Sách Nói] Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn - Chương 1
Tâm lí dân tộc An Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:58' 07-04-2024
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:58' 07-04-2024
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
ebook©vctvegroup[1]
https://thuviensach.vn
LỜI NGỎ
Chế độ thuộc địa đã cáo chung trên thế giới, khi bàn về chế độ
thực dân Pháp ở An Nam (Việt Nam), các vấn đề: chính sách cai trị,
kinh tế, thương mại, y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội... do người Pháp
áp dụng thường được khảo sát và đề cập. Tuy nhiên, để biến toàn
bộ An Nam trở thành xứ bảo hộ và áp đặt chính sách cai trị ở Nam
kỳ (thuộc địa) cũng như Bắc-Trung kỳ (bảo hộ), từ rất sớm người
Pháp đã ý thức được rằng: việc thấu hiểu diện mạo, đời sống, tính
cách và tinh thần người An Nam là những thách thức không nhỏ mà
họ sẽ gặp phải khi đặt chân đến xứ sở này. Chính vì vậy, thu thập và
tích lũy các quan sát để phục vụ công cuộc thực dân của nước Pháp
trên đất An Nam được xem là một phần công việc của những người
đi thực dân-bành trướng - một đặc tính di truyền của dân tộc
Pháp[2].
Vào nửa cuối thế kỷ XIX, đại úy hải quân Léopold Pallu - người
trực tiếp tham gia cuộc viễn chinh Nam kỳ năm 1861, đã viết trong
cuốn ký sự chiến trường Nam kỳ viễn chinh ký 1861: “Cho đến tận
ngày nay, người An Nam vẫn gần như không được biết tới dưới góc
độ dân tộc học. [...] Những nghiên cứu về diện mạo và tinh thần
người An Nam chưa từng xuất hiện trước cuộc chiến tranh Nam kỳ.
Vì vậy, thấu hiểu thực sự về khả năng và phong tục của dân tộc
này sẽ là lời bình luận hùng hồn nhất cho những khó khăn mà người
Pháp đã gặp phải ở đây.”[3]
Đầu thế kỷ XX, sau hơn ba năm thu thập và tích lũy quan sát ở
Đông Dương, Paul Giran - một quan chức cai trị thuộc địa Pháp, cho
xuất bản công trình Tâm lý dân tộc An Nam (Psychologie du peuple
https://thuviensach.vn
annamite) vào năm 1904. Ông cho rằng, “để cai trị tốt một dân tộc,
trước tiên phải học hỏi tìm hiểu, phải biết rõ, phải thấu đáo tâm hồn,
thần minh của họ.” Trong công trình của mình, Paul Giran đề xuất
một nghiên cứu về dân tộc An Nam; “để khám phá những sức mạnh
sâu kín của đời sống cộng đồng hoặc riêng tư; rút ra các nguyên tắc
tối thượng chi phối việc thành lập các thiết chế xã hội hoặc chính trị;
phân tích mọi ảnh hưởng mạnh mẽ đã định hình nên lịch sử và sự
tiến hóa của nó.”[4]
Để hiểu thấu đáo “tâm hồn và thần minh” của người An Nam,
Paul Giran, cũng như nhiều đồng nghiệp của ông, đã thâm nhập và
sinh sống để học ngôn ngữ và hiểu người bản xứ. Qua đó, khắc họa
nên đặc điểm quốc gia, sự tiến hóa lịch sử, trí tuệ, xã hội và chính trị
An Nam; tất cả nhằm phục vụ cho công cuộc thực dân của nước
Pháp, “để thành công quân sự không trở nên vô ích, theo sau đó
phải là chiến thắng của tiến bộ trước giấc ngủ mê Viễn Đông.”[5] Từ
đây, ông rút ra hai nguyên nhân chính góp phần vào sự hình thành
bản sắc dân tộc An Nam: chủng tộc và môi trường, cũng là đối
tượng mà công trình này tập trung khảo sát.
Nhận xét về Tâm lý dân tộc An Nam, Étienne Aymonier đã viết
trong “Lời tựa”: “Một công trình chắc chắn, phong phú, có nội dung,
tài liệu, chắc chắn không có tham vọng giải quyết những vấn đề lớn
làm thay đổi sự thống trị của chúng ta, nhưng chí ít tuyên dương
công trạng ở một vài khía cạnh.” “Tôi hy vọng, đối với ông (Paul
Giran) và cho đất nước chúng ta, rằng tương lai sẽ chắp nối tất cả
nguyện ước về những khởi đầu đáng kính này trong sự nghiệp
thuộc địa.”[6] Trước khi về Paris phụ trách Trường Thuộc địa,
Aymonier đã có hơn 15 năm ở nước Pháp-Á Đông, am hiểu xứ sở
này với tư cách một nhà chính trị. Đứng đầu cơ quan đào tạo nhân
https://thuviensach.vn
viên cai trị thuộc địa, Aymonier vẫn là một nhà chính trị. Vì vậy,
không có gì ngạc nhiên về cách đánh giá ông dành cho công trình
Tâm lý dân tộc An Nam và cá nhân Paul Giran.
Tâm lý dân tộc An Nam ra đời hơn 100 năm trước, thời điểm mà
người Pháp đã đặt ách cai trị trên đất An Nam, những bài học rút ra
từ nghiên cứu tâm lý này vẫn ít nhiều có giá trị tham khảo, “không
cần phải dạy người An Nam ngôn ngữ của chúng ta, cho họ tòa án
của chúng ta, tìm cách khắc sâu vào họ tôn giáo, ý tưởng và giáo
điều của chúng ta.” “Phải tôn trọng tính toàn vẹn của tổ chức xã hội;
không được chạm vào cả niềm tin cũng như luật pháp, kể cả bộ máy
hành chánh, hay phong tục bản xứ.”[7] v.v...
