Sách Nói] Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn - Chương 1
Phong cach Bac Ho den co so

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Ý Nhi
Ngày gửi: 11h:15' 12-04-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 7
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Ý Nhi
Ngày gửi: 11h:15' 12-04-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích:
0 người
Biên mục trên xuất bản phẩm
của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Hồng Khanh
Phong cách Bác Hồ đến cơ sở / Hồng Khanh.
- Tái bản. - H. : Chính trị Quốc gia, 2018. - 256tr.
; 15cm
1. Hồ Chí Minh, 1890-1969, Lãnh tụ cách
mạng, chính trị gia, Việt Nam 2. Phong cách 3.
Lối sống 4. Truyện kể
959.704092 - dc23
CTF0336p-CIP
5
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
C
hủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương
đạo đức của một vĩ nhân, một lãnh
tụ cách mạng, người cộng sản vĩ đại, anh
hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn,
nhưng đồng thời cũng là một con người
bình dị, gần gũi, ai cũng có thể học và làm
theo, đặc biệt về phong cách của Bác.
Trong đời sống hằng ngày, ngoài những
lúc làm việc và tiếp khách, Bác thường
tranh thủ đi thăm, chuyện trò thân tình
với các cụ già, gặp gỡ chiến sĩ và đồng bào
các địa phương để nắm tình hình và tâm
tư, nguyện vọng của Nhân dân. Điều đó đã
trở thành một nhu cầu, một nếp sống, trở
thành điều tâm niệm suốt đời của Người.
6
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
Theo một thống kê chưa đầy đủ, chỉ tính
trong vòng 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở miền Bắc (1955 - 1965), không quản
tuổi cao, công việc bề bộn, Bác đã trên 700
lượt đi thăm các địa phương, công trường,
xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội..., từ
miền núi đến hải đảo để thăm hỏi chiến sĩ
và đồng bào, xem xét tình hình, kiểm tra
công việc. Tính ra mỗi năm có hơn 60 lần
Người đi xuống cơ sở, mỗi tháng có khoảng
6 lần Người gặp gỡ quần chúng. Đó là một
kỷ lục khó ai có thể vượt qua, nhất là đối
với một lãnh tụ ở tuổi 70.
Mỗi người dân Việt Nam đều giữ trọn
trong trái tim mình hình ảnh Bác Hồ
trong bộ quần áo bình dị, lội ruộng với
nông dân, cùng tát nước chống hạn, cùng
cuốc đất, đẩy xe với người lao động. Mỗi
khi đi thăm các cơ sở, Người không cho báo
NH
B N
7
trước. Người muốn biết thực chất tình hình
của cơ sở, chứ không chỉ nghe qua báo cáo.
Khi xuống đến cơ sở, điều quan tâm đầu
tiên của Người là xem nơi ăn chốn ở, đến
nhà ăn tập thể, nhà vệ sinh trước rồi mới
ra hội trường nói chuyện với mọi người. Tác
phong sâu sát, tỷ mỷ, cụ thể thiết thực của
Người là mẫu mực của phong cách người
lãnh đạo, người “đầy tớ của nhân dân”. Bác
đến với mọi người một cách rất tự nhiên và
bình dị. Mọi nghi thức đối với Người đều trở
thành không cần thiết.
Để tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên
truyền, học tập và làm theo phong cách
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia Sự thật tái bản cuốn
sách: Phong cách Bác Hồ đến cơ sở
của Nhà báo Hồng Khanh - Nguyên Ủy
viên Ban Biên tập Báo Nhân dân.
8
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
Thông qua lời kể của các đồng chí
nhiều năm được sống và làm việc cùng
Bác, Nhà báo Hồng Khanh đã ghi lại
những câu chuyện Bác Hồ đi thăm cơ sở,
từ lên mặt trận, ra cánh đồng, vào xưởng
máy, dự lớp học đến vui đón Tết. Mỗi câu
chuyện đều thể hiện phong cách giản dị,
gần gũi nhưng rất tinh tế của Bác. Lối
sống, tác phong quần chúng của Bác luôn
là chuẩn mực nhân cách con người cách
mạng nhưng lại không xa lạ với mỗi con
người bình thường, mà ai cũng có thể soi
mình, học tập, noi theo.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách
cùng bạn đọc.
Tháng 3 năm 2018
NHÀ XUẤT BẢN
CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
9
LỜI NÓI ĐẦU
N
gày 06-3-1947, không khí bớt se
lạnh, ánh sáng mặt trời tỏa dần
sau những đám mây mỏng. Tại nhà ông
Hoàng Văn Nguyên ở xã Cổ Tiết, huyện
Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, Bác Hồ và tám
đồng chí trực tiếp giúp việc cho Bác đang
ngồi bàn công tác xoay quanh ý định làm
sao nhanh chóng thực hiện được “quân sự
hóa”. Nghĩa là bộ phận trực tiếp giúp việc
Chủ tịch Hồ Chí Minh phải tổ chức gọn
nhẹ, dễ cơ động, linh hoạt, bí mật, hiệu
quả, đi không ai biết, đến không ai hay,
cho nên mỗi người phải có một cái balô.
Ngoài ra còn có một cái balô để đựng máy
chữ của Bác Hồ mang từ Hà Nội lên.
10
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
Cuộc họp vừa kết thúc, cả tám đồng chí
đang ngồi quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh
bỗng lấy làm phấn khởi khi thấy Bác nhìn
âu yếm từng người một. Đó là đồng chí Võ
Chương, quê ở Thừa Thiên Huế, nguyên
là giáo viên hoạt động ở Hà Nội, sau Cách
mạng Tháng Tám năm 1945 trở thành
chiến sĩ trong Đội cứu quốc thành Hoàng
Diệu, được đồng chí Nguyễn Lương Bằng
chọn bổ sung vào tổ bảo vệ Bác Hồ. Đồng
chí Nguyễn Cần quê ở huyện Thường
Tín, Hà Nội, từng tham gia thanh niên
phản đế trường Bưởi, Hà Nội, bị Sở Mật
thám Pháp bắt giam ở Hỏa Lò năm 1943,
tháng 9-1945 vượt ngục, trở về công tác
cùng đồng chí Trần Đăng Ninh. Đồng chí
Nguyễn Văn Lý quê ở tỉnh Thái Bình, tham
gia hoạt động cách mạng trong phong trào
công nhân từ trước năm 1940, bị địch bắt
N
Đ
11
giam ở Sơn La, rồi vượt ngục trở về hoạt
động ở căn cứ địa Tân Trào, tỉnh Tuyên
Quang. Đồng chí Nguyễn Hữu Văn, quê
ở tỉnh Hải Dương, từng hoạt động trong
phong trào Thanh niên cứu quốc Hà Nội,
cuối năm 1945 được tuyển vào tổ bảo vệ
Bác Hồ. Đồng chí Hoàng Văn Lâm, người
dân tộc thiểu số, sớm giác ngộ cách mạng.
Đồng chí Chu Phương Vương, người dân
tộc Tày, quê ở tỉnh Cao Bằng, giúp việc cho
Bác Hồ từ tháng 7-1945. Đồng chí Nguyễn
Quang Chí, đồng chí Trần Đình, dân tộc
Nùng, quê ở tỉnh Cao Bằng, chiến sĩ giải
phóng quân.
Cả tám đồng chí nói trên đang ngồi
lặng im chờ ý kiến của Bác thì bỗng thấy
Bác vừa đưa tay chỉ từ trái sang phải
theo thứ tự hình vòng tròn, vừa chậm rãi,
nhẹ nhàng nói:
12
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
- Từ hôm nay Bác đặt tên của mỗi
chú như sau: Chú Võ Chương là Trường,
chú Nguyễn Cần là Kỳ, chú Nguyễn
Văn Lý là Kháng, chú Nguyễn Hữu Văn
là Chiến, chú Hoàng Văn Lâm là Nhất,
chú Chu Phương Vương là Định, chú
Nguyễn Quang Chí là Thắng, chú Trần
Đình là Lợi.
Nói xong, lặng giây lát, Bác lại nhắc
tên tám đồng chí vừa mới đặt: Trường,
Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng,
Lợi. Rồi Bác nhẹ nhàng nói một câu:
- Các chú có biết tại sao Bác đặt tên
các chú như vậy không?
Cả tám người liếc nhìn nhau, suy nghĩ,
chưa ai lên tiếng. Bác giải thích luôn:
- Nhân dân ta vừa giành được chính
quyền chưa bao lâu thì đã phải bước vào
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
N
Đ
13
trở lại xâm lược nước Việt Nam. Nhiệm
vụ trước mắt và lâu dài của Bác là cùng
với Đảng, Chính phủ, Mặt trận lãnh đạo
Nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến
đến ngày thắng lợi. Bác đặt tên các chú
theo khẩu hiệu “Trường kỳ kháng chiến
nhất định thắng lợi” là để hằng ngày Bác
gọi đến tên các chú, hay nhớ đến các chú
là nhắc nhở Bác phải làm sao tìm mọi
mưu kế, biện pháp để hoàn thành bằng
được nhiệm vụ cao cả đó.
Niềm vinh dự tự hào được Chủ tịch
Hồ Chí Minh đặt tên mình gắn với ý chí
và quyết tâm của toàn dân tộc đang bước
vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống
thực dân Pháp trở lại xâm lược đầy khó
khăn, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi
càng thôi thúc tám đồng chí không ngừng
14
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
vươn lên làm tốt nhiệm vụ. Từ đấy, hai
tiếng Bác Hồ chính thức được gọi thay cho
năm chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh” với cả
tấm lòng kính trọng, biết ơn, gần gũi và
thương yêu vô hạn. Đối với những người
được vinh dự trực tiếp giúp việc cho Bác
Hồ càng hết sức vui mừng được Bác gọi
bằng “Chú” với tình thương ân cần, trìu
mến, giúp đỡ, dạy bảo, không hề có chút
cách biệt. Nhiều đồng chí đã lấy tên mà
Bác đặt cho mình làm tên chính thức suốt
đời, như: Kỳ - tức Vũ Kỳ - tức Nguyễn
Cần; Kháng - tức Hoàng Hữu Kháng - tức
Nguyễn Văn Lý; Chiến - tức Tạ Quang
Chiến - tức Nguyễn Hữu Văn, v.v.. Vài ba
đồng chí do yêu cầu công tác phải chuyển
sang đơn vị khác, Bác lại đặt tên cho
đồng chí mới đến thay như tên đồng chí
N
Đ
15
đã chuyển. Câu khẩu hiệu: “Trường kỳ
kháng chiến nhất định thắng lợi” luôn ở
bên Bác. Vì thế, khi kháng chiến chống
Pháp thắng lợi đã có ba đồng chí mang
tên Trường, hai đồng chí mang tên Nhất,
hai đồng chí mang tên Thắng.
