Sách Nói] Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn - Chương 1
NGÀN NĂM ÁO MŨ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Tuyết
Ngày gửi: 14h:48' 20-05-2024
Dung lượng: 8.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Tuyết
Ngày gửi: 14h:48' 20-05-2024
Dung lượng: 8.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Ngàn Năm Áo Mũ
Bản quyền tác phẩm © Trần Quang Đức, 2013
Ảnh và tranh minh họa do tác giả chụp, vẽ và sưu tập.
Xuất bản theo hợp đồng sử dụng tác phẩm giữa Công ty Văn hóa và Truyền thông
Nhã Nam và tác giả Trần Quang Đức, 2013
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ. Mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phân phối dưới dạng
in ấn hoặc văn bản điện tử, đặc biệt là việc phát tán trên mạng Internet mà không có sự cho
phép bằng văn bản của Nhà xuất bản là vi phạm pháp luật và làm tổn hại đến quyền lợi của
nhà xuất bản và tác giả. Không ủng hộ, khuyến khích những hành vi vi phạm bản quyền.
Chỉ mua bán bản in hợp pháp.
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trần Quang Đức
Ngàn năm áo mũ / Trần Quang Đức. - H. : Thế giới ; Công ty Văn hoá và Truyền thông
Nhã Nam, 2013. - 397tr. : ảnh, tranh ; 25cm
1. Trang phục truyền thống 2. Việt Nam
391.009597 - dc14
TGH0007p-CIP
LỜI CẢM ƠN
LỜI TỰA 1
Ngàn năm áo mũ chắc chắn không thể hoàn thành sớm nếu không
Ở nước ta, trước nay khi muốn tìm hiểu văn hóa cổ của dân tộc,
có sự giúp đỡ nhiệt tình từ phía những người bạn, người đồng nghiệp
nhất là về cách ăn mặc, người ta không biết phải trông vào đâu. Các sách
của chúng tôi.
cổ như Lịch triều hiến chương hay các sách Khâm định, Hội điển đôi khi
Nay nhân dịp cuốn sách được ra mắt bạn đọc, chúng tôi xin cảm
ơn các anh chị Trịnh Bách, Lý Tiệp, Philippe Trương, Nguyễn Lân
có nhắc đến một vài kiểu y phục, mũ mão, nhưng cũng chỉ sơ lược, và
thường không có hình ảnh dẫn chứng.
Cường, Nguyễn Như Đan Huyền, Nomura Chosho, Nguyễn Quang
Các tác phẩm trên được viết với mục đích áp dụng cho người đương
Duy, Nguyễn Nhật Anh, Nguyễn Thành Đạt, Đỗ Thận Tuấn, Nguyễn
thời, chứ không phải là sử liệu hay tài liệu văn hóa cho đời sau. Hơn nữa,
Thế Bách, Nguyễn Thị Dung, Tô Lan, Trần Văn Quyến, Nguyễn Phát
trong thời đại của các cổ tác gia đó, khi những kiểu loại trang phục được
Hà Giang, Chihiro Motohiro, Hồ Như Ý, là những người đã sao chụp,
nhắc đến trong sách của họ vẫn còn thông dụng, tên gọi họ liệt kê vẫn là
cung cấp tư liệu cho chúng tôi. Đặc biệt, Lý Tiệp còn là người giúp
các vật dụng đời thường, thì việc giải thích về chúng là không cần thiết.
chúng tôi thực hiện một số tranh vẽ phục dựng.
Tỉ dụ như ngày nay có mấy ai cần phải được giảng giải mới biết thế nào
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn anh Đinh Thanh Hiếu, Trịnh
Bách, Đoàn Ánh Dương, những người đã tận tình hiệu đính bản thảo,
là cái áo dài hay chiếc nón lá. Nhưng tương tự, vài năm nữa đây phần
đông giới trẻ sẽ không mường tượng nổi cái áo đại cán như thế nào.
bác Đỗ Lai Thúy, bác Dương Trung Quốc, anh Nguyễn Mạnh Tiến, chị
Văn hóa trang phục truyền thống Việt Nam bị mất dấu tích sâu
Quách Hiền, anh Đặng Hải Quang những người đã có nhiều sự quan
đậm nhất khi nền văn hóa Tây phương do người Pháp đưa vào được áp
tâm và giúp đỡ chúng tôi trong việc tìm kiếm các nguồn tài trợ.
đặt triệt để lên xã hội Việt Nam. Tiếp theo đó là sự đổi thay của lịch sử và
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn các anh Nguyễn Hữu Chiến,
ý thức hệ. Những biến động xã hội ấy khiến cho ngày nay không ai còn
Nguyễn Hồng Minh, Nguyễn Quang Huy cùng công ty PMC, công ty BFS
biết ông bà ta ngày xưa ăn mặc, sinh sống như thế nào. Và khi cần tái
đã tài trợ cho công trình nghiên cứu này.
hiện lối ăn mặc của người Việt trong quá khứ, người ta “sáng tác” một
Chúng tôi xin gửi lời tri ân tới ban lãnh đạo cùng các anh chị phòng
cách tùy tiện.
Tu thư, phòng Chế bản thuộc Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã
Phim ảnh là phương tiện truyền bá văn hóa cho giới trẻ hữu hiệu và
Nam, những người đã tạo nhiều điều kiện cho sự ra đời cuốn sách này.
trực tiếp, nhưng hiện nay nhiều bộ phim hay vở kịch tái hiện lịch sử lại
Chúng tôi đặc biệt cảm ơn chị Nguyễn Hoàng Diệu Thủy, biên tập viên
có phục trang truyền thống khác nhau. Rồi gần đây khi sự giao lưu văn
chính của cuốn sách, chị Mai Thị Mai, người trực tiếp trình bày cuốn
hóa trở nên dễ dàng thì trang phục truyền thống Việt Nam trong phim
sách, và anh Tạ Quốc Kỳ Nam, họa sĩ thiết kế bìa sách.
ảnh và trên sân khấu lại mang đậm dấu ấn của phim ảnh Trung Quốc.
Đây là đợt hủy diệt nguy hiểm hơn hết cho kiến thức về lịch sử văn hóa
Hà Nội, cuối xuân năm Quý Tỵ 2013
Trần Quang Đức
áo mũ truyền thống của giới trẻ Việt Nam.
LỜI TỰA 2
Thiên Quan nghĩa trong Kinh Lễ có câu: “Phàm người mà có thể
Vì thế việc ra đời của quyển sách Ngàn năm áo mũ là một sự cứu rỗi
may mắn. Có lẽ đây là một trong những tập tài liệu văn hóa, lịch sử trang
phục được nghiên cứu sâu và được biên soạn kỹ nhất ở Việt Nam, nếu
không nói là quốc tế, cho đến nay. Tác giả với vốn liếng ngoại ngữ và cổ
văn rất cao đã bỏ ra nhiều năm lăn lộn, tìm tòi ở các thư viện cũng như
dân gian ở Việt Nam và các nước, nhất là Trung Quốc, để có được những
tài liệu quý giá và chính xác đúc kết nên tác phẩm này.
Khi đọc Đại Việt sử ký toàn thư hay Lịch triều hiến chương loại chí
chẳng hạn, cái “Đinh tự cân”, hay mũ chữ “đinh” phổ biến suốt mấy thế
kỷ trong xã hội Việt Nam xưa đã làm điên đầu độc giả ngày nay. Hay thắc
mắc về kiểu cắt tóc mười phân của các đời Lý, Trần, Lê, hoặc hồng bào
của các hoàng đế Việt trước “thiên triều”. Và rất nhiều những loại áo, mũ
nữa. Tất cả được tác giả giải thích với minh chứng khoa học và minh họa
chính xác trong tập nghiên cứu Ngàn năm áo mũ này.
Xin chân thành cảm ơn tác giả Trần Quang Đức vì đã bỏ công sức
khổ nhọc và thì giờ quý báu nhưng xứng đáng của anh trong việc biên
soạn quyển sách dầy giá trị này.
là người cho đúng nghĩa là nhờ lễ nghĩa, mà mở đầu của lễ nghĩa là ở
dung thể được đoan chính, nhan sắc được trang nghiêm, lời nói được
cung thuận. Dung thể đoan chính, nhan sắc trang nghiêm, lời nói cung
thuận thì sau lễ nghĩa mới đầy đủ, để chính đạo vua tôi, thân đạo cha
con, hòa đạo lớn nhỏ. Đạo vua tôi chính, đạo cha con thân, đạo lớn nhỏ
hòa rồi sau lễ nghĩa mới lập. Cho nên đội mũ rồi sau trang phục mới đầy
đủ, trang phục đầy đủ rồi sau dung thể mới đoan chính, nhan sắc mới
trang nghiêm, lời nói mới cung thuận. Cho nên nói rằng lễ đội mũ là mở
đầu của lễ, vì thế thánh vương thời cổ rất coi trọng lễ đội mũ”.
Cổ nhân cho rằng trang phục là một phần quan trọng, thậm chí là
mở đầu của lễ, cũng tức là văn minh, để con người đúng nghĩa là con
người, khác với cầm thú.
Nước ta vốn xưng là nước văn hiến, các chính thể quân chủ lịch
triều đều có khát vọng muốn xây dựng ở cõi Nam một hệ thống điển
chương chế độ “không kém” (vô tốn) Hoa Hạ (Trung Quốc), và hầu cũng
tự hào đã từng là chốn “lễ nhạc y quan sở tụy, thanh danh văn vật sở đô”
(nơi tụ hội mũ áo lễ nhạc, văn vật thanh danh). Vật đổi sao dời, ngày nay
nhìn lại, sinh sau nghìn năm mà muốn nói chuyện nghìn năm trước,
Hà Nội, ngày 19.2.2013
Trịnh Bách
cũng không phải dễ dàng. Giờ đây muốn khảo lại y quan của cổ nhân,
ngõ hầu không thẹn như Tịch Đàm vong tổ, thì văn hiến không đủ, văn
vật cũng thưa, chỉ biết trông vào những ghi chép của các bậc tiền nhân
như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Phạm Đình Hổ v.v. hay chính sử, hội
điển các vương triều, nhưng chữ nghĩa kỳ khu, danh vật xa cách, cũng
thật khó mà hình dung tưởng tượng ra được.