Nhân danh “khai hóa văn minh”, nước Pháp cho họ quyền thống
trị các dân tộc khác, người Pháp thì đưa ra “những lý tưởng, những
sứ mệnh, những bổn phận rất cao cả, linh thiêng để biện hộ cho chế
độ thuộc địa của họ.”[8] Étienne Aymonier, Paul Giran... là những con
người yêu nước mình, những mắt xích trong guồng máy thực dân
của một thời quá vãng. Một phần quan điểm của họ được viết ra
dưới giác độ của người đi thực dân, đó là điều mà chúng tôi lưu ý
độc giả khi tiếp cận cuốn sách mỏng này.
Dẫu vậy, Tâm lý dân tộc An Nam là một cuốn sách khá cô đọng,
lồng trong đó nhiều kiến thức lịch sử, nhân chủng, tiến hóa, văn hóa,
tín ngưỡng... Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi có bổ sung một số
cước chú cần thiết ở chân trang, có những cước chú khá dài do
người dịch đã dụng công tra cứu và dịch từ nhiều nguồn tài liệu
tiếng Pháp, nếu bạn đọc không thấy cộng hưởng xin vui lòng bỏ
qua.
Giới thiệu Tâm lý dân tộc An Nam trong “Tủ sách Pháp ngữ Góc nhìn sử Việt”, chúng tôi mong muốn gửi đến độc giả một công
https://thuviensach.vn
trình nghiên cứu khả tín, góp thêm một tài liệu có ích cho những nhà
nghiên cứu. Chúng tôi cũng rất cần sự hợp tác của quý vị độc giả,
giúp chúng tôi chấn chỉnh những sai sót để bản dịch được hoàn
thiện hơn trong lần tái bản.
Trân trọng,
CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH OMEGA VIỆT NAM
https://thuviensach.vn
Dành tặng vợ yêu, cộng tác viên tận tâm của anh.
P.G.
https://thuviensach.vn
LỜI TỰA
Không ai phủ nhận rằng nước Pháp phải nhận thức đầy đủ về
các vấn đề nghiêm trọng và tế nhị khởi từ việc mở rộng thuộc địa
gần đây. Sau khi chúng ta trả giá đắt bằng hàng ngàn con người và
hàng trăm triệu franc, những đầu tư quá an toàn này - như một trong
những chính khách của chúng ta đã nói - liệu có tạo ra được một sự
vận hành hiệu quả cho mục tiêu thực tiễn trước mắt: sự phát triển
thịnh vượng và hoạt động quốc gia, hay ở mục đích cao xa hơn:
truyền bá văn minh, cải biên chính tinh thần của chúng ta cho phù
hợp với não trạng của các dân tộc kém phát triển mà chúng ta coi
sóc?
Câu trả lời chỉ có thể được khẳng định dựa theo điều kiện đầu
tiên và thiết yếu: vấn đề thời gian thu hoạch. Tương lai tùy thuộc
Thiên Chúa - hay định phận rủi may - phải giới hạn mọi dự đoán,
thậm chí táo bạo nhất, trong một khoảng thời gian tương đối hạn
chế nhưng phải là mức tối thiểu thực sự cần thiết cho những cuộc
chinh phục tốn kém để sau này khỏi phải mang tiếng lừa dối con
cháu chúng ta. Hãy lấy ba trăm năm làm mốc: đó không là gì đối với
lịch sử nhân loại và rất ngắn ngủi đối với lịch sử quốc gia; với chúng
ta, chỉ là khoảng thời gian trôi qua giữa triều đại Đại đế Vert Galant[9]
và Tổng thống Émile Loubet. Vậy thử hỏi, tình trạng các thuộc địa
của chúng ta sẽ như thế nào vào lúc bình minh của thế kỷ XXIII?
Ở Bắc Phi, vào cuối triều đại Napoléon III, Prévost-Paradol[10] đã
trình ra một tác phẩm hứa hẹn mang đến sự thỏa lòng cho tiếng thét
cảnh tỉnh, vang vọng âu lo và gần như tuyệt vọng.
https://thuviensach.vn
Tại Algérie[11], nhân danh nước Pháp, sự máu lửa của tất cả các
dân tộc La-tinh được hòa quyện vào nhau. Luật Nhập tịch năm
1889, luật có hiệu lực tương lai, luật không thể xác thực nếu không
bao giờ được thực hiện[12], sẽ kích hoạt việc Pháp hóa chính thức
tất cả các yếu tố vốn không khác biệt lắm về nền tảng, vả lại các bậc
sơ học, dẫu còn chưa được mở rộng mấy, đang dần thấm nhuần
tinh thần Pháp. Nếu sự xâm chiếm thắng lợi của nông dân Sicile
buộc chúng ta phải bắt đầu lại cuộc chinh phục Tunisie[13], nếu có
thể nói như vậy, thì thật dễ hiểu khi nhận ra rằng với sức mạnh to
lớn đang tăng lên, từ tứ phía mọi luồng tấn công nhắm vào đầu óc
đặc quyền, đặc lợi đáng tiếc của những đại điền chủ, tự cho mình là
thực dân vì đã chiếm đoạt hầu hết vùng đất có sẵn, và của những
phái bộ thảm hại bấy lâu nay luôn nhắm đến việc gây mất uy tín
trước chính quyền vương quốc[14] cái công cuộc thuộc địa hóa chính
thức và sự thiết lập những địa chủ nhỏ mà Algérie kể từ đây đã có
thể cung cấp tương tự như Pháp quốc.
Đến lượt mình, vấn đề Maroc đang dần chín muồi[15], đè nặng
lên mọi đầu óc, đang đi đến cách giải quyết tự nhiên của nó, với sự
chấp nhận hoặc từ bỏ của châu Âu; và trừ khi có những sai phạm
hiển nhiên, những thảm họa không lường trước được, viên ngọc
này, trong số những viên ngọc quý của nước Pháp, trong thời gian
ngắn, sẽ nhân đôi, nhân ba giá trị tài sản tuyệt vời của chúng ta ở
lục địa Atlantis[16].