Một hôm, trong không khí hòa bình, mới
về lại Thủ đô Hà Nội, sau khi miền Bắc
được giải phóng, nhân lúc Bác cháu đang
nói chuyện vui sau bữa cơm chiều, một
đồng chí quá lạc quan, đề nghị với Bác:
- Thưa Bác! Để phù hợp với tình hình
mới, xin Bác cho đổi tên của hai đồng chí
Kháng và Chiến thành hai tên Hòa, Bình!
Bác nhẹ nhàng trả lời, nhưng nét mặt
hơi nghiêm:
- Có kháng chiến mới có hòa bình. Song
hiện nay chưa thể gọi là hòa bình, còn phải
chuẩn bị kháng chiến ở miền Nam, vì đế
16
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn chưa dễ gì
ngoan ngoãn làm theo Hiệp định Giơnevơ
năm 1954. Vì vậy, chớ có chủ quan.
Câu nói của Bác như một lời tiên tri.
Thực tế đã diễn ra như vậy. Từ đấy, trong
hoàn cảnh miền Bắc được giải phóng,
miền Nam còn tạm thời trong tay Mỹ ngụy, tính chất công việc ở bộ phận trực
tiếp giúp Bác Hồ lại càng đòi hỏi mỗi
người phải làm việc sâu sát hơn, tỷ mỷ
hơn, chính xác hơn, hiệu quả hơn, năng
nổ hơn, luôn luôn phát huy tinh thần
truyền thống khẩu hiệu: “Trường kỳ
kháng chiến nhất định thắng lợi”. Lời
hứa khẳng định đó của Bác, 30 năm sau
trở thành hiện thực.
Những đồng chí nói trên được vinh dự
trực tiếp giúp việc cho Bác Hồ và được
Bác đặt tên theo khẩu hiệu chiến lược ấy,
N
Đ
17
sau khi đến tuổi nghỉ hưu có thêm thời
gian rỗi rãi, nhớ lại, suy ngẫm, càng nhớ
như in những chuyến lần lượt thay nhau
đi theo Bác đến cơ sở. Bởi vì, mỗi lần Bác
đi cơ sở chỉ có ba hoặc bốn người giúp việc
cần thiết đi theo, rất đơn giản, gọn nhẹ,
không kềnh càng, nặng nề, gây phiền toái
cho ai. Chuyến đi nào cần có cán bộ hiểu
biết chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó đi
cùng thì Bác bảo bộ chủ quản lĩnh vực ấy
cử một người đến cùng đi với Bác. Cách
tổ chức đi như vậy, theo ý Bác vừa là linh
hoạt, tiện cơ động, mau lẹ, không cần phải
có một bộ phận thường trực ở văn phòng
Bác, vừa nâng cao trách nhiệm. Đến cả
những lần đi nước ngoài (trừ những lần
đi thăm chính thức theo nghi lễ phải có
đoàn này, bộ nọ), Bác chỉ cho “biên chế” ba
người gồm: Bác, đồng chí Vũ Kỳ, đồng chí
18
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
cần vụ. Bác nói Bác chỉ cần một khoang
nho nhỏ trên máy bay. Nghĩa là Bác vẫn
đi chung với hành khách trong một máy
bay. Phiên dịch thì Bác bảo sang đến nước
bạn, lấy một người trong số cán bộ, sinh
viên của ta đang học ở bên đó. Thầy thuốc
thì Bác nói Bác không ốm đau gì mà cần
đến thầy thuốc đi theo. Nếu có ốm đau thì
một thầy thuốc Việt Nam cũng chẳng giải
quyết được. Còn bảo vệ thì Bác cho rằng
có đem theo một tiểu đội cũng không làm
gì được nếu có sự cố xảy ra.
Nói tóm lại, Bác luôn luôn nghĩ đến
dân, tin vào dân và cơ sở. Bác coi việc
đến với dân như sự sống cần đến không
khí. Bác coi đây là một “kênh” rất quan
trọng không thể thiếu được để kiểm tra
nhận thức, kết quả của cán bộ, người dân
ở cơ sở trong việc thực hiện chủ trương,
N
Đ
19
chính sách của Đảng và Nhà nước. Đồng
thời cũng qua sự tiếp xúc này mà gợi ý,
bổ sung, giáo dục, động viên những mặt
được, uốn nắn, nhắc nhở, phê phán những
nhận thức, hành động không đúng, giúp
cán bộ cơ sở và người dân quyết tâm thêm
trong việc thực hiện nhiệm vụ. Bác ít khi
mời dân tới mà Bác đến tận nơi người
dân đang lao động, cùng trò chuyện, làm
việc với dân. Cho nên những đồng chí
này thấy mình có vinh dự và trách nhiệm
giúp phần kể lại mỗi khi có dịp được gặp
đồng chí, bè bạn, bà con xóm phố, để ai
cũng có thể được nghe, được biết, cố gắng
học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong
cách của Bác Hồ.
Là một người gần 40 năm có vinh dự
làm phóng viên Báo Nhân dân, đi, viết
trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ ở
20
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
Vĩnh Linh, Quảng Trị, chiến dịch Đại
thắng mùa Xuân năm 1975, sau đó về lại
Tòa soạn Báo Nhân dân chuyên đi viết về
kinh tế, lưu thông phân phối, xây dựng...
cho đến khi tuổi nghỉ hưu, tôi cũng có
thời gian nhiều lần đến nhà những đồng
chí nói trên như Vũ Kỳ, Tạ Quang Chiến,
Cù Văn Chước, Lê Hữu Lập, Hoàng Phát
Hiền, Ngô Văn Các, Nguyễn Văn Mùi, v.v.,
để nghe các đồng chí kể lại những lần
được vinh dự đi theo Bác Hồ đến cơ sở.
Đồng chí nào cũng ít nhiều nhận được
sự bày vẽ, giúp đỡ, giáo dục của Bác Hồ
trong quá trình trực tiếp giúp việc cho
Người, nên đều có chung một ý nghĩ là
việc nào nắm vững thì sẵn sàng kể lại
một cách ngắn gọn, đầy đủ những nội
dung chính. Việc nào không nắm chắc thì
khiêm tốn, giới thiệu những người hiểu
N
Đ
21
rõ để người viết đến tìm hiểu. Và sau mỗi
lần kể lại, các đồng chí này, nhất là đồng
chí Vũ Kỳ không quên nhắc lại ba ý của
Bác Hồ về viết hồi ký, để cho tôi lấy đó
mà suy ngẫm cho định hướng khi cầm
bút viết. Ba ý đó là: Thứ nhất, phải có tác
dụng giáo dục; Thứ hai, sự việc, tình hình
diễn ra phải hợp lý; Thứ ba, bảo đảm tính
chính xác. Thế là từ đó tôi càng có thêm
tư liệu “sống”. Suy ngẫm, chọn lựa, “thai
nghén” dần (từ năm 2003 đến nay) cuốn
sách Phong cách Bác Hồ đến cơ sở,
nhằm góp phần nhỏ của mình cùng cả
nước không ngừng học tập và làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Để bạn đọc tiện theo dõi, tôi sắp xếp
nội dung cuốn sách này theo thứ tự:
- Lên mặt trận
- Ra cánh đồng
22
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
- Vào xưởng máy
- Dự lớp học
- Chuẩn bị đi Nam
- Vui đón Tết.
Hy vọng qua cuốn sách này, chúng ta
sẽ rút ra được nhiều điều bổ ích trong
cuộc sống và công việc.
Tác giả
HỒNG KHANH
23
LÊN MẶT TRẬN
N
1
gày 02-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí
Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên
ngôn độc lập trước cuộc mít tinh của
hàng chục vạn đồng bào tại Quảng
trường Ba Đình, Hà Nội. Người dõng
dạc tuyên bố sự ra đời của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ đó, ai cũng
phấn khởi và mong muốn đất nước hòa
bình, ổn định, lâu dài, Bắc - Nam sum
họp một nhà, có điều kiện phát huy
tinh thần độc lập, tự do, xây dựng cuộc
sống mới. Nào ngờ chỉ sau đó ba tuần
lễ, ngày 23-9-1945, nhân dân Nam Bộ
24
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
đã phải đứng lên kháng chiến chống
thực dân Pháp trở lại xâm lược. Tình
thế đất nước lúc đó như “ngàn cân treo
sợi tóc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa phải
kêu gọi đồng bào đứng lên kiên quyết
chiến đấu chống quân xâm lược, bảo vệ
độc lập, thống nhất Tổ quốc, vừa phải
động viên, khuyến khích mọi người
dân, nhất là thanh niên gia nhập lực
lượng chiến đấu.
Hà Nội lúc đó, bộ đội chiến đấu
mới ở chiến khu về có khoảng ba tiểu
đoàn. Lực lượng công an xung phong có
khoảng một trung đội. Tự vệ có khoảng
10.000 người, trong đó có khoảng 1/5 là
tự vệ chiến đấu làm nòng cốt. Lực lượng
dân quân mới hình thành, đang bám
giữ ở các huyện ngoại thành, v.v..
N
N
25
Trước tình hình lực lượng ta còn
mỏng, vũ khí, đạn dược phần lớn là
súng trường, súng kíp, giáo mác thô
sơ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với
Trung ương Đảng, Chính phủ tìm mọi
cách tranh thủ hòa hoãn với đối phương
để có thời gian xây dựng lực lượng chiến
đấu. Ngày 06-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí
Minh ký Hiệp định sơ bộ với đại diện
Chính phủ Pháp là Xanhtơni tại số nhà
38 Lý Thái Tổ (nay là phía sau Cung
Văn hóa Thiếu nhi Hà Nội). Sau đó
không đầy hai tháng, Chủ tịch Hồ Chí
Minh lại phải ba lần gặp và hội đàm với
Cao ủy Pháp là Đô đốc Đácgiăngliơ khi
thì ở trên chiến hạm Emile Bertin đậu
tại vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, khi
thì ở Bắc Bộ phủ. Đoán được ý đồ của
Pháp đánh chiếm Nam Bộ rồi sẽ mở
26
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
mặt trận đánh ra phía Bắc, để có thêm
thời gian củng cố và xây dựng lực lượng
chiến đấu lâu dài cho quân và dân ta,
dù bận trăm công nghìn việc của Chính
phủ cách mạng, ngày 31-5-1946, Chủ
tịch Hồ Chí Minh lại lên đường sang
Pháp để tiếp tục tìm kế hòa hoãn với
Chính phủ Pháp. Trong chuyến đi đột
xuất ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký
với Chính phủ Pháp bản Tạm ước ngày
14-9-1946.