Trần Quang Đức tiên sinh dành tâm huyết mấy năm để truy khảo
mũ áo nghìn năm. Ông có nhã ý đưa tôi xem bản thảo. Là người có học
chút ít chữ nho, thích truy tìm cổ điển, được cuốn sách của ông đưa vào
MỤC LỤC
PHÀM LỆ................................................. 13
TỰ LUẬN................................................. 15
thế giới y quan văn vật của cổ nhân, với tôi có sức hấp dẫn lạ thường. Với
một tư duy mạch lạc, lập luận chặt chẽ, tư liệu phong phú, kết hợp thư
tịch với đồ hình, ảnh tượng, sách vở với thực tế, tham chiếu cả trục thời
gian, không gian, cuốn sách có thể xem là đã góp phần “minh trưng”cho
điển chương văn vật của nước Việt ta, và chắc hẳn sẽ là tư liệu cần thiết
cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực.
Trần quân thông minh vốn sẵn tính trời, được đào tạo căn cơ, trong
điều kiện mới có nhiều thuận lợi, kết hợp với tâm huyết của một người
hiếu cổ nên đã làm được điều người trước muốn mà chưa làm được.
Đó là điều mà tôi thành tâm tán thán và chia vui cùng tác giả, còn
nói là viết Tựa thì tôi đâu dám!
Hà Nội, tháng Mạnh xuân năm Quý Tỵ 2013
Đinh Thanh Hiếu
TỔNG QUAN..........................................19
I. TỔNG QUAN TRANG PHỤC CUNG
ĐÌNH VIỆT NAM.................................... 19
1. Những tư tưởng ảnh hưởng đến văn
hóa trang phục cung đình Việt Nam..... 19
1.1. Tư tưởng Đế vương.......................... 19
1.2. Quan niệm Hoa di........................... 23
2. Lược sử trang phục cung đình Việt
Nam......................................................... 34
II. TỔNG QUAN TRANG PHỤC DÂN
GIAN VIỆT NAM..................................... 40
Phụ lục. Biện di luận.............................. 45
CHÍNH VĂN.......................................... 49
Chương I. TRANG PHỤC THỜI LÝ........ 49
I. Trang phục hoàng đế.......................... 53
1. Lễ phục................................................ 53
2. Thường phục....................................... 60
3. Tiện phục............................................ 66
II. Trang phục bá quan........................... 71
1. Lễ phục................................................ 71
2. Triều phục........................................... 72
3. Thường phục....................................... 75
III. Trang phục quân đội........................ 82
IV. Trang phục dân gian......................... 87
1. Y phục.................................................. 87
2. Kiểu tóc................................................ 91
Phụ lục 1. Một số ghi chép liên quan tới
trang phục Chiêm Thành từ thế kỷ XI đến
thế kỷ XV.................................................. 96
Phụ lục 2. Một số ghi chép và hình ảnh
liên quan tới vũ nhạc Việt Nam thời Lý
Trần......................................................... 99
Chương II. TRANG PHỤC THỜI TRẦN.....
............................................................... 101
I. Trang phục hoàng đế........................ 106
1. Triều phục ........................................ 106
2. Thường phục .................................... 107
3. Tiện phục . ........................................ 110
II. Trang phục bá quan......................... 112
1. Lễ phục ............................................. 112
2. Thường phục .................................... 118
*Đôi nét về bức họa Trúc Lâm đại sĩ xuất
sơn đồ..................................................... 128
III. Trang phục quân đội...................... 133
IV. Trang phục dân gian....................... 135
1. Y phục ............................................... 135
2. Kiểu tóc.............................................. 137
Phụ khảo. Cải cách quan phục năm 1396
và trang phục thời Hồ.......................... 141
Phụ lục 1. Trang phục cư tang và quan
MỤC LỤC
niệm về hai màu đen trắng ................. 147
Phụ lục 2. Số lượng thớt lụa và quạt cống
sang nhà Minh từ năm 1416 đến 1423......
............................................................... 149
Phụ lục 3. Bản hiệu chính phần Chương
phục trong sách An Nam chí lược.......150
Chương III. TRANG PHỤC THỜI LÊ...153
Trang phục thời Lê sơ...........................160
I. Trang phục hoàng đế........................161
1. Lễ phục - Triều phục........................161
2. Thường phục ....................................165
II. Trang phục bá quan.........................169
1. Công phục - Triều phục...................171
2. Thường phục.....................................175
3. Trang phục quân đội........................181
Phụ khảo. Trang phục nhà Mạc..........183
II. Trang phục bá quan.........................200
1. Triều phục ........................................202
2. Thường phục - Thị phục .................211
3. Tiện phục . ........................................224
III. Trang phục hậu cung.....................228
1. Lễ phục..............................................229
2. Tiện phục..........................................232
IV. Trang phục quân đội .....................234
V. Trang phục dân gian........................240
1. Y phục ...............................................240
2. Kiểu tóc .............................................246
Phụ khảo 1. Cải cách y phục Đàng Trong
năm 1744 – Sự ra đời và quá trình phổ
cập của áo dài năm thân......................258
Chương IV. TRANG PHỤC THỜI TÂY
SƠN........................................................267
I. Trang phục cung đình.......................267
II. Trang phục dân gian........................272
MỤC LỤC
4. Quân phục ........................................295
II. Trang phục bá quan.........................297
1. Lễ phục .............................................297
2. Triều phục ........................................307
3. Thường phục ....................................322
III. Trang phục hậu cung.....................335
1. Triều phục ........................................335
2. Thường phục ....................................342
IV. Trang phục quân đội .....................345
V. Trang phục dân gian........................348
1. Y phục ...............................................348
2. Kiểu tóc .............................................351
LỜI KẾT.................................................355
Nguyễn năm 1804
TIỂU TỪ ĐIỂN TRANG PHỤC VIỆT NAM
PHỤ LỤC............................................ 357
Bảng quy chế Triều phục của bá quan triều Lê
Trung Hưng năm 1661
Bảng quy chế Triều phục của bá quan triều Lê
Trung Hưng năm 1721
Bảng quy chế Triều phục của bá quan triều Lê
Trang phục thời Lê Trung Hưng..........187
I. Trang phục vua chúa........................188
1. Triều phục ........................................189
2. Tế phục .............................................192
3. Thường phục ....................................195
4. Tiện phục . ........................................198
Chương V. TRANG PHỤC THỜI
NGUYỄN...............................................275
I. Trang phục hoàng đế........................278
1. Lễ phục .............................................278
2. Triều phục ........................................288
3. Thường phục ....................................293
Trung Hưng năm 1725
Bảng quy chế Thị phục chầu chúa của bá
quan triều Lê Trung Hưng năm 1721
Bảng quy chế Triều phục của bá quan triều
Nguyễn năm 1804
Bảng quy chế Triều phục của bá quan triều
Nguyễn năm 1845
Bảng quy chế Triều phục của một số vị hoàng
tử, hoàng thân, tôn thất triều Nguyễn năm
1845
Bảng quy chế Thường phục của bá quan triều
THƯ MỤC SÁCH TRÍCH DẪN
PHÀM LỆ
Trong cuốn sách này, tên các sách trích dẫn
được in nghiêng, không viết tắt, ngoại trừ Đại Việt
sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương
mục, Lịch triều hiến chương loại chí, Khâm định Đại
Nam hội điển sự lệ lần lượt được gọi tắt là Toàn thư,
Cương mục, Loại chí và Hội điển. Bulletin des Amis
du Vieux Huế (Những người bạn cố đô Huế) chúng
tôi vẫn sử dụng tên viết tắt thông dụng là BAVH. Các
thông tin trong Toàn thư, Cương mục, chúng tôi chỉ dẫn năm.
Tại phần cước chú chúng tôi nhất loạt chỉ đề tên sách và vị trí
thông tin trích dẫn. Bạn đọc có thể tra các thông tin đầy đủ liên
quan đến tên tác giả, nhà xuất bản và năm xuất bản tại phần
thư mục trích dẫn ở cuối sách.
Với các tư liệu Hán văn cổ, chúng tôi trực tiếp dịch ra
quốc văn, không chú kèm âm Hán Việt trong nội dung chính,
nguyên văn sẽ được chú dẫn đầy đủ tại phần cước chú để bạn
đọc quan tâm tiện tham khảo. Quy cách chú dẫn như sau: (Tên
nước) Tên sách - Phân mục. Ví dụ: (Triều) Chi Phong tiên sinh
tập - Q.8 - An Nam quốc sứ thần xướng họa vấn đáp lục - Hậu,
tức là phần Hậu trong mục An Nam quốc sứ thần xướng họa
vấn đáp lục nằm trong Quyển 8 sách Chi Phong tiên sinh tập
của Triều Tiên - Hàn Quốc.
Một số bản tư liệu cổ sao chụp được chúng tôi khai
thác tại các trang web như cadal.zju.edu.cn (Trung Mỹ
bách vạn đồ thư), archive.org, record.museum.
kyushu-u.ac.jp (Bảo tàng Đại học Kyushu, Nhật
Bản), yoksa.aks.ac.kr/main.jsp (Trung tâm Thông
tin Nghiên cứu Hàn Quốc, Học viện Nghiên cứu
Hàn Quốc) v.v. Bạn đọc quan tâm có thể tham
khảo trực tiếp trên các trang web này.
TỰ LUẬN
Sự thiếu khuyết sử liệu - hiện vật là một trong những trở ngại lớn,
gây nhiều khó khăn cho các nhà nghiên cứu khi lần tìm diện mạo trang
phục cổ của người Việt Nam. Ngay Phan Huy Chú (1782-1840) trong
Loại chí cũng phải thừa nhận có nhiều kiểu mũ ông không thể khảo
được. Tuy thiên về khảo quy chế trang phục vua quan triều Hậu Lê, Loại
chí vẫn được coi là tập chuyên khảo trang phục các triều đại đầu tiên tại
Việt Nam.