Khi đó, từ Vịnh Gabès[17] đến khắp đại dương rộng lớn, hàng
triệu người châu Âu mà chúng ta tin sẽ sớm tăng nhanh nhờ năng
lực sinh sản cũng như dòng chảy không ngừng của người La-tinh,
trong chưa đến ba thế kỷ, sẽ trở thành một quốc gia mạnh mẽ gồm
ba mươi triệu người châu Âu nói tiếng Pháp, pha lẫn với ít nhất
https://thuviensach.vn
cũng là một con số tương đương số người bản xứ cũng sẽ sử dụng
tiếng nói của chúng ta, điều vốn không làm hài lòng một số ít người
thiếu ý thức, những kẻ mơ mộng chấn hưng, làm sống lại hoặc hợp
nhất mọi phương ngữ của xứ sở. Sáu mươi triệu người Pháp
Atlantis này sẽ tràn qua biên giới tự nhiên, băng qua sa mạc Sahara
vươn tới Tây Phi của chúng ta, để có thể khai thác nó hiệu quả; bởi
không ai biết những tài nguyên của cải nào dành cho chúng ta, trong
sa mạc mênh mông, kiến thức về lòng đất, sự tiến bộ của khoa học
hay việc sử dụng nhiệt năng, chẳng hạn như nhiệt năng mặt trời.
Giữa nước Pháp-Phi trẻ này và Mẫu quốc Pháp già nua ở châu
Âu, sự phân ly chính trị là không thể tránh khỏi, có lẽ nó được nhận
định quá cứng nhắc và sẽ chỉ là một sự kiện quan trọng thứ yếu,
được khởi xướng từ phương Bắc[18], là do tự thấy mình bị ảnh
hưởng quá nhiều trong đời sống nội tại từ cái thuộc địa gần gũi và
gợi cảm hứng này. Điều đáng mong muốn, điều phải là trên hết, đó
là hàng trăm triệu con người sẽ sử dụng tiếng Pháp trên cả hai bờ
Địa Trung Hải và đều thấy giống như đang ở nhà mình, tất cả được
đào tạo trong một khối đại đồng về ý niệm và tình cảm, hàm chứa
sự đồng nhất ngôn từ hiển nhiên, do đó mang lại cho nhau sự hỗ
tương, giúp đỡ và trợ lực. Vì, dù đẹp đến đâu, liệu có phải chính từ
các thuộc địa hiện tại của mình mà nước Anh đã lấy được chỗ dựa
tư tưởng lớn nhất? Không phải thế sao, khi mà bất chấp sự phân ly
dữ dội và lan tỏa giông bão Đại Tây Dương, tám mươi triệu người
Bắc Mỹ, với chủng tộc pha trộn, nhưng tất cả đều nói ngôn ngữ của
họ, mua sách báo, tham gia vào đời sống trí tuệ của họ?
Vậy, với mọi viễn cảnh trên, công trình của nước Pháp sẽ mạnh
mẽ và đạt thành tựu ở châu Phi.
https://thuviensach.vn
Thành công ở Madagascar còn đầy hoài nghi. Chúng ta mang lại
sự yên bình và thịnh vượng tương đối cho dân cư rất sinh sôi nảy
nở của hòn đảo lớn này. Chỉ tăng gấp đôi số lượng dân cư của hàng
trăm năm qua và, vào đầu thế kỷ XXIII, sẽ vượt qua con số hai mươi
triệu sinh linh, trong đó có vài trăm nghìn người Âu và người lai. Đặc
điểm của dân tộc này sẽ là gì và giá trị của nó đối với sự bành
trướng của nước Pháp trên thế giới sẽ ra sao? Chúng ta có thể
mạnh dạn trả lời rằng giá trị này sẽ đến trực tiếp từ kiến thức và việc
sử dụng ngôn ngữ chúng ta. Vậy điều trở ngại là cần tránh làm lụi
tắt những nhiệt huyết tốt đẹp ban đầu của cuộc chinh phục, trong khi
phải đồng thời chống lại tiếng Anh; là quên rằng nếu tất cả các công
chức Pháp phải biết ngôn ngữ của xứ này, thì bên cạnh đó tất cả
người bản xứ phải học và có thể nói khá hơn ngôn ngữ của chúng
ta; là khuyến khích những chủ nhân của hòn đảo đã thấp thoáng ló
dạng, lớp học giả nửa mùa tai hại[19], nhanh chóng bị mê hoặc bởi
sự ngưỡng mộ về chủ đề nghiên cứu đặc biệt của họ, vì niềm hữu ý
và vụ lợi nhiều hơn là sự chân thành và công chính, dễ dàng sẵn
lòng coi thường nhiệm vụ yêu nước của mình để bảo lưu, thanh lọc,
củng cố, tạo ra, có thể nói, một bản ngữ, và tiếp theo là một đặc tính
quốc gia bản địa. Vậy làm sao không nghi ngờ cho được những nỗ
lực của các quỹ của Viện Ngôn ngữ Malgache[20] mà chính những
kẻ thống trị tài trợ, nếu họ có ý định áp đặt chương trình “cải cách
xác đáng” của mình lên các quy tắc ngôn ngữ của xứ này!
Sự hồ nghi này sẽ chuyển thành nỗi lo lắng nếu chúng ta chuyển
sang Đông Dương, nơi tất yếu cần xem xét trước tiên là sự hấp thụ,
dù hòa bình hay đối kháng, của đất nước này đối với khối khổng lồ
bốn trăm triệu người Trung Hoa, mà dù có thế nào đi nữa cũng sẽ
phát triển dưới áp lực của thời cuộc. Tại sao đất nước Trung Hoa,
https://thuviensach.vn
có nền văn minh đỉnh cao, rốt cùng thoát khỏi quy luật này lại biểu
hiện quá tự mãn kể từ năm 1870[21]? Hầu như tất cả các dân tộc,
thậm chí còn sơ khai, có những bước tiến vượt bậc về ý thức phòng
vệ và sử dụng vũ trang khi bị đánh thức khỏi sự ngủ mê hay bị quấy
rối sự yên tĩnh bởi việc xâm nhập bạo lực của người châu Âu. Nhật
Bản và Abyssinia[22] chỉ là một số ví dụ, đúng là nổi bật nhất, cho
những tiến bộ phổ quát này, chứng tỏ cái phúc cho những kẻ sở
hữu[23] và làm cho mọi cuộc chinh phục trong tương lai ngày càng
khó khăn hơn.