Trong gần ba tháng làm thượng
khách ở Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã có 40 cuộc tiếp xúc với giới báo chí,
với các bộ trưởng và 14 tướng lĩnh trong
Chính phủ Pháp, gặp Thủ tướng Pháp
G. Biđôn. Trong tất cả những cuộc tiếp
xúc đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nêu
N
N
27
rõ nguyện vọng chính đáng của Nhân
dân Việt Nam là mong muốn giữ mối
quan hệ Việt - Pháp không có tiếng
súng. Thể hiện rõ nhất là khi đến tham
quan khu di tích lịch sử ở Noócmanđi,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lấy bàn tay
mình bịt miệng khẩu đại bác với dụng ý
nói lên ý chí và tinh thần quyết tâm giữ
gìn hòa bình, kiên trì ngăn chặn chiến
tranh. Biểu tượng đó cũng là thông điệp
của Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt
Nhân dân Việt Nam gửi tới nhân dân
Pháp và những người cầm quyền nước
Pháp lúc đó.
Ở Hà Nội thời gian ấy đang trong
không khí nô nức hưởng ứng những
chủ trương, kế hoạch của Chính phủ và
của Thành ủy về thi đua chống giặc đói,
28
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
giặc dốt và giặc ngoại xâm. Nhân dân
Hà Nội cũng như Nhân dân cả nước đều
nghĩ nước nhà đã độc lập, tự do, thực
hiện chế độ dân chủ mới; sẽ có điều kiện
phát triển theo đà thuận buồm xuôi gió.
Mối quan hệ Việt - Pháp sẽ duy trì và
phát triển. Nhưng ngờ đâu, chỉ ít lâu
sau, lợi dụng thi hành Hiệp định sơ bộ
ngày 06-3-1946 mà Pháp đã ký với Chính
phủ ta, chúng đưa ào ạt 15 vạn quân
ra Bắc, vào cảng Hải Phòng và lên Hà
Nội để thay thế 200 nghìn quân Tưởng
Giới Thạch (tràn vào lấy cớ là quân của
Đồng minh để giải giáp quân đội Nhật
vừa đầu hàng trong Chiến tranh thế
giới thứ hai rút về Trung Quốc). Pháp
còn lén lút ký Hiệp ước Trùng Khánh
với quân Tưởng để chia phần nhân
N
N
29
nhượng nhau: Đối với miền Bắc Việt
Nam, âm mưu của quân Tưởng là “diệt
cộng cầm Hồ” nghĩa là diệt cộng sản,
bắt giữ Cụ Hồ; đối với miền Nam, quân
Pháp đã chiếm được Sài Gòn thì đánh
mạnh rộng ra chiếm các tỉnh Nam Bộ
và Nam Trung Bộ. Lợi dụng thời gian
Bác Hồ đang ở Pháp, tại Hà Nội, chúng
câu kết với bọn Quốc dân Đảng phản
động tìm cách chống lại Chính phủ Cụ
Hồ. Chúng in truyền đơn nói xấu cách
mạng, rình bắt và thủ tiêu một số cán
bộ của ta. Chúng lợi dụng nhân ngày
Cách mạng Pháp 14-7 tổ chức mít tinh,
kỷ niệm bằng cách cho một số quân
Pháp chuẩn bị diễu hành quanh bờ hồ
Hoàn Kiếm. Khi quân Pháp diễu hành,
chúng sẽ cho một số phần tử cực đoan
30
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
ném lựu đạn vào đoàn diễu hành để
quân Pháp lấy cớ đó đánh trả lại lực
lượng cách mạng.
Trước tình hình nước sôi lửa bỏng
đó, dưới sự lãnh đạo của Trung ương,
của Thành ủy, quân và dân Hà Nội
càng nóng lòng mong Bác Hồ về nhanh,
càng ra sức quyết tâm thực hiện mọi
biện pháp chống giặc đói, giặc dốt, giặc
ngoại xâm. Trên bờ tường hè phố xuất
hiện nhiều khẩu hiệu: “Hỡi quốc dân
đồng bào! Bọn thực dân Pháp cố ý làm
cho chiến tranh lan rộng. Tình thế mỗi
lúc thêm nghiêm trọng. Toàn dân gấp
gáp chuẩn bị kháng chiến! Chúng ta
quyết kháng chiến để bảo toàn lãnh
thổ và giữ vững chủ quyền!”. Những lời
lừa phỉnh, xuyên tạc của chúng đều bị
N
N
31
nhân dân Hà Nội tẩy chay. Xóm phố
nào cũng tích cực đào hào, đắp ụ, triển
khai việc thực hiện sẵn sàng chiến đấu.
Việc chuẩn bị sơ tán những máy móc
thiết yếu, kho tàng quan trọng ra ngoại
thành, lên chiến khu được gấp rút tiến
hành... Lực lượng Công an xung phong
của ta luồn sâu, ép sát, phát hiện được
chứng cứ cụ thể của bọn Quốc dân
Đảng phản động, báo cáo kịp thời với
đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư
của Đảng, với cụ Huỳnh Thúc Kháng Bộ trưởng Bộ Nội vụ kiêm giữ chức
quyền Chủ tịch nước thay Bác Hồ
đang đi công tác ở Pari. Trên cơ sở có
bằng chứng cụ thể đó, cụ Huỳnh Thúc
Kháng quyết định cho lực lượng Công
an xung phong của ta bóc trần âm mưu
32
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
của chúng. Những hố chôn cán bộ ta bị
chúng bắt cóc và thủ tiêu trong vườn ở
một số nhà của phố Ôn Như Hầu (nay
là phố Nguyễn Gia Thiều gần hồ Thiền
Quang) được nhanh chóng khai quật
lên. Những dụng cụ lén lút in truyền
đơn, tài liệu, kế hoạch chống phá cách
mạng đều bị công an ta phanh phui ra
trước công chúng. Không còn đường
nào chối cãi, bọn Quốc dân Đảng phản
động thất bại, đứng cúi gằm mặt trước
nhân dân Hà Nội.
Ngày 21-10-1946, Chủ tịch Hồ Chí
Minh về lại Hà Nội. Trong niềm mong
mỏi lâu nay, được tin Chủ tịch nước đã
về, hàng vạn người già trẻ, gái trai ở
Hà Nội đã đổ ra đường tiến hành cuộc
biểu tình tuần hành từ ga Hàng Cỏ về
N
N
33
đến phố Lê Lai chào đón Người. Những
tiếng hô vang dội khắp đường phố
quanh Hồ Hoàn Kiếm: Bác Hồ đã về!
Bác Hồ đã về! Hồ Chủ tịch muôn năm!
Hồ Chủ tịch muôn năm!
Một tháng sau, ngày 21-11-1946,
quân Pháp lật lọng, phá bỏ bản Tạm
ước ngày 14-9 đã ký với ta, trắng trợn
đưa quân đánh chiếm Lạng Sơn, Nam
Định, Hải Phòng, Quảng Yên. Mười
ngày sau, xe camnhông Pháp từ Hà
Nội qua cầu Long Biên sang Gia Lâm
dùng súng bắn chết hai người dân đang
đi trên đường, chúng trắng trợn khiêu
khích. Hôm sau, ngày 02-12, lính Pháp
xông vào nhà ở phố Hàng Buồm xé lá cờ
đỏ sao vàng đang treo ngay ngắn trước
cửa và cướp đi bảy tút thuốc lá rồi trắng
34
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
trợn hăm dọa người dân lương thiện.
Chúng còn móc nối với những phần tử
phản động, mua chuộc lôi kéo một số
đồng bào Công giáo, nhất là ở vùng giáp
ranh giữa hậu phương của ta với những
nơi chúng mới chiếm được gây nên các
điểm “nóng”. Trước tình hình nước sôi
lửa bỏng đó, sau Tết Nguyên đán Đinh
Hợi (ngày 09-02-1947) được ít ngày, tại
nơi tạm sơ tán ở chùa Một Mái, xã Sài
Sơn, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (cũ),
Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định đi
công tác vào Ninh Bình và Thanh Hóa,
tạo ra Mặt trận mới, sẵn sàng đương
đầu với giặc Pháp xâm lấn tới. Hai đồng
chí Hoàng Hữu Kháng và Tạ Quang
Chiến được lệnh đi theo làm nhiệm vụ
tháp tùng, bảo vệ Bác.
N
N
35
Ngày 19-02-1947, trời đầy mây, se
se lạnh, không một tia nắng, chuyến đi
“tạo mặt trận” bắt đầu. Đồng chí Hoàng
Hữu Kháng đi trước đưa đường, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đi giữa, đội chiếc mũ
cát, khăn vòng quanh cổ che kín bộ râu
điểm bạc. Đồng chí Tạ Quang Chiến đi
sau cảnh giới. Cả ba thầy trò ra khỏi
núi Thầy, đi bộ qua con đường xóm dài
hơn một trăm mét, đến nơi có chiếc xe
Jeep cũ màu đen do đồng chí Phạm Văn
Nền lái đang chờ sẵn. Khi xuất hành, xe
đi theo đường liên tỉnh, vòng ra đường
số 6, qua vùng núi nhấp nhô Xuân
Mai, rẽ vào đường 21. Đến đồn điền
Chi Nê, gà đã gáy canh ba, Chủ tịch
Hồ Chí Minh quyết định dừng chân và
nghỉ lại đây. Sáng hôm sau, ngày 20-02,
36
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
vào lúc 8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến
thăm nơi sơ tán của Bộ Canh nông, 10
giờ, Người đến thăm Nhà máy in tiền
thuộc Bộ Tài chính và thăm gia đình
ông Đỗ Đình Thiện - một thành viên
trong Đoàn Việt Nam đàm phán với
Pháp năm 1946 ở Phôngtennơblô, đảng
viên Đảng Cộng sản Pháp.
Đúng 10 giờ sáng ngày 20-02-1947,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có mặt tại
rừng thông, cách thị xã Thanh Hóa
chừng 3 km về phía tây1. Tại đây, đứng
dưới những cây thông xanh đậm lá,
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với
hàng trăm cán bộ, nhân dân, đại biểu
1. Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.5, tr.68-70.