Tham khảo Lịch triều hiến chương loại chí và Khâm định Đại Nam
Hội điển sự lệ, Trương Quốc Dụng (1797 - 1864) hoàn thành phần khảo
quy chế áo mão cung đình từ triều Tiền Lê cho tới triều Nguyễn, ghi lại
trong Công hạ ký văn. Năm 1915, Phan Kế Bính với Việt Nam phong tục,
năm 1938, Đào Duy Anh với Việt Nam văn hóa sử cương, bước đầu vạch
ra những nét phác họa chung cho trang phục dân gian Việt Nam. Năm
1970, Nhất Thanh với Đất lề quê thói, Toan Ánh với Nếp cũ con người
Việt Nam tiếp tục đặt bút khắc tả lối ăn vận dân gian theo tập quán thời
Nguyễn v.v. Hơn hai chục năm trở lại đây xuất hiện thêm một số nhà
nghiên cứu trang phục như Đoàn Thị Tình (Tìm hiểu trang phục Việt
Nam - 1988, Trang phục Việt Nam - 2006, Trang phục Thăng Long Hà
Nội - 2010), Ngô Đức Thịnh (Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam
- 1994), Trịnh Quang Vũ (Lịch sử trang phục các triều đại phong kiến Việt
Nam - 2005, Trang phục triều Lê Trịnh - 2008) v.v. với sự tiếp cận rộng
hơn tới lịch sử trang phục Việt.
Thiết nghĩ, để hiểu được lịch sử tư tưởng, văn hóa và mỹ thuật Việt
Nam, nghiên cứu trang phục cổ chính là một ngành vô cùng quan trọng,
cần tới sự tiếp cận mang tính khoa học, liên ngành, gắn với những chứng
lý đầy đủ, xác thực. Những cuốn sách khảo cứu gần đây tuy có những
đóng góp nhất định, nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế, như thường
xuyên sử dụng cách dẫn chứng hàm hồ kiểu “sử cũ ghi”, “sử xưa chép
lại rằng”, “tương truyền rằng” mà không chú rõ nguồn dẫn, xuất xứ; việc
nghiên cứu nhiều khi chỉ dừng lại ở việc công bố một số tư liệu liên quan,
thiếu thao tác khảo cứu, phân tích cụ thể; việc xác định, định danh các
16
dạng áo mũ hầu hết mang nặng tính tư biện, ức đoán. Mặt khác, tư liệu
thượng đẳng thần dùng hình long mã.” (Kiến văn tiểu lục). Đại Nam thực
Hán Nôm được trích dẫn phần lớn là từ các bản dịch tiếng Việt sẵn có,
lục còn cho biết vào thời Minh Mạng, Văn miếu tỉnh Ninh Bình có tượng
trong khi chính những bản dịch này rất hạn chế về mặt số lượng, đồng
Khổng Tử và bốn vị thánh của đạo Nho đều đội mũ Miện, mặc áo Cổn;
thời tồn tại nhiều chỗ dịch không chuẩn xác, nhất là trong các phần đề
vua Minh Mạng và các quan đều cho rằng Cổn Miện là trang phục của
cập tới trang phục.
bậc vương giả, cách ăn mặc thể hiện trên tượng như vậy là thất lễ, nên hạ
Trong cuốn sách này, chúng tôi không đi sâu khảo cứu phương
lệnh đem chôn. Những dẫn chứng này khiến chúng tôi muốn lưu ý rằng,
thức chế tác vải vóc, thêu thùa mà chủ yếu làm rõ kiểu dáng, quy chế
không thể khinh suất dựa vào các pho tượng được tạc dựng vào triều đại
của các loại áo mũ từng được sử dụng phổ biến trong cung đình và dân
sau này để ức đoán trang phục của triều đại trước đây, như trường hợp
gian Việt Nam từ thời Lý đến thời Nguyễn. Đối với văn hóa cung đình,
một số người nghiên cứu khi khảo trang phục của vua Lý Thái Tổ (974-
sự phân chia giai tầng xã hội được quy định nghiêm ngặt, chế độ áo mũ
1028) đã dựa vào pho tượng chùa Kiến Sơ mang đậm thủ pháp dân gian
do đó cũng có luật lệ riêng, như Phan Huy Chú khẳng định: “Đạo trị
cuối thời Hậu Lê thế kỷ XVIII.
nước không gì lớn bằng Lễ, Lễ là để làm rõ tôn ti […] Quy chế áo mũ, nghi
Các dữ liệu mô tả trang phục của vua quan Việt Nam thời phong
vệ là để phân biệt trên dưới.” (Loại chí – Lễ nghi chí) Lâu nay, trong đại
kiến hầu hết là tư liệu Hán văn, nếu không có kiến thức nhất định trong
chúng và trong một bộ phận giới nghiên cứu tồn tại một cảm quan rằng
lĩnh vực cổ trang, khi phiên dịch người dịch dễ để lại nhiều sai lạc. Không
triều đình Việt Nam đậm chất dân gian, tôn ti lỏng lẻo, khác với triều
thể phủ nhận, bản dịch của tiền nhân cũng có những sai sót khiến nhiều
đình Trung Quốc. Dĩ nhiên, văn hóa cung đình Việt Nam không quá
người nghiên cứu về sau bị sai theo. Như bản dịch Toàn thư lưu hành
mức phức tạp, nhiêu khê, và ở từng triều đại khác nhau, tính tôn ti, bảo
hiện nay dịch áo Xưởng Hạc là áo lông hạc, mũ Thất Lương Quan là mũ
thủ cũng được thể hiện không đồng đều, song rõ ràng cung đình luôn là
bảy cầu, mũ trụ đính cánh phượng bằng vàng (kim phượng xí) là cánh
nơi duy trì một lề lối văn hóa nghiêm cẩn, không đại khái, linh hoạt như
mũ thêu phượng vàng v.v. Bản dịch An Nam chí lược dịch phương tâm
văn hóa dân gian. Nhìn nhận rõ sự khu biệt giai cấp này, những quy chế
khúc lĩnh là tim vuông tràng áo cong, mũ Đường Cân là khăn tàu v.v.
phân biệt cao thấp, sang hèn trong trang phục thời phong kiến - quân
Trên thực tế, Xưởng Hạc, Lương Quan, phương tâm khúc lĩnh, phượng
chủ cũng sẽ được soi tỏ.
xí, Đường Cân đều là tên riêng của các loại áo, mũ, phục sức. Vậy nên
Cũng ở đây, đối với tư liệu tranh tượng, chúng tôi tiến hành khảo
khi khảo cứu, chúng tôi cố gắng truy nguyên về nguồn, tìm ra tư liệu gốc
sát thận trọng dựa trên tính đồng đại của hiện vật, kết hợp hiện vật với
làm cơ sở, diễn dịch những tư liệu đó một cách chuẩn xác, nhằm đưa ra
những mô tả trong thư tịch tương quan. Lấy ví dụ, sau những biến động
những kết quả nghiên cứu đáng tin cậy.
to lớn diễn ra vào cuối thời Trần - Hồ, đặc biệt là sau 20 năm thuộc Minh,
Do tư liệu khan hiếm, trong cuốn sách này, chúng tôi chỉ có thể
tuyệt đại đa số tượng thờ vua quan thời Lý - Trần đều đã bị phá hủy.
bước đầu khảo cứu trang phục cung đình Việt Nam từ triều Lý tới triều
Các pho tượng có thể thấy hiện nay phần lớn được tạo dựng vào thế kỷ
Nguyễn (1009 - 1945), những thông tin liên quan đến trang phục cung
XVIII, XIX, với mô típ đội mũ Phốc Đầu hoặc mũ Xung Thiên, mặc áo
đình trước thời Lý sẽ được trình bày tại phần Tổng quan. Chúng tôi biết
cổ tròn đính Bổ Tử. Trong khi quy chế Bổ Tử lần đầu tiên được áp dụng
việc nghiên cứu chưa thể dừng lại ở đây, những hạn chế về mặt chuyên
vào triều đình Đại Việt vào năm 1471, thời vua Lê Thánh Tông; hơn nữa
môn, về tư liệu luôn cần được bổ khuyết. Trong tương lai có thể có những
một trong những quy định tạc tượng thời Cảnh Hưng (1767) cũng được
ý kiến mới, những phát hiện mới giúp củng cố hoặc bác bỏ kết luận nào
Lê Quý Đôn ghi rõ: “Vị thần nào dự vào hạng tối linh thì vẫn để như cũ,
đó của chúng tôi, dù theo hướng nào chúng tôi vẫn trân trọng coi đó là
còn bầy tôi các triều đại trước được dự phong phúc thần, đều theo lệ mới
sự đóng góp tích cực cho nghiên cứu này.
[…] Mũ các vị thần đội, đều dùng mũ Phốc Đầu […] cấm dùng hình dạng
mũ Xung Thiên chập cánh […] Bổ tử, trung đẳng thần dùng hình kỳ lân,
17
TỔNG QUAN
Để tiện khảo cứu và trình bày, chúng tôi
phân trang phục thời phong kiến - quân chủ
thành hai loại hình: cung đình và dân gian.
Trong đó, trang phục cung đình, ở giai đoạn
phong kiến - quân chủ, với tư cách là văn hiến
áo mũ của một quốc gia độc lập, đã trải qua
những vận động đặc thù, để mang một diện
mạo vừa có nét tương đồng, vừa có điểm dị
biệt so với trang phục của triều đình các nước
Trung Quốc, Triều Tiên(1), Nhật Bản.
I. TỔNG QUAN TRANG PHỤC
CUNG ĐÌNH VIỆT NAM
Nghiên cứu văn hóa cung đình Việt Nam,
không thể không xét đến hai luồng tư tưởng
gây ảnh hưởng sâu đậm và mang tính quyết
định, đó là tư tưởng Đế vương và quan niệm
Hoa di. Diện mạo văn hóa trang phục của
cung đình Việt Nam cũng không nằm ngoài
Đầu hồ: 1. Đầu hồ trong cung
đình triều Nguyễn Việt Nam; 2.