Để qua một bên viễn cảnh của hiểm họa Trung Hoa, mà những
thuận lợi rất đáng gờm về giao lưu không ngừng gia tăng[24] có thể
xảy ra theo sau cuộc chiến với một cường quốc to lớn nào đó và sẽ
gây tổn thất từ xứ Đông Dương nằm cách nước Pháp đến 3.000 hải
lý, vậy thì ở cuối con đường mà chúng ta không phải là chủ tể, vị thế
của những thần dân châu Á của chúng ta trong ba trăm năm nữa là
gì?
Ở đây, ít ra không bao giờ phải dùng chính sách mũ ni che tai
hay cường điệu hóa bằng những ngôn từ sáo rỗng để làm hài lòng
tinh thần có ở hầu khắp đồng bào chúng ta.
Biến đổi xứ sở bằng cách cung cấp cho nó các công cụ kinh tế
tinh vi, tái tạo nòi giống, ngăn chặn tình trạng tử vong ở trẻ em, làm
cường tráng thân thể, chấn hưng tâm hồn, phục dựng tinh thần, v.v.
Đó là những công thức phổ biến và biến hóa vô cùng. Trong thực tế
những việc này có ý nghĩa gì? Tóm tắt chỉ có ba điều, không nhiều
hơn: cải thiện cơ sở vật chất của xứ sở, gia tăng dân số ở mức nhất
định, và sự tiến hóa tất nhiên của tâm hồn; ba điều đó sẽ cấu thành
nhiệm vụ không thể tránh của kẻ chinh phục, với lợi ích gần như độc
quyền cho các thần dân.
https://thuviensach.vn
Kể từ năm 1886, tôi hài lòng khi nhắc lại điều đó với các quan lại
An Nam, họ quá muộn phiền vì sự hỗn loạn kinh khủng của thời đại
và sự đàn áp tàn bạo không thể tránh: “Tôi đã nói với họ, chủng tộc
của bạn trong quá khứ từng chịu những khủng hoảng lớn hơn nhiều
mà còn không làm sao ngăn được nó phát triển. Về cơ bản, tất cả
chúng tôi là người Pháp, chúng tôi chỉ làm vì bạn. Chúng tôi sẽ
không lấy đất nước của bạn, chúng tôi sẽ biến đổi nó. Chúng tôi
không làm giống nòi bạn biến mất, mà chắc chắn sẽ tiến bộ và giàu
có lên dưới sự hướng dẫn của chúng tôi. An Nam của bạn là một
trong số ít các vương quốc khép mình tuyên bố bế quan, một việc
bất khả thi ở thời điểm này; chúng tôi mở nó ra, vì lợi ích của nó,
cho hoạt động phổ quát.”
Tôi vẫn tin rằng ngày nay những quan điểm này là chính xác.
Nhưng trong mức độ nào thì công trình có thể mang lại lợi nhuận
cho nước Pháp?
Bảy hoặc tám phần mười thần dân Đông Dương cùng một chủng
tộc mà phần mở rộng tất nhiên sẽ hấp thụ hoặc loại bỏ mọi yếu tố dị
biệt trong tương lai như nó đã hấp thụ hoặc loại bỏ chúng trong quá
khứ. Sự thống trị của chúng ta dường như không gây trở ngại cho
kết quả chung cuộc. Có dòng máu rất pha trộn, người An Nam
không lập nên được một quốc gia có tổ chức và thống nhất chặt chẽ
bằng ngôn ngữ, tín ngưỡng dân tộc, sự tự hào về chủng tộc, tình
cảm về một quá khứ với đầy rẫy nét vẻ của một chủ nghĩa yêu nước
có thể so sánh với tình yêu nước của người Pháp ở một thời xưa
cũ. Sự trung quân bị nhầm lẫn với tình yêu đất tổ và không gì hủy
diệt được nó. Ông lão bảy mươi tuổi, như Phan Thanh Giản vào
năm 1867[25], người ở độ tuổi hai mươi, như Tôn Thất Đạm vào năm
1888[26], đã kiên cường tự tử sau khi ra lệnh cho thuộc cấp quy
https://thuviensach.vn
hàng để chờ đợi thời cơ tốt hơn. Tinh thần đoàn kết của quốc gia và
đại diện tối cao của nó vẫn được hiện rõ trong những lời tuyên bố
long trọng, những lời nhận lỗi công khai, trong đó vua chúa hạ mình
xuống, than vãn và tự buộc tội bản thân cho những tai họa lớn xảy
ra trong triều đại của mình.
Theo một quy luật quen thuộc, các nhóm dân tộc thiểu số[27] ở
An Nam sẽ nổi lên chống đối. Sự nổi dậy mạnh mẽ sẽ khai phóng ý
niệm về Tổ quốc, sẽ khiến nó xuất hiện với tất cả sức mạnh và sự
trong sáng của nó, như các quốc gia nhiệt thành nhất của châu Âu
hiện nay, đó là nhân tố ngoại lai, là sự hiện diện của chúng ta và
hành động không chủ ý nhưng đương nhiên của họ, những cái đang
thấm nhuần vào các ý tưởng và nền văn minh của chúng ta một cảm
giác phiền nhiễu ngày càng rõ ràng gây ra bởi những kẻ cai trị hoặc
thậm chí là sự thù hận mà họ kích động. “Kẻ thù của chúng ta là chủ
nhân của chúng ta”, tinh thần này sẽ được lặp lại, đó là người Hoa,
người An Nam, người Pháp dù xấu hay tốt. Thậm chí phải thừa
nhận rằng bằng cách nào đó thần dân sẽ nợ chúng ta ít nhiều sự
công nhận của họ vì họ thấy biết ơn chúng ta, điều mà ngày nay
chúng ta vẫn có cơ sở tin tưởng. Bên nào nặng hơn, trên bàn cân
đong đếm, một mặt là tình cảm lợi ích của chúng ta, ngay cả khi
chúng không bị tranh cãi, và mặt khác, ký ức về những khó khăn
của việc chinh phục, và hơn thế nữa, sự xấu hổ về sự hiện diện của
chúng ta?