N
N
37
thân hào, trí thức của địa phương. Chủ
tịch Hồ Chí Minh nói:
- Cán bộ là cái dây chuyền của bộ
máy. Nếu dây chuyền không tốt, không
chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn
bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những
người đem chính sách của Chính phủ,
của Đoàn thể thi hành trong Nhân dân,
nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng
không thể thực hiện được.
Nói về ý nghĩa cuộc kháng chiến
trường kỳ chống thực dân Pháp xâm
lược đang ngày càng lan rộng ra, Chủ
tịch Hồ Chí Minh dùng hình ảnh so
sánh, dễ hiểu, thuyết phục. Người nói:
- Hai hòn đá cùng chọi nhau thì hai
hòn cùng vỡ, hai cái trứng cùng chọi
nhau thì hai cái cùng vỡ. Phải một cái
38
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
cứng, một cái mềm thì khi chọi nhau
một cái mới còn. Nên hai bên cùng dùng
mưu trí.
Hàng trăm người đứng nghe vỗ tay
ran, đồng tình, Chủ tịch Hồ Chí Minh
nói tiếp:
- Pháp có xe tăng, đại bác, thì ta
phá đường. Pháp có máy bay thì ta đào
hầm. Pháp muốn đánh chớp nhoáng thì
ta kéo dài. Nhất định ta thắng!
Những tiếng vỗ tay lại vang lên lan
tỏa khắp khu rừng thông. Mười sáu giờ
ba mươi phút chiều hôm đó, Chủ tịch
Hồ Chí Minh lên xe rời thị xã Thanh
Hóa, về thẳng đồn điền Chi Nê và nghỉ
đêm tại đây.
Sáng hôm sau, ngày 21-02-1947, vào
lúc 10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự
N
N
39
cuộc họp đã dự kiến trước do ông Vũ
Đình Huỳnh ở lại tổ chức. Cuộc họp này
gồm nhiều vị chức sắc Thiên Chúa giáo
thuộc vùng Bùi Chu - Phát Diệm, có cả
giám mục Lê Hữu Từ, người đứng đầu
giáo hội ở vùng này. Sau mấy lời thăm
hỏi sức khỏe các đại biểu, Chủ tịch Hồ
Chí Minh giới thiệu tóm tắt tinh thần
nội dung Lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến ngày 19-12-1946. Người nhấn
mạnh đến chính sách đoàn kết lương
giáo, sẵn sàng mở ra mặt trận trên vùng
này để tiếp tục kháng chiến đến thành
công, thực sự bảo vệ độc lập, thống nhất
Tổ quốc.
Nói xong, Chủ tịch Hồ Chí Minh
ngồi chăm chú nghe các vị đại biểu nêu
ý kiến, chất vấn, thảo luận. Khoảng
40
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
hơn một giờ sau, Người kết luận cuộc
họp. Người khẳng định rõ chính sách
tôn giáo, tôn trọng tự do tín ngưỡng của
Chính phủ cách mạng, vận động mọi
người không nên mắc mưu lừa phỉnh,
chia rẽ của thực dân Pháp; phải đề cao
lòng yêu nước, kính Chúa trong đồng
bào giáo dân.
Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về lại địa
điểm sơ tán ở chùa Một Mái, Sài Sơn thì
thực dân Pháp lại dùng máy bay ném
bom, bắn phá Chi Nê, Nhà máy in tiền
thuộc Bộ Tài chính và nhà ông Đỗ Đình
Thiện, làm hư hỏng nhiều tài sản, may
mà không ai bị thương nhờ phòng tránh
kịp. Chuyến đi bí mật, khẩn trương,
đến với dân, với cơ sở một cách bất ngờ
đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp
N
41
N
thời chuẩn bị tạo ra mặt trận mới về
phía nam Hà Nội và càng thấy Người
luôn nhìn xa trông rộng.
Đ
2
ầu tháng 9-1950, Chủ tịch Hồ
Chí Minh cùng với vài người giúp
việc lặng lẽ rời thôn Khâu Lấu, xã Tân
Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên
Quang. Một tuần lễ sau, được tin Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã có mặt ở Tả Phầy
Tử, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng,
mọi người trong cơ quan giúp việc Chủ
tịch mới khẳng định là Người đã lên
mặt trận biên giới.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa làm
xong một số việc cần thiết, được tin
42
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
Chủ tịch nước đã tới Tả Phầy Tử liền
vội vàng lên ngựa phóng nhanh qua
những đoạn đường lầy lội để đến đón
Bác. Thấy Bác gầy và đen sau gần
một tuần đi len lỏi theo đường rừng,
Đại tướng không nén nổi xúc động.
Nhưng Đại tướng chưa kịp lên tiếng
hỏi thăm sức khỏe Bác thì Bác đã cởi
mở với Đại tướng:
- Dự xong cuộc họp Chính phủ ngày
02-9-1950, Bác đi ngay, chẳng mấy ai
biết Bác lên đây. Năm nay ở cơ quan
Trung ương không tổ chức kỷ niệm
ngày độc lập 2-9. Trên này chắc các chú
bận việc cũng quên!
Đại tướng niềm nở thưa với Bác:
- Dạ! Thưa Bác, chúng cháu không
quên, nhưng không tổ chức gì.
N
N
43
Rồi Đại tướng lễ phép mời Bác về Sở
chỉ huy chiến dịch. Trên đường đi, Bác
trùm chiếc khăn bông che bộ râu lốm
đốm bạc, đội mũ và ngồi lên ngựa cùng
Đại tướng hành quân đến địa điểm đặt
Sở chỉ huy chiến dịch biên giới Cao
Bằng - Lạng Sơn tại Nà Lạm, cách cụm
cứ điểm Đông Khê khoảng 10 km, tiện
cho việc trực tiếp quan sát.
Tại Sở chỉ huy chiến dịch, Đại tướng
Võ Nguyên Giáp báo cáo với Bác quyết
tâm của Bộ chỉ huy chiến dịch là mở
đầu bằng trận tiêu diệt Đông Khê, tiếp
theo là diệt quân viện, đánh Thất Khê,
cuối cùng là tập trung lực lượng giải
phóng Cao Bằng.
Với đà hứng khởi đó, Bác Hồ dùng
ngón trỏ bàn tay phải, chỉ vào thứ tự
bốn ngón bàn tay trái xòe ra, và nói:
44
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
- Một là đánh Đông Khê, hai là đánh
quân viện, ba là đánh Thất Khê, bốn là
đánh Cao Bằng. Tất cả là bốn bước.
Rồi Bác nói tóm tắt ý nghĩa chiến
dịch Cao Bằng - Lạng Sơn này là rất
quan trọng, “chỉ được thắng không
được thua”.
Tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Bác, Đại
tướng Võ Nguyên Giáp và số cán bộ
ngồi dự họp đồng thanh: “Dạ” lên. Bác
nói tiếp:
- Đông Khê tuy không lớn nhưng rất
quan trọng. Vì mất Đông Khê thì Cao
Bằng hoàn toàn bơ vơ. Địch buộc phải
cho quân ứng cứu. Bộ đội ta sẽ có cơ hội
đánh vận động.
Nói đến đây, như sực nhớ ra điều cần
biết, Bác hỏi các cán bộ dự họp:
N
N
45
- Bộ đội ta không biết đã quen đánh
vận động lớn chưa?
Đại tướng lên tiếng trả lời:
- Dạ! Chúng cháu đã có dự kiến.
Rồi Đại tướng thưa tiếp:
- Mùa hè vừa rồi đã được luyện tập.
Anh em tiến bộ nhiều. Cao Bằng là địa
hình rừng núi, sẽ thuận lợi cho đánh
vận động.
Bác ngồi lặng im, trầm ngâm trong
bộ quần áo bộ đội bạc màu đang mặc.
Ai cũng bất ngờ và lấy làm hãnh diện
về sự có mặt của Bác ở mặt trận này, ở
chiến dịch quan trọng này. Rồi chỉ lặng
im trong chốc lát, sau khi đưa mắt nhìn
âu yếm các cán bộ dự cuộc họp, Bác lên
tiếng tiếp:
- Bộ chỉ huy chiến dịch nói các chú
họp lần cuối cùng này để chuẩn bị trận
46
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
đánh. Đây chưa phải là lần cuối cùng!
Chưa đánh thắng thì chưa được coi là
đã chuẩn bị xong. Quân sự thì phải
chuẩn bị mãi. Thắng xong trận này
cũng chỉ mới là chuẩn bị xong một đợt.
Khi nào toàn thắng thì mới là chuẩn bị
xong. Trong quân sự phải kiên quyết và
bạo dạn. Bạo dạn, dũng cảm không phải
là liều. Liều là dại, dũng cảm là khôn.
Không phải chỉ một người kiên quyết
và bạo dạn mà phải toàn bộ, tất cả mọi
người. Muốn toàn bộ kiên quyết và
dũng cảm thì phải có kỷ luật. Kỷ luật là
động lực giữ sức mạnh cho bộ đội. Các
chú đã nghe Bộ chỉ huy chiến dịch phổ
biến quyết tâm của Trung ương Đảng
mở chiến dịch Biên giới. Các chú đã
được giao nhiệm vụ cụ thể. Bác không
có gì phải nói thêm. Chỉ nhắc các chú:
N
N
47
Thời gian lúc này vô cùng quý báu. Cần
tranh thủ thời gian thật tốt để chuẩn bị
chiến đấu cho đầy đủ. Chỉ có chuẩn bị
đầy đủ thì mới giành được chiến thắng
lớn và đỡ tốn xương máu chiến sĩ. Chiến
dịch Cao - Bắc - Lạng này rất quan
trọng. Chúng ta phải quyết tâm đánh
thắng trận này.
Nói đến đây, Bác lặng im giây lát rồi
bỗng lên tiếng hỏi to:
- Các chú có quyết tâm không?
Tất cả đồng thanh trả lời:
- Thưa Bác, có ạ!
- Bác chúc các chú thành công.
- Chúng cháu chúc Bác khỏe luôn!
Khỏe luôn!
Hai tiếng “Khỏe luôn” vang vọng lan
xa núi rừng.
48
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
Ngày 16-9-1950, quân ta nổ súng
tiến công Đông Khê, mở đầu chiến dịch
lịch sử.
Chủ tịch Hồ Chí Minh theo dõi mặt trận
Đông Khê (Cao Bằng) trong chiến dịch Biên
giới năm 1950
Khi mặt trận Đông Khê rền vang
tiếng súng, Chủ tịch Hồ Chí Minh làm
việc không ngừng, khi thì đứng ở điểm
cao quan sát, khi thì vào trong một lán
của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Hồng Khanh
Phong cách Bác Hồ đến cơ sở / Hồng Khanh.