Minh Tuyên Tông hành lạc đồ
- Trung Quốc; 3. Lâm hạ Đầu
hồ - Triều Tiên. 4. Ngày xuân
chơi Đầu hồ tại chùa Sensoji
Nhật Bản.
những ảnh hưởng này.
1. Những tư tưởng ảnh hưởng đến văn
hóa trang phục cung đình Việt Nam
1.1. Tư tưởng Đế vương
Bắt nguồn từ ý thức độc lập, tự chủ,
chống chọi đến cùng trước những chính sách
cai trị bạo tàn, người Việt vùng đồng bằng sông Hồng có thể coi là một
trong những cộng đồng “làm loạn” nhiều nhất trong thời còn nội thuộc
1. Chúng tôi dùng tên này để chỉ nước Triều Tiên thời kỳ phong kiến thống nhất từ năm 1910 trở về trước, khi
chưa bị Nhật Bản chiếm đóng và chưa bị chia tách thành CHDCND Triều Tiên và Hàn Quốc như hiện nay.
20
ách thống trị của Trung Quốc(1). Bất kể quan niệm của người phương Bắc
của quan nhà Tống, Trịnh Tủng: “Họ Lý từ sau Công
cho rằng, trời chỉ có một thiên tử, thiên hạ chỉ có một hoàng đế, song
Uẩn truyền đến thời Hạo Sảm ngày nay, thảy tám đời.
không ít thủ lĩnh nước Việt mỗi khi giành được độc lập, giành quyền
Tên các đời là Nhật, là Càn, là Dương, là Thiên, là Long
làm chủ cõi đất phương Nam đều xưng đế, dù khi chạm trán thiên triều
đều có ý lấn vượt bề trên. Triều đình coi nước ấy xa nơi
vẫn nhún mình xưng là bề tôi: Lý Bí xưng đế năm 544, Mai Thúc Loan
góc bể, không thèm lần lữa so đo”(1); cũng có khi lại trở
xưng đế năm 713, và năm 968, Đinh Bộ Lĩnh tự xưng Đại Thắng Minh
thành một trong những cái cớ để san bằng nước Việt,
hoàng đế… Phan Huy Chú sở dĩ coi nước Việt từ thời Đinh Lê mở nước
đối chọi với Trung Hoa , bởi tính từ thời điểm này trở đi, vị thế của một
(2)
mà đỉnh điểm là cuộc xâm lược của nhà Minh trong
những năm đầu thế kỷ XV. Việc “không tuân theo
đất nước độc lập đã được khẳng định, tư tưởng bá chủ trời Nam đã hết
chính sóc của triều đình (lịch nhà Minh), tiếm vượt đổi
sức sáng rõ như chính lời chúc của Nam Việt Vương Đinh Liễn nhắn gửi
quốc hiệu thành Đại Ngu, xưng láo tôn hiệu, đổi niên
trên cột kinh tràng: “Chúc Đại Thắng Minh hoàng đế mãi làm bá chủ trời
Nam, giữ yên ngôi báu”, “mãi trấn vững trời Nam, thứ là khuông phù đế
nghiệp.” Việc ấy cũng như lời nhận xét của quan Trung Quốc thời Minh
(3)
là Lý Văn Phượng: “Nhật Tôn tự làm đế nước ấy […] lấy quốc hiệu Đại
Việt. Từ ấy về sau, con cháu họ Lý cho tới họ Trần, Lê, Mạc đều giẫm theo
vết cũ, tiếm xưng đế hiệu.”
21
hiệu Nguyên Thánh”(2), một trong hai mươi tội ác nhà
Minh gán cho cha con họ Hồ, trên thực tế cũng chính
là quán lệ của triều đình Đại Việt. Nhưng sau bao công
sức đổ vào công cuộc giáo hóa hòng răn dạy An Nam
phải ngoan ngoãn nghe lời, ý đồ của nhà Minh vẫn
Giá đỡ chậu rửa thời
hoàn toàn sụp đổ, bởi với chiến thắng của Lê Lợi hai Nguyễn (BAVH).
(4)
mươi năm sau, “đất cát lại là đất cát An Nam, nhân
Việc vua nước Việt xưng đế,
đồng nghĩa với việc ông vua Việt
dân lại là nhân dân An Nam, phong tục áo mũ lại được đúng như xưa,
được hưởng mọi đặc quyền, nghi lễ
nền nếp mối giềng lại được sáng như cũ”(3), đặc biệt, theo Lý Văn Phượng,
dành cho thiên tử, không kém vua
Lê Lợi đã “không nghĩ đến việc thành thật hối lỗi, bề ngoài thần phục,
Trung Hoa. Thái độ của triều đình
nhưng bên trong lại rắp tâm lấn vượt, tiếm hiệu, cải nguyên để đối chọi
phương Bắc đối với việc lấn vượt,
ngang hàng với Trung Quốc.”(4)
“không kiêng dè”(5) của triều đình
Đại Việt là nhiều khi đành phải
khuất mắt trông coi như ghi nhận
Chính vì vậy, cũng dễ hiểu khi vua chúa Việt Nam luôn muốn mình
Rồng thời Lý khai quật tại
hoàng thành Thăng Long.
ngang hàng, thậm chí vượt trội so với các vị vua tài đức của Trung Hoa,
mà không phải vua chúa của một quốc gia nào khác. Sự so sánh này
khi là sự so bì về tài năng như Lý Chiêu Hoàng khen chồng, Trần Cảnh:
1. Sự “làm loạn” này được không ít quan lại phương Bắc “đưa tin” về thiên triều như Thái thú Giao Chỉ, Hợp
Phố thời Ngô là Tiết Tông (?-243) dâng sớ viết: “(Giao Chỉ) núi rừng hiểm trở, dễ làm loạn, khó trị” (An
Nam chí lược. Tr.118. Nguyên văn: 險阻山林,易以爲亂,難使從); Thứ sử Giao Châu thời Tây Tấn là Đào
Hoàng cũng viết: “Dân ở châu này thích gây họa loạn. (An Nam chí lược. Tr.121. Nguyên văn: 此州之民好
為禍亂); đến tận thời Ngũ Đại, vua Nam Hán là Lưu Nghiễm vẫn phàn nàn: “Dân Giao Chỉ ưa làm loạn”.
(An Nam chí lược. Tr.279. Nguyên văn: 交趾民好乱)
2. (Việt) Loại chí - Văn tịch chí - Tự. Nguyên văn: 自丁黎肇國,抗衡中華
3. Văn khắc Hán Nôm. Tập 1. Tr.64, 66. Nguyên văn: 祝大勝明王皇帝永霸天南,恆安寳位[…]先祝大勝
明王皇帝永鎮天南,次為匡佐帝圖
4. (Trung) Việt kiệu thư - Tổng tự - Sử 162. Tr.666. Nguyên văn: 日尊自帝其國…自是以後,其子孫及
陳、黎、莫氏皆踵其故事,僭帝號焉
5. Từ dùng của Chử Nhân Hoạch, người thời Thanh. (Trung) Kiên hồ dư tập - Q.1 - An Nam thí lục. Nguyên
văn: 安南國去中國數千里,雖名秉聲教,實自帝其國,建元剏制無忌也 (Nước An Nam cách Trung
Quốc mấy ngàn dặm, mang tiếng giữ gìn thanh giáo, nhưng kỳ thực tự làm hoàng đế một nước. Đặt niên
hiệu, định quy chế đều không kiêng dè)
“Văn chất đủ vẻ, thực thể cách quân tử hiền nhân, uy nghi đường hoàng,
có tư chất thánh thần văn võ, dù Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông cũng
1. (Trung) Trịnh Khai Dương tạp trứ - Q.6 - An Nam kỷ lược. Tr.45. Nguyên văn: 李氏自公蘊而後歷傳至今
昊旵凡八世,名字曰日曰乾曰陽曰天曰龍皆有僭上之意。朝廷以其僻在海隅,不復與較也
2. (Trung) Minh thực lục - Thái Tông thực lục - Q.60 - Mục ngày Ất Mùi tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ tư.
Nguyên văn: 不奉朝廷正朔,僭改國名大虞,妄稱尊號,紀元元聖,罪三也 Toàn thư chép niên
hiệu thời Hồ Quý Ly là Thánh Nguyên
3. (Việt) Lam Sơn thực lục - Phụ lục lời bình. Nguyên văn: 土地復安南土地,人民復安南人民。凡俗衣
冠得以復正,綱疇統紀得以復明矣
4. (Trung) Việt kiệu thư - Tự. Tr.664. Nguyên văn: 為利者不思輸誠悔罪,乃外臣服衷懷不軌, 僭號改元
以與中國抗衡
22
không hơn được”(1), hay sử thần Vũ Quỳnh khen vua Lê Thánh Tông:
dùng tiếng Hán đọc chiếu. Tờ chiếu có đoạn kể tội “Tự cho thánh triết
“Quy mô xếp đặt, công nghiệp trung hưng, có thể sánh vai với Hạ Thiếu
hơn Tam hoàng, đức cao hơn Ngũ đế; coi Văn vương, Võ vương không
Khang, nối gót được Chu Tuyên Vương, mà khinh hẳn Hán Quang Vũ,
Đường Hiến Tông là hạng dưới vậy”(2); khi là sự so sánh về đức độ như
vua Trần Dụ Tông khen vua Trần Thái Tông: “Sáng nghiệp Việt - Đường,
hai Thái Tông/ Kia xưng Trinh Quán, ta Nguyên Phong/ Kiến Thành bị
giết An Sinh sống/ Miếu hiệu như nhau, đức chẳng đồng” ; cũng có khi
(3)
chỉ đơn giản là sự so sánh về dáng vẻ của đôi tai, con mắt như trường
đủ làm phép tắc, khinh Chu công, Khổng tử không đủ làm bậc thầy; hủy
báng Mạnh Tử là đạo nho (tay nhà nho ăn trộm - TQĐ chú), Trình – Chu thạo
cóp nhặt. Dối thánh dối trời, không ngôi không thứ. Tiếm quốc hiệu gọi là
Đại Ngu, trộm kỷ nguyên gọi là Thiệu Thánh. Xư...