Sẽ không quá đỗi huyễn hoặc để tin rằng họ sẽ đợi ba thế kỷ trôi
qua trước khi ngẩng đầu tuyên bố độc lập, rằng năm mươi triệu
người dân An Nam, nơi sẽ hòa lẫn vài trăm ngàn người lai, điều này
sẽ thật sự rất nguy hiểm cho sự thống trị của chúng ta, nếu chúng ta
https://thuviensach.vn
phạm phải sai lầm không thể tha thứ là duy trì họ ở tình trạng đẳng
cấp trung gian?
Không thể nào so sánh công cuộc ở Ấn Độ, đó là bức tranh ghép
của các dân tộc xa lạ với nhau, còn chia ra thành những đẳng cấp
không thể khắc phục, và ở xứ An Nam này, nơi cuộc chinh phục đã
gặp một chủng tộc hòa hợp tuyệt vời, đặt lên trên những nền tảng
vững chắc của tổ chức gia đình và làng xã, sự phân cấp thông tuệ
của những Nho gia quan lại, tôn vinh thiết chế xưa cũ của vương
quyền, đại giáo chủ và đại diện tối cao của dân tộc!
Bây giờ, khi thời điểm báo hiệu cho sự phân ly không thể tránh
khỏi, hòa hoãn hoặc bạo lực, mà phải có dự tính lạnh lùng, điều này
tốt hơn việc thoái lui, ở đây chúng ta sẽ còn làm việc cho Pháp chỉ
trong phạm vi mà chúng ta gây dựng vững chắc ngôn ngữ của
chúng ta. Tồn tại một ngôn ngữ An Nam, trừu tượng với sáu thanh
sắc của các âm đơn, là một phương ngữ rõ ràng, phong phú về các
từ ngữ thông thường, chuẩn và chính xác. Nhưng từ hơn 2000 năm
nay, tiếng nói phổ thông này được duy trì ở trạng thái phương ngữ
nội bộ không phát triển hoặc có tiến hóa khả dĩ nào, bằng ngôn ngữ
Trung Hoa được dẫn dắt với văn minh của Đại đế quốc và hằng định
là một ngôn ngữ trí tuệ, văn học và chính thức. Tất cả người An
Nam được đào tạo - và giáo dục rất phổ biến - sử dụng hai ngôn
ngữ trong giao tiếp, ngôn ngữ của họ, có cú pháp đơn giản như
ngôn ngữ của người Pháp, và trong ngôn ngữ viết, là tiếng Trung
Hoa, mà cấu trúc của nó luôn đảo ngược (so với tiếng Pháp).
Trong số các vấn đề cần phải ngay lập tức xem xét, có việc liệu
chăng nên dùng tiếng Pháp, ngôn ngữ có cấu trúc câu của tiếng An
Nam, thay cho tiếng Hoa, ngôn ngữ cú pháp hoàn toàn khác nhưng
cận kề tiếng An Nam hơn bởi tính đơn âm, nhiều ngữ điệu và nhiều
https://thuviensach.vn
thuật ngữ sử dụng thông thường của nó đã bổ sung vào phương
ngữ bình dân, ít nhất là trong lĩnh vực tiếng nói cao cấp (trong xã
hội). Sau đó, hãy để tương lai quyết định có bao nhiêu từ tiếng Pháp
sẽ làm phong phú hoặc sửa đổi thổ ngữ này trong phạm vi rất hạn
chế đó là tiếng An Nam hiện thời.
Giải pháp khiêm tốn và khả thi này sẽ có những ưu và nhược
của nó. Chữ Hoa tượng hình tạo thành một ngôn ngữ chung, phổ
biến trong số năm trăm triệu người da vàng; trong khi việc sử dụng
tiếng Pháp sẽ xoay An Nam về phía thế giới châu Âu, cả khoa học
và nền văn minh của nó. Trong hai hướng này, điều gì sẽ thuận lợi
nhất cho các thần dân của chúng ta? Vấn đề có thể vẫn còn bỏ ngỏ.
Nhưng lợi ích của những kẻ chinh phục thoát khỏi tất cả tranh cãi và
đó là điều cần phải cân nhắc.
Điều này cho thấy bao nhiêu khó khăn và lo lắng - câu này không
phải là quá nặng - cho công trình được nước Pháp thực hiện ở vùng
Viễn Đông[28]. Một trong những điều kiện thiết yếu của hành vi tốt rõ
ràng của nó là kiến thức thấu đáo về các thần dân chúng ta, liên
quan đến các nghiên cứu sâu sắc và nghiêm túc về tâm lý của họ.
Chúng tôi không thể vì thế quá hoan nghênh phát kiến thông minh
của Paul Giran, một công trình chắc chắn, phong phú, có nội dung,
tài liệu, chắc chắn không có tham vọng giải quyết những vấn để lớn
làm thay đổi sự thống trị của chúng ta, nhưng chí ít tuyên dương
công trạng ở một vài khía cạnh.