- Tái bản. - H. : Chính trị Quốc gia, 2018. - 256tr.
; 15cm
1. Hồ Chí Minh, 1890-1969, Lãnh tụ cách
mạng, chính trị gia, Việt Nam 2. Phong cách 3.
Lối sống 4. Truyện kể
959.704092 - dc23
CTF0336p-CIP
5
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
C
hủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương
đạo đức của một vĩ nhân, một lãnh
tụ cách mạng, người cộng sản vĩ đại, anh
hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn,
nhưng đồng thời cũng là một con người
bình dị, gần gũi, ai cũng có thể học và làm
theo, đặc biệt về phong cách của Bác.
Trong đời sống hằng ngày, ngoài những
lúc làm việc và tiếp khách, Bác thường
tranh thủ đi thăm, chuyện trò thân tình
với các cụ già, gặp gỡ chiến sĩ và đồng bào
các địa phương để nắm tình hình và tâm
tư, nguyện vọng của Nhân dân. Điều đó đã
trở thành một nhu cầu, một nếp sống, trở
thành điều tâm niệm suốt đời của Người.
6
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
Theo một thống kê chưa đầy đủ, chỉ tính
trong vòng 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở miền Bắc (1955 - 1965), không quản
tuổi cao, công việc bề bộn, Bác đã trên 700
lượt đi thăm các địa phương, công trường,
xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội..., từ
miền núi đến hải đảo để thăm hỏi chiến sĩ
và đồng bào, xem xét tình hình, kiểm tra
công việc. Tính ra mỗi năm có hơn 60 lần
Người đi xuống cơ sở, mỗi tháng có khoảng
6 lần Người gặp gỡ quần chúng. Đó là một
kỷ lục khó ai có thể vượt qua, nhất là đối
với một lãnh tụ ở tuổi 70.
Mỗi người dân Việt Nam đều giữ trọn
trong trái tim mình hình ảnh Bác Hồ
trong bộ quần áo bình dị, lội ruộng với
nông dân, cùng tát nước chống hạn, cùng
cuốc đất, đẩy xe với người lao động. Mỗi
khi đi thăm các cơ sở, Người không cho báo
NH
B N
7
trước. Người muốn biết thực chất tình hình
của cơ sở, chứ không chỉ nghe qua báo cáo.
Khi xuống đến cơ sở, điều quan tâm đầu
tiên của Người là xem nơi ăn chốn ở, đến
nhà ăn tập thể, nhà vệ sinh trước rồi mới
ra hội trường nói chuyện với mọi người. Tác
phong sâu sát, tỷ mỷ, cụ thể thiết thực của
Người là mẫu mực của phong cách người
lãnh đạo, người “đầy tớ của nhân dân”. Bác
đến với mọi người một cách rất tự nhiên và
bình dị. Mọi nghi thức đối với Người đều trở
thành không cần thiết.
Để tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên
truyền, học tập và làm theo phong cách
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia Sự thật tái bản cuốn
sách: Phong cách Bác Hồ đến cơ sở
của Nhà báo Hồng Khanh - Nguyên Ủy
viên Ban Biên tập Báo Nhân dân.
8
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
Thông qua lời kể của các đồng chí
nhiều năm được sống và làm việc cùng
Bác, Nhà báo Hồng Khanh đã ghi lại
những câu chuyện Bác Hồ đi thăm cơ sở,
từ lên mặt trận, ra cánh đồng, vào xưởng
máy, dự lớp học đến vui đón Tết. Mỗi câu
chuyện đều thể hiện phong cách giản dị,
gần gũi nhưng rất tinh tế của Bác. Lối
sống, tác phong quần chúng của Bác luôn
là chuẩn mực nhân cách con người cách
mạng nhưng lại không xa lạ với mỗi con
người bình thường, mà ai cũng có thể soi
mình, học tập, noi theo.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách
cùng bạn đọc.
Tháng 3 năm 2018
NHÀ XUẤT BẢN
CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
9
LỜI NÓI ĐẦU
N
gày 06-3-1947, không khí bớt se
lạnh, ánh sáng mặt trời tỏa dần
sau những đám mây mỏng. Tại nhà ông
Hoàng Văn Nguyên ở xã Cổ Tiết, huyện
Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, Bác Hồ và tám
đồng chí trực tiếp giúp việc cho Bác đang
ngồi bàn công tác xoay quanh ý định làm
sao nhanh chóng thực hiện được “quân sự
hóa”. Nghĩa là bộ phận trực tiếp giúp việc
Chủ tịch Hồ Chí Minh phải tổ chức gọn
nhẹ, dễ cơ động, linh hoạt, bí mật, hiệu
quả, đi không ai biết, đến không ai hay,
cho nên mỗi người phải có một cái balô.
Ngoài ra còn có một cái balô để đựng máy
chữ của Bác Hồ mang từ Hà Nội lên.
10
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
Cuộc họp vừa kết thúc, cả tám đồng chí
đang ngồi quanh Chủ tịch Hồ Chí Minh
bỗng lấy làm phấn khởi khi thấy Bác nhìn
âu yếm từng người một. Đó là đồng chí Võ
Chương, quê ở Thừa Thiên Huế, nguyên
là giáo viên hoạt động ở Hà Nội, sau Cách
mạng Tháng Tám năm 1945 trở thành
chiến sĩ trong Đội cứu quốc thành Hoàng
Diệu, được đồng chí Nguyễn Lương Bằng
chọn bổ sung vào tổ bảo vệ Bác Hồ. Đồng
chí Nguyễn Cần quê ở huyện Thường
Tín, Hà Nội, từng tham gia thanh niên
phản đế trường Bưởi, Hà Nội, bị Sở Mật
thám Pháp bắt giam ở Hỏa Lò năm 1943,
tháng 9-1945 vượt ngục, trở về công tác
cùng đồng chí Trần Đăng Ninh. Đồng chí
Nguyễn Văn Lý quê ở tỉnh Thái Bình, tham
gia hoạt động cách mạng trong phong trào
công nhân từ trước năm 1940, bị địch bắt
N
Đ
11
giam ở Sơn La, rồi vượt ngục trở về hoạt
động ở căn cứ địa Tân Trào, tỉnh Tuyên
Quang. Đồng chí Nguyễn Hữu Văn, quê
ở tỉnh Hải Dương, từng hoạt động trong
phong trào Thanh niên cứu quốc Hà Nội,
cuối năm 1945 được tuyển vào tổ bảo vệ
Bác Hồ. Đồng chí Hoàng Văn Lâm, người
dân tộc thiểu số, sớm giác ngộ cách mạng.
Đồng chí Chu Phương Vương, người dân
tộc Tày, quê ở tỉnh Cao Bằng, giúp việc cho
Bác Hồ từ tháng 7-1945. Đồng chí Nguyễn
Quang Chí, đồng chí Trần Đình, dân tộc
Nùng, quê ở tỉnh Cao Bằng, chiến sĩ giải
phóng quân.
Cả tám đồng chí nói trên đang ngồi
lặng im chờ ý kiến của Bác thì bỗng thấy
Bác vừa đưa tay chỉ từ trái sang phải
theo thứ tự hình vòng tròn, vừa chậm rãi,
nhẹ nhàng nói:
12
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
- Từ hôm nay Bác đặt tên của mỗi
chú như sau: Chú Võ Chương là Trường,
chú Nguyễn Cần là Kỳ, chú Nguyễn
Văn Lý là Kháng, chú Nguyễn Hữu Văn
là Chiến, chú Hoàng Văn Lâm là Nhất,
chú Chu Phương Vương là Định, chú
Nguyễn Quang Chí là Thắng, chú Trần
Đình là Lợi.
Nói xong, lặng giây lát, Bác lại nhắc
tên tám đồng chí vừa mới đặt: Trường,
Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng,
Lợi. Rồi Bác nhẹ nhàng nói một câu:
- Các chú có biết tại sao Bác đặt tên
các chú như vậy không?
Cả tám người liếc nhìn nhau, suy nghĩ,
chưa ai lên tiếng. Bác giải thích luôn:
- Nhân dân ta vừa giành được chính
quyền chưa bao lâu thì đã phải bước vào
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
N
Đ
13
trở lại xâm lược nước Việt Nam. Nhiệm
vụ trước mắt và lâu dài của Bác là cùng
với Đảng, Chính phủ, Mặt trận lãnh đạo
Nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến
đến ngày thắng lợi. Bác đặt tên các chú
theo khẩu hiệu “Trường kỳ kháng chiến
nhất định thắng lợi” là để hằng ngày Bác
gọi đến tên các chú, hay nhớ đến các chú
là nhắc nhở Bác phải làm sao tìm mọi
mưu kế, biện pháp để hoàn thành bằng
được nhiệm vụ cao cả đó.
Niềm vinh dự tự hào được Chủ tịch
Hồ Chí Minh đặt tên mình gắn với ý chí
và quyết tâm của toàn dân tộc đang bước
vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống
thực dân Pháp trở lại xâm lược đầy khó
khăn, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi
càng thôi thúc tám đồng chí không ngừng
14
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
vươn lên làm tốt nhiệm vụ. Từ đấy, hai
tiếng Bác Hồ chính thức được gọi thay cho
năm chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh” với cả
tấm lòng kính trọng, biết ơn, gần gũi và
thương yêu vô hạn. Đối với những người
được vinh dự trực tiếp giúp việc cho Bác
Hồ càng hết sức vui mừng được Bác gọi
bằng “Chú” với tình thương ân cần, trìu
mến, giúp đỡ, dạy bảo, không hề có chút
cách biệt. Nhiều đồng chí đã lấy tên mà
Bác đặt cho mình làm tên chính thức suốt
đời, như: Kỳ - tức Vũ Kỳ - tức Nguyễn
Cần; Kháng - tức Hoàng Hữu Kháng - tức
Nguyễn Văn Lý; Chiến - tức Tạ Quang
Chiến - tức Nguyễn Hữu Văn, v.v.. Vài ba
đồng chí do yêu cầu công tác phải chuyển
sang đơn vị khác, Bác lại đặt tên cho
đồng chí mới đến thay như tên đồng chí
N
Đ
15
đã chuyển. Câu khẩu hiệu: “Trường kỳ
kháng chiến nhất định thắng lợi” luôn ở
bên Bác. Vì thế, khi kháng chiến chống
Pháp thắng lợi đã có ba đồng chí mang
tên Trường, hai đồng chí mang tên Nhất,
hai đồng chí mang tên Thắng.