Bản quyền tác phẩm © Trần Quang Đức, 2013
Ảnh và tranh minh họa do tác giả chụp, vẽ và sưu tập.
Xuất bản theo hợp đồng sử dụng tác phẩm giữa Công ty Văn hóa và Truyền thông
Nhã Nam và tác giả Trần Quang Đức, 2013
Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ. Mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phân phối dưới dạng
in ấn hoặc văn bản điện tử, đặc biệt là việc phát tán trên mạng Internet mà không có sự cho
phép bằng văn bản của Nhà xuất bản là vi phạm pháp luật và làm tổn hại đến quyền lợi của
nhà xuất bản và tác giả. Không ủng hộ, khuyến khích những hành vi vi phạm bản quyền.
Chỉ mua bán bản in hợp pháp.
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trần Quang Đức
Ngàn năm áo mũ / Trần Quang Đức. - H. : Thế giới ; Công ty Văn hoá và Truyền thông
Nhã Nam, 2013. - 397tr. : ảnh, tranh ; 25cm
1. Trang phục truyền thống 2. Việt Nam
391.009597 - dc14
TGH0007p-CIP
LỜI CẢM ƠN
LỜI TỰA 1
Ngàn năm áo mũ chắc chắn không thể hoàn thành sớm nếu không
Ở nước ta, trước nay khi muốn tìm hiểu văn hóa cổ của dân tộc,
có sự giúp đỡ nhiệt tình từ phía những người bạn, người đồng nghiệp
nhất là về cách ăn mặc, người ta không biết phải trông vào đâu. Các sách
của chúng tôi.
cổ như Lịch triều hiến chương hay các sách Khâm định, Hội điển đôi khi
Nay nhân dịp cuốn sách được ra mắt bạn đọc, chúng tôi xin cảm
ơn các anh chị Trịnh Bách, Lý Tiệp, Philippe Trương, Nguyễn Lân
có nhắc đến một vài kiểu y phục, mũ mão, nhưng cũng chỉ sơ lược, và
thường không có hình ảnh dẫn chứng.
Cường, Nguyễn Như Đan Huyền, Nomura Chosho, Nguyễn Quang
Các tác phẩm trên được viết với mục đích áp dụng cho người đương
Duy, Nguyễn Nhật Anh, Nguyễn Thành Đạt, Đỗ Thận Tuấn, Nguyễn
thời, chứ không phải là sử liệu hay tài liệu văn hóa cho đời sau. Hơn nữa,
Thế Bách, Nguyễn Thị Dung, Tô Lan, Trần Văn Quyến, Nguyễn Phát
trong thời đại của các cổ tác gia đó, khi những kiểu loại trang phục được
Hà Giang, Chihiro Motohiro, Hồ Như Ý, là những người đã sao chụp,
nhắc đến trong sách của họ vẫn còn thông dụng, tên gọi họ liệt kê vẫn là
cung cấp tư liệu cho chúng tôi. Đặc biệt, Lý Tiệp còn là người giúp
các vật dụng đời thường, thì việc giải thích về chúng là không cần thiết.
chúng tôi thực hiện một số tranh vẽ phục dựng.
Tỉ dụ như ngày nay có mấy ai cần phải được giảng giải mới biết thế nào
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn anh Đinh Thanh Hiếu, Trịnh
Bách, Đoàn Ánh Dương, những người đã tận tình hiệu đính bản thảo,
là cái áo dài hay chiếc nón lá. Nhưng tương tự, vài năm nữa đây phần
đông giới trẻ sẽ không mường tượng nổi cái áo đại cán như thế nào.
bác Đỗ Lai Thúy, bác Dương Trung Quốc, anh Nguyễn Mạnh Tiến, chị
Văn hóa trang phục truyền thống Việt Nam bị mất dấu tích sâu
Quách Hiền, anh Đặng Hải Quang những người đã có nhiều sự quan
đậm nhất khi nền văn hóa Tây phương do người Pháp đưa vào được áp
tâm và giúp đỡ chúng tôi trong việc tìm kiếm các nguồn tài trợ.
đặt triệt để lên xã hội Việt Nam. Tiếp theo đó là sự đổi thay của lịch sử và
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn các anh Nguyễn Hữu Chiến,
ý thức hệ. Những biến động xã hội ấy khiến cho ngày nay không ai còn
Nguyễn Hồng Minh, Nguyễn Quang Huy cùng công ty PMC, công ty BFS
biết ông bà ta ngày xưa ăn mặc, sinh sống như thế nào. Và khi cần tái
đã tài trợ cho công trình nghiên cứu này.
hiện lối ăn mặc của người Việt trong quá khứ, người ta “sáng tác” một
Chúng tôi xin gửi lời tri ân tới ban lãnh đạo cùng các anh chị phòng
cách tùy tiện.
Tu thư, phòng Chế bản thuộc Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã
Phim ảnh là phương tiện truyền bá văn hóa cho giới trẻ hữu hiệu và
Nam, những người đã tạo nhiều điều kiện cho sự ra đời cuốn sách này.
trực tiếp, nhưng hiện nay nhiều bộ phim hay vở kịch tái hiện lịch sử lại
Chúng tôi đặc biệt cảm ơn chị Nguyễn Hoàng Diệu Thủy, biên tập viên
có phục trang truyền thống khác nhau. Rồi gần đây khi sự giao lưu văn
chính của cuốn sách, chị Mai Thị Mai, người trực tiếp trình bày cuốn
hóa trở nên dễ dàng thì trang phục truyền thống Việt Nam trong phim
sách, và anh Tạ Quốc Kỳ Nam, họa sĩ thiết kế bìa sách.
ảnh và trên sân khấu lại mang đậm dấu ấn của phim ảnh Trung Quốc.
Đây là đợt hủy diệt nguy hiểm hơn hết cho kiến thức về lịch sử văn hóa
Hà Nội, cuối xuân năm Quý Tỵ 2013
Trần Quang Đức
áo mũ truyền thống của giới trẻ Việt Nam.
LỜI TỰA 2
Thiên Quan nghĩa trong Kinh Lễ có câu: “Phàm người mà có thể
Vì thế việc ra đời của quyển sách Ngàn năm áo mũ là một sự cứu rỗi
may mắn. Có lẽ đây là một trong những tập tài liệu văn hóa, lịch sử trang
phục được nghiên cứu sâu và được biên soạn kỹ nhất ở Việt Nam, nếu
không nói là quốc tế, cho đến nay. Tác giả với vốn liếng ngoại ngữ và cổ
văn rất cao đã bỏ ra nhiều năm lăn lộn, tìm tòi ở các thư viện cũng như
dân gian ở Việt Nam và các nước, nhất là Trung Quốc, để có được những
tài liệu quý giá và chính xác đúc kết nên tác phẩm này.
Khi đọc Đại Việt sử ký toàn thư hay Lịch triều hiến chương loại chí
chẳng hạn, cái “Đinh tự cân”, hay mũ chữ “đinh” phổ biến suốt mấy thế
kỷ trong xã hội Việt Nam xưa đã làm điên đầu độc giả ngày nay. Hay thắc
mắc về kiểu cắt tóc mười phân của các đời Lý, Trần, Lê, hoặc hồng bào
của các hoàng đế Việt trước “thiên triều”. Và rất nhiều những loại áo, mũ
nữa. Tất cả được tác giả giải thích với minh chứng khoa học và minh họa
chính xác trong tập nghiên cứu Ngàn năm áo mũ này.
Xin chân thành cảm ơn tác giả Trần Quang Đức vì đã bỏ công sức
khổ nhọc và thì giờ quý báu nhưng xứng đáng của anh trong việc biên
soạn quyển sách dầy giá trị này.
là người cho đúng nghĩa là nhờ lễ nghĩa, mà mở đầu của lễ nghĩa là ở
dung thể được đoan chính, nhan sắc được trang nghiêm, lời nói được
cung thuận. Dung thể đoan chính, nhan sắc trang nghiêm, lời nói cung
thuận thì sau lễ nghĩa mới đầy đủ, để chính đạo vua tôi, thân đạo cha
con, hòa đạo lớn nhỏ. Đạo vua tôi chính, đạo cha con thân, đạo lớn nhỏ
hòa rồi sau lễ nghĩa mới lập. Cho nên đội mũ rồi sau trang phục mới đầy
đủ, trang phục đầy đủ rồi sau dung thể mới đoan chính, nhan sắc mới
trang nghiêm, lời nói mới cung thuận. Cho nên nói rằng lễ đội mũ là mở
đầu của lễ, vì thế thánh vương thời cổ rất coi trọng lễ đội mũ”.
Cổ nhân cho rằng trang phục là một phần quan trọng, thậm chí là
mở đầu của lễ, cũng tức là văn minh, để con người đúng nghĩa là con
người, khác với cầm thú.
Nước ta vốn xưng là nước văn hiến, các chính thể quân chủ lịch
triều đều có khát vọng muốn xây dựng ở cõi Nam một hệ thống điển
chương chế độ “không kém” (vô tốn) Hoa Hạ (Trung Quốc), và hầu cũng
tự hào đã từng là chốn “lễ nhạc y quan sở tụy, thanh danh văn vật sở đô”
(nơi tụ hội mũ áo lễ nhạc, văn vật thanh danh). Vật đổi sao dời, ngày nay
nhìn lại, sinh sau nghìn năm mà muốn nói chuyện nghìn năm trước,
Hà Nội, ngày 19.2.2013
Trịnh Bách
cũng không phải dễ dàng. Giờ đây muốn khảo lại y quan của cổ nhân,
ngõ hầu không thẹn như Tịch Đàm vong tổ, thì văn hiến không đủ, văn
vật cũng thưa, chỉ biết trông vào những ghi chép của các bậc tiền nhân
như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Phạm Đình Hổ v.v. hay chính sử, hội
điển các vương triều, nhưng chữ nghĩa kỳ khu, danh vật xa cách, cũng
thật khó mà hình dung tưởng tượng ra được.