Việc kết lại một vài nhận xét nhằm giới thiệu về cuốn sách này
đã yêu cầu tôi giới thiệu thêm cho độc giả, và tự tôi làm điều này,
rằng cũng muốn giới thiệu về con người tác giả. Ông thuộc loại
người hiếm có, người được tin tưởng từ cái nhìn đầu tiên, những
người miền Nam bình tĩnh và chín chắn. Sau khi học tú tài, người
https://thuviensach.vn
con của thành Nimes học ba năm chính quy tại Trường Thuộc địa,
tiếp là ba năm nghĩa vụ quân sự, ông vui vẻ theo đuổi công việc, với
tất cả tinh thần trách nhiệm yêu nước. Ra khỏi quân đội, ông hân
hoan tác hợp với bạn đời đồng hành của mình, mong muốn cao quý
tạo một mái ấm, ổn định cần thiết, của phẩm hạnh cá nhân với các
thuộc địa. Và ngay sau đó, đi đến Đông Dương, nơi sự tin tưởng và
quý mến của các lãnh đạo đã kêu gọi ông, trong thời gian ba năm
lưu trú đầu tiên, đảm nhận các nhiệm vụ tế nhị, cho phép ông thu
thập và tích lũy các quan sát để hôm nay công bố cho công chúng.
Tôi hy vọng, đối với ông và cho đất nước chúng ta, rằng tương
lai sẽ chắp nối tất cả nguyện ước về những khởi đầu đáng kính này
trong sự nghiệp thuộc địa.
ÉTIENNE AYMONIER[29]
Tháng 12 năm 1903
https://thuviensach.vn
DẪN NHẬP
Lâu nay người Pháp chúng ta gặp nhiều khó khăn khi xét đoán
những dân tộc hải ngoại với cái nhìn khác biệt. Chúng ta vẫn quen
với việc nhìn họ qua những cảm quan riêng biệt và phán xét họ theo
ý kiến của mình. Từ lâu chúng ta tin rằng nhân loại cơ bản giống
nhau; và rõ ràng một điều là nếu có sự khác biệt thì đó không phải là
điều quan yếu; và mọi con người dường như đều có khả năng tự
hoàn thiện.
Khái niệm thuần túy triết học này không phải không nguy hiểm
khi được đưa vào ứng dụng. Vì nó đồng nhất chúng ta với những
dân tộc có nền văn minh, phong tục, tôn giáo, tư duy khác biệt sâu
xa, khiến chúng ta đánh giá sai tính cách thực sự của họ, áp dụng
luật pháp, thiết chế, tôn giáo hoặc đạo đức của chúng ta cho họ, và
khiến trong nhiều trường hợp lại gây nguy hại đến thanh danh (nước
Pháp) trong các sự vụ thuộc địa.
Ngày nay, một tinh thần mới đã xuất hiện. Hiện thời, việc chấp
nhận duy trì các xã hội bản xứ dưới sự thống trị của chúng ta có thể
dựa trên một cơ cấu có những nguyên tắc khác với những nguyên
tắc đã từng là cơ sở cho các xã hội châu Âu.
Phải thừa nhận rằng chúng ta mất hơn một thế kỷ để khám phá
ra một sự thật là học thuyết bình đẳng đã ngăn trở nỗi hoài nghi về
việc mỗi dân tộc, cũng như mỗi con người, đều có một tâm hồn
riêng, mang bản sắc quốc gia cũng như đặc thù cá nhân.
Ngày nay, rõ ràng để cai trị tốt một dân tộc, trước tiên phải học
hỏi tìm hiểu, phải biết rõ, phải thấu đáo tâm hồn, thần minh của họ.
https://thuviensach.vn
Trong cuốn sách này, chúng tôi đề xuất một nghiên cứu về dân
tộc An Nam; để khám phá những sức mạnh sâu kín của đời sống
cộng đồng hoặc riêng tư; rút ra các nguyên tắc tối thượng chi phối
việc thành lập các thiết chế xã hội hoặc chính trị; phân tích mọi ảnh
hưởng mạnh mẽ đã định hình nên lịch sử và sự tiến hóa của nó.
Với mục đích này, chúng ta sẽ lần lượt khảo sát hai nguyên nhân
chính đã góp phần vào sự hình thành bản sắc quốc gia An Nam:
chủng tộc và môi trường.
https://thuviensach.vn
Phần 1
ĐẶC ĐIỂM QUỐC GIA
https://thuviensach.vn
Chương I:
CHỦNG TỘC
I. Mô tả chủng tộc
Người An Nam là một đại diện của chủng tộc da vàng, thuộc Đại
chủng Á (Mongoloides)[30], có các nhánh chính là: họ Mông Cổ nói
riêng, chiếm các vùng trung tâm châu Á; chủng Đột Quyết (Turc);
nhánh lớn nhất, chủng Hán Hoa; và cuối cùng là các quần thể sống
chủ yếu trên các sườn dốc dãy Himalaya được ông de
Quatrefages[31] gọi là “Indo- Mongoles” (Cổ Mã Lai-Mông Cổ)[32]. Ở
đâu đó giữa những nhánh sau cùng, các nhà nhân chủng học xếp
vào nhóm dân tộc An Nam.
Một cách tổng quát, diện mạo người An Nam hiện tại, phần lớn có
các nét chung của dân Mông Cổ: đầu rộng ngắn (brachycéphale);
trán thấp và dô ra, gò má cao, mắt nhỏ xếch, mí trên bụp và nặng,
lông mày thưa, vểnh lên về phía đuôi; mắt đen, mũi bẹt phần phía
dưới, phình ra, rộng ở gốc; đôi tai cách xa, môi dày, tóc đen, cứng và
suông, râu và ria mép thưa, chỉ mọc rậm khi vào tuổi trung niên.
Nét đặc trưng nhất của dung mạo này là “xương gò má rộng và
cao, khiến cho khuôn mặt trông giống hình thoi hơn hình bầu dục”[33].
Da người An Nam thường có màu “xanh nhợt hoặc hơi vàng, đôi
khi trắng đục”, tuy nhiên, sậm hơn ở những người sống ở miền Nam
Đông Dương.
