọ đời đức Duệ tôn Hiếu Định Hoàng đế,
quân Trịnh đến chiếm. Sau bị giạc Tây Sơn trộm giữ trong ba mươi
năm. Kịp đến đức Thế tổ Cao Hoàng đế ta dấy lên như rồng như
mây, thay Giời dẹp giặc, mùa thu năm Mậu Tuất thu phục thành Gia
Định, mùa hạ năm Tân Dậu khắc phục chốn cựu kinh, mùa hạ năm
Nhâm Tuất bắt tướng giặc ở cõi Bắc; từ đó gồm An Nam nhất thống
dư đồ, bờ cõi mênh mông, nam tới Tiêm La Chân Lạp, bắc giáp
nước Tàu, đông đến bể, tây đến Ai Lao. Giở về đất cũ, mở rộng
thêm ra, định đô ở Phú Xuân, từ đấy mới xưng là Kinh sư vậy. Đặt
phép tắc, định triều cống, như cái nóc nhà cao hơn cả, bốn bề đều
quay về đấy, như ngôi sao Bắc đẩu tôn hơn cả, trăm sao đều chầu
chung quanh. Cái nền vững vàng thịnh vượng của nước nhà trong
ức vạn năm thực là ở đấy vậy. Rực rỡ thay! Vẻ vang thay!"
Lấy cái cảm giác nhà ái quốc mà đọc những nhời đó, trong lòng
hứng khởi biết chừng nào! Người vô tình cho là nhời văn chương
hư sức, mà người có cảm với nước nhà qua câu văn hình như
trông thấy cái hồn trong nước sinh trưởng ở vùng Thuận Hóa Phú
Xuân nơi đất cũ vậy.
Tôi vốn không tin cái thuật địa lý của bọn thầy vườn lấy đống đất
giữa đồng, ngòi nước bên ruộng làm ngai rồng tay hổ. Nhưng tôi tin
những nơi sơn thủy kỳ tú có ảnh hưởng đến vận mệnh một nước.
Người ta đối với cái ngoại cảnh không phải là không có quan hệ.
Người đồng bằng biệt ra tính cách đất đồng bằng, người rừng núi
biệt ra tính cách nơi rừng núi; thói ăn cách ở, đường sinh kế, lối tư
tưởng, không gì là không tùy theo cái ngoại cảnh mà khác nhau.
Huống chi là những bậc đế vương mở đất dựng nước, những nơi
sông núi xinh đẹp lại không có quan hệ với cái lòng hoài bão nhớn
nhaohay sao? Liệt Thánh bản triều ta đặt nền Đại Việt ở đất Phú
Xuân thực đã dự tưởng mà biết cái cơ đồ vĩ đại về sau vậy.
Người khách mới đến thành Huế tưởng như bước chân vào bức
tranh cảnh: chung quanh núi, giữa con sông, nhà cửa tụ họp hai
bên bờ, trên bến dưới thuyền, trông xa một tòa thành cổ bao la,
thâm nghiêm kín cổng. Cái phong cảnh Huế sở dĩ đẹp là thứ nhất
bởi con sông Hương Giang. Con sông xinh thay! Hà Nội cũng có
sông Nhị Hà, mà sông Nhị với sông Hương khác nhau biết chừng
nào! Một đằng ví như cô con gái tươi cười, một đằng ví như bà lão
già cay nghiệt. Nhị Hà là cái thiên tai của xứ Bắc, Hương Giang là
cái châu báu của xứ Kinh. Nước trong như vắt, dòng phẳng như tờ,
ít khi có tị sóng gợn trên mặt, đi thuyền trên sông như đi trong hồ
vậy. Huế không có con sông Hương thì tưởng cái đẹp của xứ Huế
giảm mất nửa phần. Nhưng đã có sông Hương lại có núi Ngự nữa,
cái cảnh mới thực là toàn xinh. Ngự Bình không phải là một núi cao
như núi Phú Sĩ nước Nhật, Hương Giang không phải là một sông
rộng như sông Hoàng Hà nước Tàu, nên nói rằng sông ấy núi ấy
làm hiểm trở cho chốn Đế kinh thì cũng là nói quá, nhưng sông ấy
núi ấy thực là vẽ nên phong cảnh xứ Huế vậy. Vả cái khí vị của
phong cảnh Huế không phải là cái khí vị hùng tráng, mà là cái khí vị
mĩ diệu; cảnh Huế xinh mà đẹp, không phải là hùng mà cường,
đáng yêu mà không phải là đáng sợ, có thi vị mà không phải là có
khí tượng. Phải nhận kỹ như thế thì mới khỏi nhầm mà hiểu được
tinh thần của cái bức sơn thủy hiển nhiên ấy.