Trần Quang Đức tiên sinh dành tâm huyết mấy năm để truy khảo
mũ áo nghìn năm. Ông có nhã ý đưa tôi xem bản thảo. Là người có học
chút ít chữ nho, thích truy tìm cổ điển, được cuốn sách của ông đưa vào
MỤC LỤC
PHÀM LỆ................................................. 13
TỰ LUẬN................................................. 15
thế giới y quan văn vật của cổ nhân, với tôi có sức hấp dẫn lạ thường. Với
một tư duy mạch lạc, lập luận chặt chẽ, tư liệu phong phú, kết hợp thư
tịch với đồ hình, ảnh tượng, sách vở với thực tế, tham chiếu cả trục thời
gian, không gian, cuốn sách có thể xem là đã góp phần “minh trưng”cho
điển chương văn vật của nước Việt ta, và chắc hẳn sẽ là tư liệu cần thiết
cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực.
Trần quân thông minh vốn sẵn tính trời, được đào tạo căn cơ, trong
điều kiện mới có nhiều thuận lợi, kết hợp với tâm huyết của một người
hiếu cổ nên đã làm được điều người trước muốn mà chưa làm được.
Đó là điều mà tôi thành tâm tán thán và chia vui cùng tác giả, còn
nói là viết Tựa thì tôi đâu dám!
Hà Nội, tháng Mạnh xuân năm Quý Tỵ 2013
Đinh Thanh Hiếu
TỔNG QUAN..........................................19
I. TỔNG QUAN TRANG PHỤC CUNG
ĐÌNH VIỆT NAM.................................... 19
1. Những tư tưởng ảnh hưởng đến văn
hóa trang phục cung đình Việt Nam..... 19
1.1. Tư tưởng Đế vương.......................... 19
1.2. Quan niệm Hoa di........................... 23
2. Lược sử trang phục cung đình Việt
Nam......................................................... 34
II. TỔNG QUAN TRANG PHỤC DÂN
GIAN VIỆT NAM..................................... 40
Phụ lục. Biện di luận.............................. 45
CHÍNH VĂN.......................................... 49
Chương I. TRANG PHỤC THỜI LÝ........ 49
I. Trang phục hoàng đế.......................... 53
1. Lễ phục................................................ 53
2. Thường phục....................................... 60
3. Tiện phục............................................ 66
II. Trang phục bá quan........................... 71
1. Lễ phục................................................ 71
2. Triều phục........................................... 72
3. Thường phục....................................... 75
III. Trang phục quân đội........................ 82
IV. Trang phục dân gian......................... 87
1. Y phục.................................................. 87
2. Kiểu tóc................................................ 91
Phụ lục 1. Một số ghi chép liên quan tới
trang phục Chiêm Thành từ thế kỷ XI đến
thế kỷ XV.................................................. 96
Phụ lục 2. Một số ghi chép và hình ảnh
liên quan tới vũ nhạc Việt Nam thời Lý
Trần......................................................... 99
Chương II. TRANG PHỤC THỜI TRẦN.....
............................................................... 101
I. Trang phục hoàng đế........................ 106
1. Triều phục ........................................ 106
2. Thường phục .................................... 107
3. Tiện phục . ........................................ 110
II. Trang phục bá quan......................... 112
1. Lễ phục ............................................. 112
2. Thường phục .................................... 118
*Đôi nét về bức họa Trúc Lâm đại sĩ xuất
sơn đồ..................................................... 128
III. Trang phục quân đội...................... 133
IV. Trang phục dân gian....................... 135
1. Y phục ............................................... 135
2. Kiểu tóc.............................................. 137
Phụ khảo. Cải cách quan phục năm 1396
và trang phục thời Hồ.......................... 141
Phụ lục 1. Trang phục cư tang và quan
MỤC LỤC
niệm về hai màu đen trắng ................. 147
Phụ lục 2. Số lượng thớt lụa và quạt cống
sang nhà Minh từ năm 1416 đến 1423......
............................................................... 149
Phụ lục 3. Bản hiệu chính phần Chương
phục trong sách An Nam chí lược.......150
Chương III. TRANG PHỤC THỜI LÊ...153
Trang phục thời Lê sơ...........................160
I. Trang phục hoàng đế........................161
1. Lễ phục - Triều phục........................161
2. Thường phục ....................................165
II. Trang phục bá quan.........................169
1. Công phục - Triều phục...................171
2. Thường phục.....................................175
3. Trang phục quân đội........................181
Phụ khảo. Trang phục nhà Mạc..........183
II. Trang phục bá quan.........................200
1. Triều phục ........................................202
2. Thường phục - Thị phục .................211
3. Tiện phục . ........................................224
III. Trang phục hậu cung.....................228
1. Lễ phục..............................................229
2. Tiện phục..........................................232
IV. Trang phục quân đội .....................234
V. Trang phục dân gian........................240
1. Y phục ...............................................240
2. Kiểu tóc .............................................246
Phụ khảo 1. Cải cách y phục Đàng Trong
năm 1744 – Sự ra đời và quá trình phổ
cập của áo dài năm thân......................258
Chương IV. TRANG PHỤC THỜI TÂY
SƠN........................................................267
I. Trang phục cung đình.......................267
II. Trang phục dân gian........................272
MỤC LỤC
4. Quân phục ........................................295
II. Trang phục bá quan.........................297
1. Lễ phục .............................................297
2. Triều phục ........................................307
3. Thường phục ....................................322
III. Trang phục hậu cung.....................335
1. Triều phục ........................................335
2. Thường phục ....................................342
IV. Trang phục quân đội .....................345
V. Trang phục dân gian........................348
1. Y phục ...............................................348
2. Kiểu tóc .............................................351
LỜI KẾT.................................................355
Nguyễn năm 1804
TIỂU TỪ ĐIỂN TRANG PHỤC VIỆT NAM
PHỤ LỤC............................................ 357
Bảng quy chế Triều phục của bá quan triều Lê
Trung Hưng năm 1661
Bảng quy chế Triều phục của bá quan triều Lê
Trung Hưng năm 1721
Bảng quy chế Triều phục của bá quan triều Lê
Trang phục thời Lê Trung Hưng..........187
I. Trang phục vua chúa........................188
1. Triều phục ........................................189
2. Tế phục .............................................192
3. Thường phục ....................................195
4. Tiện phục . ........................................198
Chương V. TRANG PHỤC THỜI
NGUYỄN...............................................275
I. Trang phục hoàng đế........................278
1. Lễ phục .............................................278
2. Triều phục ........................................288
3. Thường phục ....................................293
Trung Hưng năm 1725
Bảng quy chế Thị phục chầu chúa của bá
quan triều Lê Trung Hưng năm 1721
Bảng quy chế Triều phục của bá quan triều
Nguyễn năm 1804
Bảng quy chế Triều phục của bá quan triều
Nguyễn năm 1845
Bảng quy chế Triều phục của một số vị hoàng
tử, hoàng thân, tôn thất triều Nguyễn năm
1845
Bảng quy chế Thường phục của bá quan triều
THƯ MỤC SÁCH TRÍCH DẪN
PHÀM LỆ
Trong cuốn sách này, tên các sách trích dẫn
được in nghiêng, không viết tắt, ngoại trừ Đại Việt
sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương
mục, Lịch triều hiến chương loại chí, Khâm định Đại
Nam hội điển sự lệ lần lượt được gọi tắt là Toàn thư,
Cương mục, Loại chí và Hội điển. Bulletin des Amis
du Vieux Huế (Những người bạn cố đô Huế) chúng
tôi vẫn sử dụng tên viết tắt thông dụng là BAVH. Các
thông tin trong Toàn thư, Cương mục, chúng tôi chỉ dẫn năm.
Tại phần cước chú chúng tôi nhất loạt chỉ đề tên sách và vị trí
thông tin trích dẫn. Bạn đọc có thể tra các thông tin đầy đủ liên
quan đến tên tác giả, nhà xuất bản và năm xuất bản tại phần
thư mục trích dẫn ở cuối sách.
Với các tư liệu Hán văn cổ, chúng tôi trực tiếp dịch ra
quốc văn, không chú kèm âm Hán Việt trong nội dung chính,
nguyên văn sẽ được chú dẫn đầy đủ tại phần cước chú để bạn
đọc quan tâm tiện tham khảo. Quy cách chú dẫn như sau: (Tên
nước) Tên sách - Phân mục. Ví dụ: (Triều) Chi Phong tiên sinh
tập - Q.8 - An Nam quốc sứ thần xướng họa vấn đáp lục - Hậu,
tức là phần Hậu trong mục An Nam quốc sứ thần xướng họa
vấn đáp lục nằm trong Quyển 8 sách Chi Phong tiên sinh tập
của Triều Tiên - Hàn Quốc.
Một số bản tư liệu cổ sao chụp được chúng tôi khai
thác tại các trang web như cadal.zju.edu.cn (Trung Mỹ
bách vạn đồ thư), archive.org, record.museum.
kyushu-u.ac.jp (Bảo tàng Đại học Kyushu, Nhật
Bản), yoksa.aks.ac.kr/main.jsp (Trung tâm Thông
tin Nghiên cứu Hàn Quốc, Học viện Nghiên cứu
Hàn Quốc) v.v. Bạn đọc quan tâm có thể tham
khảo trực tiếp trên các trang web này.
TỰ LUẬN
Sự thiếu khuyết sử liệu - hiện vật là một trong những trở ngại lớn,
gây nhiều khó khăn cho các nhà nghiên cứu khi lần tìm diện mạo trang
phục cổ của người Việt Nam. Ngay Phan Huy Chú (1782-1840) trong
Loại chí cũng phải thừa nhận có nhiều kiểu mũ ông không thể khảo
được. Tuy thiên về khảo quy chế trang phục vua quan triều Hậu Lê, Loại
chí vẫn được coi là tập chuyên khảo trang phục các triều đại đầu tiên tại
Việt Nam.