Nhiều người muốn quy sự khác biệt về màu da này đơn nhất về
cho tác động của mặt trời, mà ở vùng nhiệt đới rõ là nóng như nung
như đốt phần da phơi ra dưới nắng, làm da nâu thêm và do vậy trông
https://thuviensach.vn
càng nổi bật hơn; còn ý kiến của chúng tôi là, chúng ta hãy còn phải
nhìn nhận thêm ảnh hưởng của việc lai với người Mã Lai.
Cái nôi của chủng tộc An Nam là Bắc kỳ và các vùng lân cận, ở
đó tìm thấy những cá thể “thuần chủng” nhất có da nhạt màu nhất;
ngược lại, người An Nam ở vùng Hạ Đàng Trong (la BasseCochinchine) quan hệ trực tiếp hơn với người Mã Lai hay người
Chăm, nên chắc chắn đã biến đổi khi tiếp xúc với họ.
Tóm lại, có thể nói với hai ông Bouinais và Paulus[34] rằng làn da
của người An Nam minh chứng một sự chuyển tiếp giữa người Mã
Lai và người Hán Hoa; da sáng hơn người Mã Lai, đậm màu hơn
người Hán Hoa.
Người An Nam thường không cao, chiều cao trung bình là lm60 ở
nam và lm50 ở nữ. Hai chân, dù mảnh mai, nhưng khỏe; ở một số
người, ngón chân cái choãi ra phía ngoài, cách khỏi các ngón chân
còn lại. Lưng dài tương ứng với chân; vai và ngực hẹp, cổ tay cổ
chân linh hoạt, bàn tay mảnh và thuôn. Toàn bộ cấu trúc giải phẫu
tạo ấn tượng mảnh mai và yếu đuối. Thật hiếm khi thấy người An
Nam béo phì; xương lộ ngay dưới da. Trọng lượng cơ thể trung bình
là khoảng 55kg ở đàn ông và 45kg ở phụ nữ, như vậy nhẹ cân hơn
so với các chủng tộc Âu.
Cơ lực của họ không đáng kể; một vật nặng phải mất hai người
An Nam, đôi khi nhiều hơn, nâng lên một cách khó khăn, trong khi chỉ
cần một người Âu là đã có thể dễ dàng mang đi. Điều làm chủng tộc
An Nam khác với chủng tộc Hán Hoa là sự lực lưỡng. Sự kém về
mặt thể chất ở người An Nam, không nghi ngờ gì, là kết quả do tác
động kéo dài của kiểu khí hậu Đông Dương. Càng xuống vùng nắng
nóng, tác động này càng rõ rệt hơn. Người Bắc kỳ không lực lưỡng
bằng người miền Nam Trung Hoa, nhưng luôn cao lớn và mạnh mẽ
hơn người dân ở Hạ Đàng Trong. Họ thường chỉ cao đến lm60 và đôi
https://thuviensach.vn
khi, nhưng hiếm, cao đến lm65. Ở Bắc kỳ, phụ nữ làm việc như đàn
ông, thường làm nghề culi[35] mà phụ nữ Nam kỳ không có khả năng
làm. Tương tự như vậy, thường thấy rằng culi-xe[36] Bắc kỳ chạy tốt
hơn, chạy những chuyến dài hơn người Nam kỳ.
Bên cạnh đó, tuy có dáng vẻ yếu đuối nhưng người An Nam lại có
một sức đề kháng đáng kể. Dưới khí hậu nóng bức, anh ta miệt mài
lao nhọc và làm bằng chứng cho phẩm chất bền bỉ tuyệt vời. Có thể
ở cả ngày ngoài ruộng, cúi mặt cấy lúa, lội bùn lên đến đầu gối, tiếp
xúc với nền đất ẩm nóng hừng hực bốc lên và phả khủng khiếp vào
người; hay cũng tương tự vậy ở trên thuyền tam bản, đầy nắng, gập
người chèo thuyền hàng giờ liền. Có bao nhiêu người Âu có thể làm
công việc khó nhọc của những người culi-xe, chạy hàng giờ với tốc
độ mười hai cây số một giờ không mệt mỏi, chỉ có vài phút nghỉ ngơi
để uống một tách trà hoặc ăn một bát cơm.
Để xác định nguồn gốc của những ưu điểm thể chất này, cần phải
tính một chút đến sự phát triển của hệ thần kinh ở người An Nam, về
việc họ thiếu vắng cảm giác, và do đó, dửng dưng với đau đớn và lao
lực. Tôi không nghĩ cần phải xem xét, như đôi khi ta vẫn nghe nói,
đến ảnh hưởng di truyền được bảo tồn và truyền lại qua nhiều thế
hệ, một di sản sức mạnh được thừa kế bởi tổ tiên Mông Cổ.
Chủng tộc An Nam sinh sản nhiều. Nhờ vào khả năng bành
trướng mà họ có thể, trong một thời gian tương đối ngắn, chiếm đất
một cách hoàn hảo trên một phần lớn bán đảo Đông Dương. Trong
khi ở châu Âu, tần suất sinh của 100 phụ nữ đã lập gia đình dưới 50,
ở Phổ là 29, ở Anh 26, ở Pháp 16, người ta tính rằng số lần sinh trên
100 phụ nữ An Nam, trong cùng điều kiện, lên tới khoảng 170. Như
chúng ta sẽ thấy sau đây, việc thiếu vắng cảm giác về thịnh mãn, đất
đai phì nhiêu, sự phân chia tài sản cực đoan, tổ chức gia đình và tín
ngưỡng tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong việc tăng đáng kể tỷ lệ
https://thuviensach.vn
sinh. Vậy, đây không phải chỉ là một nét đặc trưng của chủng tộc mà
còn là ảnh hưởng chủ đạo của môi trường vật chất và xã hội đối với
đối tượng này.