Một hôm, trong không khí hòa bình, mới
về lại Thủ đô Hà Nội, sau khi miền Bắc
được giải phóng, nhân lúc Bác cháu đang
nói chuyện vui sau bữa cơm chiều, một
đồng chí quá lạc quan, đề nghị với Bác:
- Thưa Bác! Để phù hợp với tình hình
mới, xin Bác cho đổi tên của hai đồng chí
Kháng và Chiến thành hai tên Hòa, Bình!
Bác nhẹ nhàng trả lời, nhưng nét mặt
hơi nghiêm:
- Có kháng chiến mới có hòa bình. Song
hiện nay chưa thể gọi là hòa bình, còn phải
chuẩn bị kháng chiến ở miền Nam, vì đế
16
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn chưa dễ gì
ngoan ngoãn làm theo Hiệp định Giơnevơ
năm 1954. Vì vậy, chớ có chủ quan.
Câu nói của Bác như một lời tiên tri.
Thực tế đã diễn ra như vậy. Từ đấy, trong
hoàn cảnh miền Bắc được giải phóng,
miền Nam còn tạm thời trong tay Mỹ ngụy, tính chất công việc ở bộ phận trực
tiếp giúp Bác Hồ lại càng đòi hỏi mỗi
người phải làm việc sâu sát hơn, tỷ mỷ
hơn, chính xác hơn, hiệu quả hơn, năng
nổ hơn, luôn luôn phát huy tinh thần
truyền thống khẩu hiệu: “Trường kỳ
kháng chiến nhất định thắng lợi”. Lời
hứa khẳng định đó của Bác, 30 năm sau
trở thành hiện thực.
Những đồng chí nói trên được vinh dự
trực tiếp giúp việc cho Bác Hồ và được
Bác đặt tên theo khẩu hiệu chiến lược ấy,
N
Đ
17
sau khi đến tuổi nghỉ hưu có thêm thời
gian rỗi rãi, nhớ lại, suy ngẫm, càng nhớ
như in những chuyến lần lượt thay nhau
đi theo Bác đến cơ sở. Bởi vì, mỗi lần Bác
đi cơ sở chỉ có ba hoặc bốn người giúp việc
cần thiết đi theo, rất đơn giản, gọn nhẹ,
không kềnh càng, nặng nề, gây phiền toái
cho ai. Chuyến đi nào cần có cán bộ hiểu
biết chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó đi
cùng thì Bác bảo bộ chủ quản lĩnh vực ấy
cử một người đến cùng đi với Bác. Cách
tổ chức đi như vậy, theo ý Bác vừa là linh
hoạt, tiện cơ động, mau lẹ, không cần phải
có một bộ phận thường trực ở văn phòng
Bác, vừa nâng cao trách nhiệm. Đến cả
những lần đi nước ngoài (trừ những lần
đi thăm chính thức theo nghi lễ phải có
đoàn này, bộ nọ), Bác chỉ cho “biên chế” ba
người gồm: Bác, đồng chí Vũ Kỳ, đồng chí
18
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
cần vụ. Bác nói Bác chỉ cần một khoang
nho nhỏ trên máy bay. Nghĩa là Bác vẫn
đi chung với hành khách trong một máy
bay. Phiên dịch thì Bác bảo sang đến nước
bạn, lấy một người trong số cán bộ, sinh
viên của ta đang học ở bên đó. Thầy thuốc
thì Bác nói Bác không ốm đau gì mà cần
đến thầy thuốc đi theo. Nếu có ốm đau thì
một thầy thuốc Việt Nam cũng chẳng giải
quyết được. Còn bảo vệ thì Bác cho rằng
có đem theo một tiểu đội cũng không làm
gì được nếu có sự cố xảy ra.
Nói tóm lại, Bác luôn luôn nghĩ đến
dân, tin vào dân và cơ sở. Bác coi việc
đến với dân như sự sống cần đến không
khí. Bác coi đây là một “kênh” rất quan
trọng không thể thiếu được để kiểm tra
nhận thức, kết quả của cán bộ, người dân
ở cơ sở trong việc thực hiện chủ trương,
N
Đ
19
chính sách của Đảng và Nhà nước. Đồng
thời cũng qua sự tiếp xúc này mà gợi ý,
bổ sung, giáo dục, động viên những mặt
được, uốn nắn, nhắc nhở, phê phán những
nhận thức, hành động không đúng, giúp
cán bộ cơ sở và người dân quyết tâm thêm
trong việc thực hiện nhiệm vụ. Bác ít khi
mời dân tới mà Bác đến tận nơi người
dân đang lao động, cùng trò chuyện, làm
việc với dân. Cho nên những đồng chí
này thấy mình có vinh dự và trách nhiệm
giúp phần kể lại mỗi khi có dịp được gặp
đồng chí, bè bạn, bà con xóm phố, để ai
cũng có thể được nghe, được biết, cố gắng
học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong
cách của Bác Hồ.
Là một người gần 40 năm có vinh dự
làm phóng viên Báo Nhân dân, đi, viết
trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ ở
20
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
Vĩnh Linh, Quảng Trị, chiến dịch Đại
thắng mùa Xuân năm 1975, sau đó về lại
Tòa soạn Báo Nhân dân chuyên đi viết về
kinh tế, lưu thông phân phối, xây dựng...
cho đến khi tuổi nghỉ hưu, tôi cũng có
thời gian nhiều lần đến nhà những đồng
chí nói trên như Vũ Kỳ, Tạ Quang Chiến,
Cù Văn Chước, Lê Hữu Lập, Hoàng Phát
Hiền, Ngô Văn Các, Nguyễn Văn Mùi, v.v.,
để nghe các đồng chí kể lại những lần
được vinh dự đi theo Bác Hồ đến cơ sở.
Đồng chí nào cũng ít nhiều nhận được
sự bày vẽ, giúp đỡ, giáo dục của Bác Hồ
trong quá trình trực tiếp giúp việc cho
Người, nên đều có chung một ý nghĩ là
việc nào nắm vững thì sẵn sàng kể lại
một cách ngắn gọn, đầy đủ những nội
dung chính. Việc nào không nắm chắc thì
khiêm tốn, giới thiệu những người hiểu
N
Đ
21
rõ để người viết đến tìm hiểu. Và sau mỗi
lần kể lại, các đồng chí này, nhất là đồng
chí Vũ Kỳ không quên nhắc lại ba ý của
Bác Hồ về viết hồi ký, để cho tôi lấy đó
mà suy ngẫm cho định hướng khi cầm
bút viết. Ba ý đó là: Thứ nhất, phải có tác
dụng giáo dục; Thứ hai, sự việc, tình hình
diễn ra phải hợp lý; Thứ ba, bảo đảm tính
chính xác. Thế là từ đó tôi càng có thêm
tư liệu “sống”. Suy ngẫm, chọn lựa, “thai
nghén” dần (từ năm 2003 đến nay) cuốn
sách Phong cách Bác Hồ đến cơ sở,
nhằm góp phần nhỏ của mình cùng cả
nước không ngừng học tập và làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Để bạn đọc tiện theo dõi, tôi sắp xếp
nội dung cuốn sách này theo thứ tự:
- Lên mặt trận
- Ra cánh đồng
22
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
- Vào xưởng máy
- Dự lớp học
- Chuẩn bị đi Nam
- Vui đón Tết.
Hy vọng qua cuốn sách này, chúng ta
sẽ rút ra được nhiều điều bổ ích trong
cuộc sống và công việc.
Tác giả
HỒNG KHANH
23
LÊN MẶT TRẬN
N
1
gày 02-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí
Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên
ngôn độc lập trước cuộc mít tinh của
hàng chục vạn đồng bào tại Quảng
trường Ba Đình, Hà Nội. Người dõng
dạc tuyên bố sự ra đời của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ đó, ai cũng
phấn khởi và mong muốn đất nước hòa
bình, ổn định, lâu dài, Bắc - Nam sum
họp một nhà, có điều kiện phát huy
tinh thần độc lập, tự do, xây dựng cuộc
sống mới. Nào ngờ chỉ sau đó ba tuần
lễ, ngày 23-9-1945, nhân dân Nam Bộ
24
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
đã phải đứng lên kháng chiến chống
thực dân Pháp trở lại xâm lược. Tình
thế đất nước lúc đó như “ngàn cân treo
sợi tóc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa phải
kêu gọi đồng bào đứng lên kiên quyết
chiến đấu chống quân xâm lược, bảo vệ
độc lập, thống nhất Tổ quốc, vừa phải
động viên, khuyến khích mọi người
dân, nhất là thanh niên gia nhập lực
lượng chiến đấu.
Hà Nội lúc đó, bộ đội chiến đấu
mới ở chiến khu về có khoảng ba tiểu
đoàn. Lực lượng công an xung phong có
khoảng một trung đội. Tự vệ có khoảng
10.000 người, trong đó có khoảng 1/5 là
tự vệ chiến đấu làm nòng cốt. Lực lượng
dân quân mới hình thành, đang bám
giữ ở các huyện ngoại thành, v.v..
N
N
25
Trước tình hình lực lượng ta còn
mỏng, vũ khí, đạn dược phần lớn là
súng trường, súng kíp, giáo mác thô
sơ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với
Trung ương Đảng, Chính phủ tìm mọi
cách tranh thủ hòa hoãn với đối phương
để có thời gian xây dựng lực lượng chiến
đấu. Ngày 06-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí
Minh ký Hiệp định sơ bộ với đại diện
Chính phủ Pháp là Xanhtơni tại số nhà
38 Lý Thái Tổ (nay là phía sau Cung
Văn hóa Thiếu nhi Hà Nội). Sau đó
không đầy hai tháng, Chủ tịch Hồ Chí
Minh lại phải ba lần gặp và hội đàm với
Cao ủy Pháp là Đô đốc Đácgiăngliơ khi
thì ở trên chiến hạm Emile Bertin đậu
tại vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, khi
thì ở Bắc Bộ phủ. Đoán được ý đồ của
Pháp đánh chiếm Nam Bộ rồi sẽ mở
26
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
mặt trận đánh ra phía Bắc, để có thêm
thời gian củng cố và xây dựng lực lượng
chiến đấu lâu dài cho quân và dân ta,
dù bận trăm công nghìn việc của Chính
phủ cách mạng, ngày 31-5-1946, Chủ
tịch Hồ Chí Minh lại lên đường sang
Pháp để tiếp tục tìm kế hòa hoãn với
Chính phủ Pháp. Trong chuyến đi đột
xuất ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký
với Chính phủ Pháp bản Tạm ước ngày
14-9-1946.