Tham khảo Lịch triều hiến chương loại chí và Khâm định Đại Nam
Hội điển sự lệ, Trương Quốc Dụng (1797 - 1864) hoàn thành phần khảo
quy chế áo mão cung đình từ triều Tiền Lê cho tới triều Nguyễn, ghi lại
trong Công hạ ký văn. Năm 1915, Phan Kế Bính với Việt Nam phong tục,
năm 1938, Đào Duy Anh với Việt Nam văn hóa sử cương, bước đầu vạch
ra những nét phác họa chung cho trang phục dân gian Việt Nam. Năm
1970, Nhất Thanh với Đất lề quê thói, Toan Ánh với Nếp cũ con người
Việt Nam tiếp tục đặt bút khắc tả lối ăn vận dân gian theo tập quán thời
Nguyễn v.v. Hơn hai chục năm trở lại đây xuất hiện thêm một số nhà
nghiên cứu trang phục như Đoàn Thị Tình (Tìm hiểu trang phục Việt
Nam - 1988, Trang phục Việt Nam - 2006, Trang phục Thăng Long Hà
Nội - 2010), Ngô Đức Thịnh (Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam
- 1994), Trịnh Quang Vũ (Lịch sử trang phục các triều đại phong kiến Việt
Nam - 2005, Trang phục triều Lê Trịnh - 2008) v.v. với sự tiếp cận rộng
hơn tới lịch sử trang phục Việt.
Thiết nghĩ, để hiểu được lịch sử tư tưởng, văn hóa và mỹ thuật Việt
Nam, nghiên cứu trang phục cổ chính là một ngành vô cùng quan trọng,
cần tới sự tiếp cận mang tính khoa học, liên ngành, gắn với những chứng
lý đầy đủ, xác thực. Những cuốn sách khảo cứu gần đây tuy có những
đóng góp nhất định, nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế, như thường
xuyên sử dụng cách dẫn chứng hàm hồ kiểu “sử cũ ghi”, “sử xưa chép
lại rằng”, “tương truyền rằng” mà không chú rõ nguồn dẫn, xuất xứ; việc
nghiên cứu nhiều khi chỉ dừng lại ở việc công bố một số tư liệu liên quan,
thiếu thao tác khảo cứu, phân tích cụ thể; việc xác định, định danh các
16
dạng áo mũ hầu hết mang nặng tính tư biện, ức đoán. Mặt khác, tư liệu
thượng đẳng thần dùng hình long mã.” (Kiến văn tiểu lục). Đại Nam thực
Hán Nôm được trích dẫn phần lớn là từ các bản dịch tiếng Việt sẵn có,
lục còn cho biết vào thời Minh Mạng, Văn miếu tỉnh Ninh Bình có tượng
trong khi chính những bản dịch này rất hạn chế về mặt số lượng, đồng
Khổng Tử và bốn vị thánh của đạo Nho đều đội mũ Miện, mặc áo Cổn;
thời tồn tại nhiều chỗ dịch không chuẩn xác, nhất là trong các phần đề
vua Minh Mạng và các quan đều cho rằng Cổn Miện là trang phục của
cập tới trang phục.
bậc vương giả, cách ăn mặc thể hiện trên tượng như vậy là thất lễ, nên hạ
Trong cuốn sách này, chúng tôi không đi sâu khảo cứu phương
lệnh đem chôn. Những dẫn chứng này khiến chúng tôi muốn lưu ý rằng,
thức chế tác vải vóc, thêu thùa mà chủ yếu làm rõ kiểu dáng, quy chế
không thể khinh suất dựa vào các pho tượng được tạc dựng vào triều đại
của các loại áo mũ từng được sử dụng phổ biến trong cung đình và dân
sau này để ức đoán trang phục của triều đại trước đây, như trường hợp
gian Việt Nam từ thời Lý đến thời Nguyễn. Đối với văn hóa cung đình,
một số người nghiên cứu khi khảo trang phục của vua Lý Thái Tổ (974-
sự phân chia giai tầng xã hội được quy định nghiêm ngặt, chế độ áo mũ
1028) đã dựa vào pho tượng chùa Kiến Sơ mang đậm thủ pháp dân gian
do đó cũng có luật lệ riêng, như Phan Huy Chú khẳng định: “Đạo trị
cuối thời Hậu Lê thế kỷ XVIII.
nước không gì lớn bằng Lễ, Lễ là để làm rõ tôn ti […] Quy chế áo mũ, nghi
Các dữ liệu mô tả trang phục của vua quan Việt Nam thời phong
vệ là để phân biệt trên dưới.” (Loại chí – Lễ nghi chí) Lâu nay, trong đại
kiến hầu hết là tư liệu Hán văn, nếu không có kiến thức nhất định trong
chúng và trong một bộ phận giới nghiên cứu tồn tại một cảm quan rằng
lĩnh vực cổ trang, khi phiên dịch người dịch dễ để lại nhiều sai lạc. Không
triều đình Việt Nam đậm chất dân gian, tôn ti lỏng lẻo, khác với triều
thể phủ nhận, bản dịch của tiền nhân cũng có những sai sót khiến nhiều
đình Trung Quốc. Dĩ nhiên, văn hóa cung đình Việt Nam không quá
người nghiên cứu về sau bị sai theo. Như bản dịch Toàn thư lưu hành
mức phức tạp, nhiêu khê, và ở từng triều đại khác nhau, tính tôn ti, bảo
hiện nay dịch áo Xưởng Hạc là áo lông hạc, mũ Thất Lương Quan là mũ
thủ cũng được thể hiện không đồng đều, song rõ ràng cung đình luôn là
bảy cầu, mũ trụ đính cánh phượng bằng vàng (kim phượng xí) là cánh
nơi duy trì một lề lối văn hóa nghiêm cẩn, không đại khái, linh hoạt như
mũ thêu phượng vàng v.v. Bản dịch An Nam chí lược dịch phương tâm
văn hóa dân gian. Nhìn nhận rõ sự khu biệt giai cấp này, những quy chế
khúc lĩnh là tim vuông tràng áo cong, mũ Đường Cân là khăn tàu v.v.
phân biệt cao thấp, sang hèn trong trang phục thời phong kiến - quân
Trên thực tế, Xưởng Hạc, Lương Quan, phương tâm khúc lĩnh, phượng
chủ cũng sẽ được soi tỏ.
xí, Đường Cân đều là tên riêng của các loại áo, mũ, phục sức. Vậy nên
Cũng ở đây, đối với tư liệu tranh tượng, chúng tôi tiến hành khảo
khi khảo cứu, chúng tôi cố gắng truy nguyên về nguồn, tìm ra tư liệu gốc
sát thận trọng dựa trên tính đồng đại của hiện vật, kết hợp hiện vật với
làm cơ sở, diễn dịch những tư liệu đó một cách chuẩn xác, nhằm đưa ra
những mô tả trong thư tịch tương quan. Lấy ví dụ, sau những biến động
những kết quả nghiên cứu đáng tin cậy.
to lớn diễn ra vào cuối thời Trần - Hồ, đặc biệt là sau 20 năm thuộc Minh,
Do tư liệu khan hiếm, trong cuốn sách này, chúng tôi chỉ có thể
tuyệt đại đa số tượng thờ vua quan thời Lý - Trần đều đã bị phá hủy.
bước đầu khảo cứu trang phục cung đình Việt Nam từ triều Lý tới triều
Các pho tượng có thể thấy hiện nay phần lớn được tạo dựng vào thế kỷ
Nguyễn (1009 - 1945), những thông tin liên quan đến trang phục cung
XVIII, XIX, với mô típ đội mũ Phốc Đầu hoặc mũ Xung Thiên, mặc áo
đình trước thời Lý sẽ được trình bày tại phần Tổng quan. Chúng tôi biết
cổ tròn đính Bổ Tử. Trong khi quy chế Bổ Tử lần đầu tiên được áp dụng
việc nghiên cứu chưa thể dừng lại ở đây, những hạn chế về mặt chuyên
vào triều đình Đại Việt vào năm 1471, thời vua Lê Thánh Tông; hơn nữa
môn, về tư liệu luôn cần được bổ khuyết. Trong tương lai có thể có những
một trong những quy định tạc tượng thời Cảnh Hưng (1767) cũng được
ý kiến mới, những phát hiện mới giúp củng cố hoặc bác bỏ kết luận nào
Lê Quý Đôn ghi rõ: “Vị thần nào dự vào hạng tối linh thì vẫn để như cũ,
đó của chúng tôi, dù theo hướng nào chúng tôi vẫn trân trọng coi đó là
còn bầy tôi các triều đại trước được dự phong phúc thần, đều theo lệ mới
sự đóng góp tích cực cho nghiên cứu này.
[…] Mũ các vị thần đội, đều dùng mũ Phốc Đầu […] cấm dùng hình dạng
mũ Xung Thiên chập cánh […] Bổ tử, trung đẳng thần dùng hình kỳ lân,
17
TỔNG QUAN
Để tiện khảo cứu và trình bày, chúng tôi
phân trang phục thời phong kiến - quân chủ
thành hai loại hình: cung đình và dân gian.
Trong đó, trang phục cung đình, ở giai đoạn
phong kiến - quân chủ, với tư cách là văn hiến
áo mũ của một quốc gia độc lập, đã trải qua
những vận động đặc thù, để mang một diện
mạo vừa có nét tương đồng, vừa có điểm dị
biệt so với trang phục của triều đình các nước
Trung Quốc, Triều Tiên(1), Nhật Bản.
I. TỔNG QUAN TRANG PHỤC
CUNG ĐÌNH VIỆT NAM
Nghiên cứu văn hóa cung đình Việt Nam,
không thể không xét đến hai luồng tư tưởng
gây ảnh hưởng sâu đậm và mang tính quyết
định, đó là tư tưởng Đế vương và quan niệm
Hoa di. Diện mạo văn hóa trang phục của
cung đình Việt Nam cũng không nằm ngoài
Đầu hồ: 1. Đầu hồ trong cung
đình triều Nguyễn Việt Nam; 2.