Khi mới bước chân vào một xứ lạ, cái gì nó cảm mình trước nhất là
cái cảnh ngoài. Có cái cảnh ưa người, như tươi cười mà đón
khách, có cái cảnh ghét người như hẩm hiu mà mới gượng, lại có
lắm cái cảnh vô tình, mình hỏi không thèm đáp, phần đó là phần
nhiều. Cảnh Huế là một cảnh rất ưa người, ngoài mặt mới tiếp xúc
trong lòng đã sinh cảm tình. Hay là lòng tôi đã nhiệt thành sẵn mà
dễ cảm như thế? Cũng có nhẽ, nhưng bởi cái tinh thần riêng của
phong cảnh cũng nhiều.
Nay đã có cảm tình với cảnh Huế, phải gây lấy mối cảm tình với
người Huế nữa. Đó là cái công việc tôi trong mấy ngày về sau này.
Cái mục đích cuộc du Kinh của tôi là chủ xem tế Nam Giao. Vậy
trước nhất hẵng xin thuật chuyện Giao.
Tế Giao đính nhật đêm ngày 12 rạng 13 tháng 2 an nam (tức là 2425 tháng 3 tây). Tôi tới Kinh từ ngày mồng 9, có ý sớm mấy bữa để
xem cái cảnh tượng trong phố phường cùng cách trần thiết ở Giao
Đàn. Mấy ngày ấy thành Huế tấp nập những kẻ đi người lại. Hai
bên đường Hoàng Thượng sắp ngự qua từ Nội thành đến Giao Đàn
đương làm rạp đặt hương án. Những hương án đó là do các thôn
xã mấy huyện ở gần Kinh đô, mỗi làng phải đặt một sở, nghe nói cả
thảy mấy trăm sở. Nhất là con đường thẳng lên Nam Giao hai ngày
10-11 đi dạo chơi không cảnh gì vui mắt bằng: cờ xanh, cờ đỏ, cờ
đuôi nheo, cờ ngũ hành, các hạng cờ cắm san sát hai bên đường,
gió thổi bay cả về một hướng, xa trông phấp phới, tưởng tượng
như con hoàng long ở dưới đất nổi lên mà mỗi lá cờ là một cái vẩy
đương rung động vậy! Hương án liên tiếp nhau, cách vài thước lại
một cái, không có khoảng nào bỏ không. Mỗi sở có mấy viên ký-mục
ngồi túc trực. Sau lưng những hàng quán dựng lên nhan nhản.
Giữa đường kẻ đi người lại như nước chảy, nào là người phục dịch
về Giao Đàn, về các hương án, nào là dân các nơi lại xem, đàn bà
con trẻ cũng nhiều. Tôi có ý nhận những đám đông người ở đây rất
nghiêm, không những như ngoài Bắc. Lính cảnh sát có ít mà trên
đường vẫn có trật tự, không hề thấy đám đánh nhau chửi nhau, ồn
ào rộn rịp, thứ nhất là không có cái tiếng rất khả ố là tiếng cập kè
của bọn sẩm chợ, như những khi hội hè ở ngoài ta.
Cái vui của người dân ...
 