Trong gần ba tháng làm thượng
khách ở Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã có 40 cuộc tiếp xúc với giới báo chí,
với các bộ trưởng và 14 tướng lĩnh trong
Chính phủ Pháp, gặp Thủ tướng Pháp
G. Biđôn. Trong tất cả những cuộc tiếp
xúc đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nêu
N
N
27
rõ nguyện vọng chính đáng của Nhân
dân Việt Nam là mong muốn giữ mối
quan hệ Việt - Pháp không có tiếng
súng. Thể hiện rõ nhất là khi đến tham
quan khu di tích lịch sử ở Noócmanđi,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lấy bàn tay
mình bịt miệng khẩu đại bác với dụng ý
nói lên ý chí và tinh thần quyết tâm giữ
gìn hòa bình, kiên trì ngăn chặn chiến
tranh. Biểu tượng đó cũng là thông điệp
của Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt
Nhân dân Việt Nam gửi tới nhân dân
Pháp và những người cầm quyền nước
Pháp lúc đó.
Ở Hà Nội thời gian ấy đang trong
không khí nô nức hưởng ứng những
chủ trương, kế hoạch của Chính phủ và
của Thành ủy về thi đua chống giặc đói,
28
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
giặc dốt và giặc ngoại xâm. Nhân dân
Hà Nội cũng như Nhân dân cả nước đều
nghĩ nước nhà đã độc lập, tự do, thực
hiện chế độ dân chủ mới; sẽ có điều kiện
phát triển theo đà thuận buồm xuôi gió.
Mối quan hệ Việt - Pháp sẽ duy trì và
phát triển. Nhưng ngờ đâu, chỉ ít lâu
sau, lợi dụng thi hành Hiệp định sơ bộ
ngày 06-3-1946 mà Pháp đã ký với Chính
phủ ta, chúng đưa ào ạt 15 vạn quân
ra Bắc, vào cảng Hải Phòng và lên Hà
Nội để thay thế 200 nghìn quân Tưởng
Giới Thạch (tràn vào lấy cớ là quân của
Đồng minh để giải giáp quân đội Nhật
vừa đầu hàng trong Chiến tranh thế
giới thứ hai rút về Trung Quốc). Pháp
còn lén lút ký Hiệp ước Trùng Khánh
với quân Tưởng để chia phần nhân
N
N
29
nhượng nhau: Đối với miền Bắc Việt
Nam, âm mưu của quân Tưởng là “diệt
cộng cầm Hồ” nghĩa là diệt cộng sản,
bắt giữ Cụ Hồ; đối với miền Nam, quân
Pháp đã chiếm được Sài Gòn thì đánh
mạnh rộng ra chiếm các tỉnh Nam Bộ
và Nam Trung Bộ. Lợi dụng thời gian
Bác Hồ đang ở Pháp, tại Hà Nội, chúng
câu kết với bọn Quốc dân Đảng phản
động tìm cách chống lại Chính phủ Cụ
Hồ. Chúng in truyền đơn nói xấu cách
mạng, rình bắt và thủ tiêu một số cán
bộ của ta. Chúng lợi dụng nhân ngày
Cách mạng Pháp 14-7 tổ chức mít tinh,
kỷ niệm bằng cách cho một số quân
Pháp chuẩn bị diễu hành quanh bờ hồ
Hoàn Kiếm. Khi quân Pháp diễu hành,
chúng sẽ cho một số phần tử cực đoan
30
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
ném lựu đạn vào đoàn diễu hành để
quân Pháp lấy cớ đó đánh trả lại lực
lượng cách mạng.
Trước tình hình nước sôi lửa bỏng
đó, dưới sự lãnh đạo của Trung ương,
của Thành ủy, quân và dân Hà Nội
càng nóng lòng mong Bác Hồ về nhanh,
càng ra sức quyết tâm thực hiện mọi
biện pháp chống giặc đói, giặc dốt, giặc
ngoại xâm. Trên bờ tường hè phố xuất
hiện nhiều khẩu hiệu: “Hỡi quốc dân
đồng bào! Bọn thực dân Pháp cố ý làm
cho chiến tranh lan rộng. Tình thế mỗi
lúc thêm nghiêm trọng. Toàn dân gấp
gáp chuẩn bị kháng chiến! Chúng ta
quyết kháng chiến để bảo toàn lãnh
thổ và giữ vững chủ quyền!”. Những lời
lừa phỉnh, xuyên tạc của chúng đều bị
N
N
31
nhân dân Hà Nội tẩy chay. Xóm phố
nào cũng tích cực đào hào, đắp ụ, triển
khai việc thực hiện sẵn sàng chiến đấu.
Việc chuẩn bị sơ tán những máy móc
thiết yếu, kho tàng quan trọng ra ngoại
thành, lên chiến khu được gấp rút tiến
hành... Lực lượng Công an xung phong
của ta luồn sâu, ép sát, phát hiện được
chứng cứ cụ thể của bọn Quốc dân
Đảng phản động, báo cáo kịp thời với
đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư
của Đảng, với cụ Huỳnh Thúc Kháng Bộ trưởng Bộ Nội vụ kiêm giữ chức
quyền Chủ tịch nước thay Bác Hồ
đang đi công tác ở Pari. Trên cơ sở có
bằng chứng cụ thể đó, cụ Huỳnh Thúc
Kháng quyết định cho lực lượng Công
an xung phong của ta bóc trần âm mưu
32
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
của chúng. Những hố chôn cán bộ ta bị
chúng bắt cóc và thủ tiêu trong vườn ở
một số nhà của phố Ôn Như Hầu (nay
là phố Nguyễn Gia Thiều gần hồ Thiền
Quang) được nhanh chóng khai quật
lên. Những dụng cụ lén lút in truyền
đơn, tài liệu, kế hoạch chống phá cách
mạng đều bị công an ta phanh phui ra
trước công chúng. Không còn đường
nào chối cãi, bọn Quốc dân Đảng phản
động thất bại, đứng cúi gằm mặt trước
nhân dân Hà Nội.
Ngày 21-10-1946, Chủ tịch Hồ Chí
Minh về lại Hà Nội. Trong niềm mong
mỏi lâu nay, được tin Chủ tịch nước đã
về, hàng vạn người già trẻ, gái trai ở
Hà Nội đã đổ ra đường tiến hành cuộc
biểu tình tuần hành từ ga Hàng Cỏ về
N
N
33
đến phố Lê Lai chào đón Người. Những
tiếng hô vang dội khắp đường phố
quanh Hồ Hoàn Kiếm: Bác Hồ đã về!
Bác Hồ đã về! Hồ Chủ tịch muôn năm!
Hồ Chủ tịch muôn năm!
Một tháng sau, ngày 21-11-1946,
quân Pháp lật lọng, phá bỏ bản Tạm
ước ngày 14-9 đã ký với ta, trắng trợn
đưa quân đánh chiếm Lạng Sơn, Nam
Định, Hải Phòng, Quảng Yên. Mười
ngày sau, xe camnhông Pháp từ Hà
Nội qua cầu Long Biên sang Gia Lâm
dùng súng bắn chết hai người dân đang
đi trên đường, chúng trắng trợn khiêu
khích. Hôm sau, ngày 02-12, lính Pháp
xông vào nhà ở phố Hàng Buồm xé lá cờ
đỏ sao vàng đang treo ngay ngắn trước
cửa và cướp đi bảy tút thuốc lá rồi trắng
34
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
trợn hăm dọa người dân lương thiện.
Chúng còn móc nối với những phần tử
phản động, mua chuộc lôi kéo một số
đồng bào Công giáo, nhất là ở vùng giáp
ranh giữa hậu phương của ta với những
nơi chúng mới chiếm được gây nên các
điểm “nóng”. Trước tình hình nước sôi
lửa bỏng đó, sau Tết Nguyên đán Đinh
Hợi (ngày 09-02-1947) được ít ngày, tại
nơi tạm sơ tán ở chùa Một Mái, xã Sài
Sơn, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (cũ),
Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định đi
công tác vào Ninh Bình và Thanh Hóa,
tạo ra Mặt trận mới, sẵn sàng đương
đầu với giặc Pháp xâm lấn tới. Hai đồng
chí Hoàng Hữu Kháng và Tạ Quang
Chiến được lệnh đi theo làm nhiệm vụ
tháp tùng, bảo vệ Bác.
N
N
35
Ngày 19-02-1947, trời đầy mây, se
se lạnh, không một tia nắng, chuyến đi
“tạo mặt trận” bắt đầu. Đồng chí Hoàng
Hữu Kháng đi trước đưa đường, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đi giữa, đội chiếc mũ
cát, khăn vòng quanh cổ che kín bộ râu
điểm bạc. Đồng chí Tạ Quang Chiến đi
sau cảnh giới. Cả ba thầy trò ra khỏi
núi Thầy, đi bộ qua con đường xóm dài
hơn một trăm mét, đến nơi có chiếc xe
Jeep cũ màu đen do đồng chí Phạm Văn
Nền lái đang chờ sẵn. Khi xuất hành, xe
đi theo đường liên tỉnh, vòng ra đường
số 6, qua vùng núi nhấp nhô Xuân
Mai, rẽ vào đường 21. Đến đồn điền
Chi Nê, gà đã gáy canh ba, Chủ tịch
Hồ Chí Minh quyết định dừng chân và
nghỉ lại đây. Sáng hôm sau, ngày 20-02,
36
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
vào lúc 8 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến
thăm nơi sơ tán của Bộ Canh nông, 10
giờ, Người đến thăm Nhà máy in tiền
thuộc Bộ Tài chính và thăm gia đình
ông Đỗ Đình Thiện - một thành viên
trong Đoàn Việt Nam đàm phán với
Pháp năm 1946 ở Phôngtennơblô, đảng
viên Đảng Cộng sản Pháp.
Đúng 10 giờ sáng ngày 20-02-1947,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có mặt tại
rừng thông, cách thị xã Thanh Hóa
chừng 3 km về phía tây1. Tại đây, đứng
dưới những cây thông xanh đậm lá,
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với
hàng trăm cán bộ, nhân dân, đại biểu
1. Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.5, tr.68-70.
N
N
37
thân hào, trí thức của địa phương. Chủ
tịch Hồ Chí Minh nói:
- Cán bộ là cái dây chuyền của bộ
máy. Nếu dây chuyền không tốt, không
chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn
bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những
người đem chính sách của Chính phủ,
của Đoàn thể thi hành trong Nhân dân,
nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng
không thể thực hiện được.