Minh Tuyên Tông hành lạc đồ
- Trung Quốc; 3. Lâm hạ Đầu
hồ - Triều Tiên. 4. Ngày xuân
chơi Đầu hồ tại chùa Sensoji
Nhật Bản.
những ảnh hưởng này.
1. Những tư tưởng ảnh hưởng đến văn
hóa trang phục cung đình Việt Nam
1.1. Tư tưởng Đế vương
Bắt nguồn từ ý thức độc lập, tự chủ,
chống chọi đến cùng trước những chính sách
cai trị bạo tàn, người Việt vùng đồng bằng sông Hồng có thể coi là một
trong những cộng đồng “làm loạn” nhiều nhất trong thời còn nội thuộc
1. Chúng tôi dùng tên này để chỉ nước Triều Tiên thời kỳ phong kiến thống nhất từ năm 1910 trở về trước, khi
chưa bị Nhật Bản chiếm đóng và chưa bị chia tách thành CHDCND Triều Tiên và Hàn Quốc như hiện nay.
20
ách thống trị của Trung Quốc(1). Bất kể quan niệm của người phương Bắc
của quan nhà Tống, Trịnh Tủng: “Họ Lý từ sau Công
cho rằng, trời chỉ có một thiên tử, thiên hạ chỉ có một hoàng đế, song
Uẩn truyền đến thời Hạo Sảm ngày nay, thảy tám đời.
không ít thủ lĩnh nước Việt mỗi khi giành được độc lập, giành quyền
Tên các đời là Nhật, là Càn, là Dương, là Thiên, là Long
làm chủ cõi đất phương Nam đều xưng đế, dù khi chạm trán thiên triều
đều có ý lấn vượt bề trên. Triều đình coi nước ấy xa nơi
vẫn nhún mình xưng là bề tôi: Lý Bí xưng đế năm 544, Mai Thúc Loan
góc bể, không thèm lần lữa so đo”(1); cũng có khi lại trở
xưng đế năm 713, và năm 968, Đinh Bộ Lĩnh tự xưng Đại Thắng Minh
thành một trong những cái cớ để san bằng nước Việt,
hoàng đế… Phan Huy Chú sở dĩ coi nước Việt từ thời Đinh Lê mở nước
đối chọi với Trung Hoa , bởi tính từ thời điểm này trở đi, vị thế của một
(2)
mà đỉnh điểm là cuộc xâm lược của nhà Minh trong
những năm đầu thế kỷ XV. Việc “không tuân theo
đất nước độc lập đã được khẳng định, tư tưởng bá chủ trời Nam đã hết
chính sóc của triều đình (lịch nhà Minh), tiếm vượt đổi
sức sáng rõ như chính lời chúc của Nam Việt Vương Đinh Liễn nhắn gửi
quốc hiệu thành Đại Ngu, xưng láo tôn hiệu, đổi niên
trên cột kinh tràng: “Chúc Đại Thắng Minh hoàng đế mãi làm bá chủ trời
Nam, giữ yên ngôi báu”, “mãi trấn vững trời Nam, thứ là khuông phù đế
nghiệp.” Việc ấy cũng như lời nhận xét của quan Trung Quốc thời Minh
(3)
là Lý Văn Phượng: “Nhật Tôn tự làm đế nước ấy […] lấy quốc hiệu Đại
Việt. Từ ấy về sau, con cháu họ Lý cho tới họ Trần, Lê, Mạc đều giẫm theo
vết cũ, tiếm xưng đế hiệu.”
21
hiệu Nguyên Thánh”(2), một trong hai mươi tội ác nhà
Minh gán cho cha con họ Hồ, trên thực tế cũng chính
là quán lệ của triều đình Đại Việt. Nhưng sau bao công
sức đổ vào công cuộc giáo hóa hòng răn dạy An Nam
phải ngoan ngoãn nghe lời, ý đồ của nhà Minh vẫn
Giá đỡ chậu rửa thời
hoàn toàn sụp đổ, bởi với chiến thắng của Lê Lợi hai Nguyễn (BAVH).
(4)
mươi năm sau, “đất cát lại là đất cát An Nam, nhân
Việc vua nước Việt xưng đế,
đồng nghĩa với việc ông vua Việt
dân lại là nhân dân An Nam, phong tục áo mũ lại được đúng như xưa,
được hưởng mọi đặc quyền, nghi lễ
nền nếp mối giềng lại được sáng như cũ”(3), đặc biệt, theo Lý Văn Phượng,
dành cho thiên tử, không kém vua
Lê Lợi đã “không nghĩ đến việc thành thật hối lỗi, bề ngoài thần phục,
Trung Hoa. Thái độ của triều đình
nhưng bên trong lại rắp tâm lấn vượt, tiếm hiệu, cải nguyên để đối chọi
phương Bắc đối với việc lấn vượt,
ngang hàng với Trung Quốc.”(4)
“không kiêng dè”(5) của triều đình
Đại Việt là nhiều khi đành phải
khuất mắt trông coi như ghi nhận
Chính vì vậy, cũng dễ hiểu khi vua chúa Việt Nam luôn muốn mình
Rồng thời Lý khai quật tại
hoàng thành Thăng Long.
ngang hàng, thậm chí vượt trội so với các vị vua tài đức của Trung Hoa,
mà không phải vua chúa của một quốc gia nào khác. Sự so sánh này
khi là sự so bì về tài năng như Lý Chiêu Hoàng khen chồng, Trần Cảnh:
1. Sự “làm loạn” này được không ít quan lại phương Bắc “đưa tin” về thiên triều như Thái thú Giao Chỉ, Hợp
Phố thời Ngô là Tiết Tông (?-243) dâng sớ viết: “(Giao Chỉ) núi rừng hiểm trở, dễ làm loạn, khó trị” (An
Nam chí lược. Tr.118. Nguyên văn: 險阻山林,易以爲亂,難使從); Thứ sử Giao Châu thời Tây Tấn là Đào
Hoàng cũng viết: “Dân ở châu này thích gây họa loạn. (An Nam chí lược. Tr.121. Nguyên văn: 此州之民好
為禍亂); đến tận thời Ngũ Đại, vua Nam Hán là Lưu Nghiễm vẫn phàn nàn: “Dân Giao Chỉ ưa làm loạn”.
(An Nam chí lược. Tr.279. Nguyên văn: 交趾民好乱)
2. (Việt) Loại chí - Văn tịch chí - Tự. Nguyên văn: 自丁黎肇國,抗衡中華
3. Văn khắc Hán Nôm. Tập 1. Tr.64, 66. Nguyên văn: 祝大勝明王皇帝永霸天南,恆安寳位[…]先祝大勝
明王皇帝永鎮天南,次為匡佐帝圖
4. (Trung) Việt kiệu thư - Tổng tự - Sử 162. Tr.666. Nguyên văn: 日尊自帝其國…自是以後,其子孫及
陳、黎、莫氏皆踵其故事,僭帝號焉
5. Từ dùng của Chử Nhân Hoạch, người thời Thanh. (Trung) Kiên hồ dư tập - Q.1 - An Nam thí lục. Nguyên
văn: 安南國去中國數千里,雖名秉聲教,實自帝其國,建元剏制無忌也 (Nước An Nam cách Trung
Quốc mấy ngàn dặm, mang tiếng giữ gìn thanh giáo, nhưng kỳ thực tự làm hoàng đế một nước. Đặt niên
hiệu, định quy chế đều không kiêng dè)
“Văn chất đủ vẻ, thực thể cách quân tử hiền nhân, uy nghi đường hoàng,
có tư chất thánh thần văn võ, dù Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông cũng
1. (Trung) Trịnh Khai Dương tạp trứ - Q.6 - An Nam kỷ lược. Tr.45. Nguyên văn: 李氏自公蘊而後歷傳至今
昊旵凡八世,名字曰日曰乾曰陽曰天曰龍皆有僭上之意。朝廷以其僻在海隅,不復與較也
2. (Trung) Minh thực lục - Thái Tông thực lục - Q.60 - Mục ngày Ất Mùi tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ tư.
Nguyên văn: 不奉朝廷正朔,僭改國名大虞,妄稱尊號,紀元元聖,罪三也 Toàn thư chép niên
hiệu thời Hồ Quý Ly là Thánh Nguyên
3. (Việt) Lam Sơn thực lục - Phụ lục lời bình. Nguyên văn: 土地復安南土地,人民復安南人民。凡俗衣
冠得以復正,綱疇統紀得以復明矣
4. (Trung) Việt kiệu thư - Tự. Tr.664. Nguyên văn: 為利者不思輸誠悔罪,乃外臣服衷懷不軌, 僭號改元
以與中國抗衡
22
không hơn được”(1), hay sử thần Vũ Quỳnh khen vua Lê Thánh Tông:
dùng tiếng Hán đọc chiếu. Tờ chiếu có đoạn kể tội “Tự cho thánh triết
“Quy mô xếp đặt, công nghiệp trung hưng, có thể sánh vai với Hạ Thiếu
hơn Tam hoàng, đức cao hơn Ngũ đế; coi Văn vương, Võ vương không
Khang, nối gót được Chu Tuyên Vương, mà khinh hẳn Hán Quang Vũ,
Đường Hiến Tông là hạng dưới vậy”(2); khi là sự so sánh về đức độ như
vua Trần Dụ Tông khen vua Trần Thái Tông: “Sáng nghiệp Việt - Đường,
hai Thái Tông/ Kia xưng Trinh Quán, ta Nguyên Phong/ Kiến Thành bị
giết An Sinh sống/ Miếu hiệu như nhau, đức chẳng đồng” ; cũng có khi
(3)
chỉ đơn giản là sự so sánh về dáng vẻ của đôi tai, con mắt như trường
đủ làm phép tắc, khinh Chu công, Khổng tử không đủ làm bậc thầy; hủy
báng Mạnh Tử là đạo nho (tay nhà nho ăn trộm - TQĐ chú), Trình – Chu thạo
cóp nhặt. Dối thánh dối trời, không ngôi không thứ. Tiếm quốc hiệu gọi là
Đại Ngu, trộm kỷ nguyên gọi là Thiệu Thánh. Xư...
 