Nói về ý nghĩa cuộc kháng chiến
trường kỳ chống thực dân Pháp xâm
lược đang ngày càng lan rộng ra, Chủ
tịch Hồ Chí Minh dùng hình ảnh so
sánh, dễ hiểu, thuyết phục. Người nói:
- Hai hòn đá cùng chọi nhau thì hai
hòn cùng vỡ, hai cái trứng cùng chọi
nhau thì hai cái cùng vỡ. Phải một cái
38
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
cứng, một cái mềm thì khi chọi nhau
một cái mới còn. Nên hai bên cùng dùng
mưu trí.
Hàng trăm người đứng nghe vỗ tay
ran, đồng tình, Chủ tịch Hồ Chí Minh
nói tiếp:
- Pháp có xe tăng, đại bác, thì ta
phá đường. Pháp có máy bay thì ta đào
hầm. Pháp muốn đánh chớp nhoáng thì
ta kéo dài. Nhất định ta thắng!
Những tiếng vỗ tay lại vang lên lan
tỏa khắp khu rừng thông. Mười sáu giờ
ba mươi phút chiều hôm đó, Chủ tịch
Hồ Chí Minh lên xe rời thị xã Thanh
Hóa, về thẳng đồn điền Chi Nê và nghỉ
đêm tại đây.
Sáng hôm sau, ngày 21-02-1947, vào
lúc 10 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự
N
N
39
cuộc họp đã dự kiến trước do ông Vũ
Đình Huỳnh ở lại tổ chức. Cuộc họp này
gồm nhiều vị chức sắc Thiên Chúa giáo
thuộc vùng Bùi Chu - Phát Diệm, có cả
giám mục Lê Hữu Từ, người đứng đầu
giáo hội ở vùng này. Sau mấy lời thăm
hỏi sức khỏe các đại biểu, Chủ tịch Hồ
Chí Minh giới thiệu tóm tắt tinh thần
nội dung Lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến ngày 19-12-1946. Người nhấn
mạnh đến chính sách đoàn kết lương
giáo, sẵn sàng mở ra mặt trận trên vùng
này để tiếp tục kháng chiến đến thành
công, thực sự bảo vệ độc lập, thống nhất
Tổ quốc.
Nói xong, Chủ tịch Hồ Chí Minh
ngồi chăm chú nghe các vị đại biểu nêu
ý kiến, chất vấn, thảo luận. Khoảng
40
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
hơn một giờ sau, Người kết luận cuộc
họp. Người khẳng định rõ chính sách
tôn giáo, tôn trọng tự do tín ngưỡng của
Chính phủ cách mạng, vận động mọi
người không nên mắc mưu lừa phỉnh,
chia rẽ của thực dân Pháp; phải đề cao
lòng yêu nước, kính Chúa trong đồng
bào giáo dân.
Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về lại địa
điểm sơ tán ở chùa Một Mái, Sài Sơn thì
thực dân Pháp lại dùng máy bay ném
bom, bắn phá Chi Nê, Nhà máy in tiền
thuộc Bộ Tài chính và nhà ông Đỗ Đình
Thiện, làm hư hỏng nhiều tài sản, may
mà không ai bị thương nhờ phòng tránh
kịp. Chuyến đi bí mật, khẩn trương,
đến với dân, với cơ sở một cách bất ngờ
đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp
N
41
N
thời chuẩn bị tạo ra mặt trận mới về
phía nam Hà Nội và càng thấy Người
luôn nhìn xa trông rộng.
Đ
2
ầu tháng 9-1950, Chủ tịch Hồ
Chí Minh cùng với vài người giúp
việc lặng lẽ rời thôn Khâu Lấu, xã Tân
Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên
Quang. Một tuần lễ sau, được tin Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã có mặt ở Tả Phầy
Tử, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng,
mọi người trong cơ quan giúp việc Chủ
tịch mới khẳng định là Người đã lên
mặt trận biên giới.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa làm
xong một số việc cần thiết, được tin
42
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
Chủ tịch nước đã tới Tả Phầy Tử liền
vội vàng lên ngựa phóng nhanh qua
những đoạn đường lầy lội để đến đón
Bác. Thấy Bác gầy và đen sau gần
một tuần đi len lỏi theo đường rừng,
Đại tướng không nén nổi xúc động.
Nhưng Đại tướng chưa kịp lên tiếng
hỏi thăm sức khỏe Bác thì Bác đã cởi
mở với Đại tướng:
- Dự xong cuộc họp Chính phủ ngày
02-9-1950, Bác đi ngay, chẳng mấy ai
biết Bác lên đây. Năm nay ở cơ quan
Trung ương không tổ chức kỷ niệm
ngày độc lập 2-9. Trên này chắc các chú
bận việc cũng quên!
Đại tướng niềm nở thưa với Bác:
- Dạ! Thưa Bác, chúng cháu không
quên, nhưng không tổ chức gì.
N
N
43
Rồi Đại tướng lễ phép mời Bác về Sở
chỉ huy chiến dịch. Trên đường đi, Bác
trùm chiếc khăn bông che bộ râu lốm
đốm bạc, đội mũ và ngồi lên ngựa cùng
Đại tướng hành quân đến địa điểm đặt
Sở chỉ huy chiến dịch biên giới Cao
Bằng - Lạng Sơn tại Nà Lạm, cách cụm
cứ điểm Đông Khê khoảng 10 km, tiện
cho việc trực tiếp quan sát.
Tại Sở chỉ huy chiến dịch, Đại tướng
Võ Nguyên Giáp báo cáo với Bác quyết
tâm của Bộ chỉ huy chiến dịch là mở
đầu bằng trận tiêu diệt Đông Khê, tiếp
theo là diệt quân viện, đánh Thất Khê,
cuối cùng là tập trung lực lượng giải
phóng Cao Bằng.
Với đà hứng khởi đó, Bác Hồ dùng
ngón trỏ bàn tay phải, chỉ vào thứ tự
bốn ngón bàn tay trái xòe ra, và nói:
44
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
- Một là đánh Đông Khê, hai là đánh
quân viện, ba là đánh Thất Khê, bốn là
đánh Cao Bằng. Tất cả là bốn bước.
Rồi Bác nói tóm tắt ý nghĩa chiến
dịch Cao Bằng - Lạng Sơn này là rất
quan trọng, “chỉ được thắng không
được thua”.
Tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Bác, Đại
tướng Võ Nguyên Giáp và số cán bộ
ngồi dự họp đồng thanh: “Dạ” lên. Bác
nói tiếp:
- Đông Khê tuy không lớn nhưng rất
quan trọng. Vì mất Đông Khê thì Cao
Bằng hoàn toàn bơ vơ. Địch buộc phải
cho quân ứng cứu. Bộ đội ta sẽ có cơ hội
đánh vận động.
Nói đến đây, như sực nhớ ra điều cần
biết, Bác hỏi các cán bộ dự họp:
N
N
45
- Bộ đội ta không biết đã quen đánh
vận động lớn chưa?
Đại tướng lên tiếng trả lời:
- Dạ! Chúng cháu đã có dự kiến.
Rồi Đại tướng thưa tiếp:
- Mùa hè vừa rồi đã được luyện tập.
Anh em tiến bộ nhiều. Cao Bằng là địa
hình rừng núi, sẽ thuận lợi cho đánh
vận động.
Bác ngồi lặng im, trầm ngâm trong
bộ quần áo bộ đội bạc màu đang mặc.
Ai cũng bất ngờ và lấy làm hãnh diện
về sự có mặt của Bác ở mặt trận này, ở
chiến dịch quan trọng này. Rồi chỉ lặng
im trong chốc lát, sau khi đưa mắt nhìn
âu yếm các cán bộ dự cuộc họp, Bác lên
tiếng tiếp:
- Bộ chỉ huy chiến dịch nói các chú
họp lần cuối cùng này để chuẩn bị trận
46
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
đánh. Đây chưa phải là lần cuối cùng!
Chưa đánh thắng thì chưa được coi là
đã chuẩn bị xong. Quân sự thì phải
chuẩn bị mãi. Thắng xong trận này
cũng chỉ mới là chuẩn bị xong một đợt.
Khi nào toàn thắng thì mới là chuẩn bị
xong. Trong quân sự phải kiên quyết và
bạo dạn. Bạo dạn, dũng cảm không phải
là liều. Liều là dại, dũng cảm là khôn.
Không phải chỉ một người kiên quyết
và bạo dạn mà phải toàn bộ, tất cả mọi
người. Muốn toàn bộ kiên quyết và
dũng cảm thì phải có kỷ luật. Kỷ luật là
động lực giữ sức mạnh cho bộ đội. Các
chú đã nghe Bộ chỉ huy chiến dịch phổ
biến quyết tâm của Trung ương Đảng
mở chiến dịch Biên giới. Các chú đã
được giao nhiệm vụ cụ thể. Bác không
có gì phải nói thêm. Chỉ nhắc các chú:
N
N
47
Thời gian lúc này vô cùng quý báu. Cần
tranh thủ thời gian thật tốt để chuẩn bị
chiến đấu cho đầy đủ. Chỉ có chuẩn bị
đầy đủ thì mới giành được chiến thắng
lớn và đỡ tốn xương máu chiến sĩ. Chiến
dịch Cao - Bắc - Lạng này rất quan
trọng. Chúng ta phải quyết tâm đánh
thắng trận này.
Nói đến đây, Bác lặng im giây lát rồi
bỗng lên tiếng hỏi to:
- Các chú có quyết tâm không?
Tất cả đồng thanh trả lời:
- Thưa Bác, có ạ!
- Bác chúc các chú thành công.
- Chúng cháu chúc Bác khỏe luôn!
Khỏe luôn!
Hai tiếng “Khỏe luôn” vang vọng lan
xa núi rừng.
48
PHONG CÁCH BÁC HỒ ĐẾN CƠ SỞ
Ngày 16-9-1950, quân ta nổ súng
tiến công Đông Khê, mở đầu chiến dịch
lịch sử.
Chủ tịch Hồ Chí Minh theo dõi mặt trận
Đông Khê (Cao Bằng) trong chiến dịch Biên
giới năm 1950
Khi mặt trận Đông Khê rền vang
tiếng súng, Chủ tịch Hồ Chí Minh làm
việc không ngừng, khi thì đứng ở điểm
cao quan sát, khi thì vào trong một lán
 