Dưới bầu khí hậu như thiêu đốt làm kích thích các dây thần kinh
đến cùng kiệt, kích hoạt lưu thông máu và đốt cháy động vật, người
An Nam trưởng thành sớm và già nhanh hơn những cư dân vùng ôn
đới. Họ trông già sớm và hiếm khi sống thọ. Trong số 65.489 trường
hợp tử vong trong năm 1900 ở người An Nam hoặc những người Á
khác sống ở Nam kỳ, chỉ có 7.075 người chết trên 60 tuổi; tỷ lệ này
tương đương ở năm 1901: 51.908 người chết, trong đó có 6.231
người chết trên 60 tuổi[37]. Như vậy, chỉ hơn một phần mười dân số
An Nam sống đến tuổi 60; tỷ lệ này là tương đối thấp.
Người An Nam. Kiểu người Nam kỳ. © Ảnh từ bản gốc tiếng Pháp.
Ngoài ra, tuổi dậy thì đến rất sớm ở cư dân Đông Dương; lần kinh
nguyệt đầu tiên, theo quan sát của bác sĩ Mondière, xảy ra ở nữ vào
tuổi 12, và độ tuổi kết hôn là 16 tuổi 4 tháng. Do đó không phải là
https://thuviensach.vn
hiếm, nhất là trong các gia đình khá giả, các cuộc hôn nhân trong đó
vợ chồng ăn ở với nhau kéo dài không ...
https://thuviensach.vn
ebook©vctvegroup[1]
https://thuviensach.vn
LỜI NGỎ
Chế độ thuộc địa đã cáo chung trên thế giới, khi bàn về chế độ
thực dân Pháp ở An Nam (Việt Nam), các vấn đề: chính sách cai trị,
kinh tế, thương mại, y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội... do người Pháp
áp dụng thường được khảo sát và đề cập. Tuy nhiên, để biến toàn
bộ An Nam trở thành xứ bảo hộ và áp đặt chính sách cai trị ở Nam
kỳ (thuộc địa) cũng như Bắc-Trung kỳ (bảo hộ), từ rất sớm người
Pháp đã ý thức được rằng: việc thấu hiểu diện mạo, đời sống, tính
cách và tinh thần người An Nam là những thách thức không nhỏ mà
họ sẽ gặp phải khi đặt chân đến xứ sở này. Chính vì vậy, thu thập và
tích lũy các quan sát để phục vụ công cuộc thực dân của nước Pháp
trên đất An Nam được xem là một phần công việc của những người
đi thực dân-bành trướng - một đặc tính di truyền của dân tộc
Pháp[2].
Vào nửa cuối thế kỷ XIX, đại úy hải quân Léopold Pallu - người
trực tiếp tham gia cuộc viễn chinh Nam kỳ năm 1861, đã viết trong
cuốn ký sự chiến trường Nam kỳ viễn chinh ký 1861: “Cho đến tận
ngày nay, người An Nam vẫn gần như không được biết tới dưới góc
độ dân tộc học. [...] Những nghiên cứu về diện mạo và tinh thần
người An Nam chưa từng xuất hiện trước cuộc chiến tranh Nam kỳ.
Vì vậy, thấu hiểu thực sự về khả năng và phong tục của dân tộc
này sẽ là lời bình luận hùng hồn nhất cho những khó khăn mà người
Pháp đã gặp phải ở đây.”[3]
Đầu thế kỷ XX, sau hơn ba năm thu thập và tích lũy quan sát ở
Đông Dương, Paul Giran - một quan chức cai trị thuộc địa Pháp, cho
xuất bản công trình Tâm lý dân tộc An Nam (Psychologie du peuple
https://thuviensach.vn
annamite) vào năm 1904. Ông cho rằng, “để cai trị tốt một dân tộc,
trước tiên phải học hỏi tìm hiểu, phải biết rõ, phải thấu đáo tâm hồn,
thần minh của họ.” Trong công trình của mình, Paul Giran đề xuất
một nghiên cứu về dân tộc An Nam; “để khám phá những sức mạnh
sâu kín của đời sống cộng đồng hoặc riêng tư; rút ra các nguyên tắc
tối thượng chi phối việc thành lập các thiết chế xã hội hoặc chính trị;
phân tích mọi ảnh hưởng mạnh mẽ đã định hình nên lịch sử và sự
tiến hóa của nó.”[4]
Để hiểu thấu đáo “tâm hồn và thần minh” của người An Nam,
Paul Giran, cũng như nhiều đồng nghiệp của ông, đã thâm nhập và
sinh sống để học ngôn ngữ và hiểu người bản xứ. Qua đó, khắc họa
nên đặc điểm quốc gia, sự tiến hóa lịch sử, trí tuệ, xã hội và chính trị
An Nam; tất cả nhằm phục vụ cho công cuộc thực dân của nước
Pháp, “để thành công quân sự không trở nên vô ích, theo sau đó
phải là chiến thắng của tiến bộ trước giấc ngủ mê Viễn Đông.”[5] Từ
đây, ông rút ra hai nguyên nhân chính góp phần vào sự hình thành
bản sắc dân tộc An Nam: chủng tộc và môi trường, cũng là đối
tượng mà công trình này tập trung khảo sát.
Nhận xét về Tâm lý dân tộc An Nam, Étienne Aymonier đã viết
trong “Lời tựa”: “Một công trình chắc chắn, phong phú, có nội dung,
tài liệu, chắc chắn không có tham vọng giải quyết những vấn đề lớn
làm thay đổi sự thống trị của chúng ta, nhưng chí ít tuyên dương
công trạng ở một vài khía cạnh.” “Tôi hy vọng, đối với ông (Paul
Giran) và cho đất nước chúng ta, rằng tương lai sẽ chắp nối tất cả
nguyện ước về những khởi đầu đáng kính này trong sự nghiệp
thuộc địa.”[6] Trước khi về Paris phụ trách Trường Thuộc địa,
Aymonier đã có hơn 15 năm ở nước Pháp-Á Đông, am hiểu xứ sở
này với tư cách một nhà chính trị. Đứng đầu cơ quan đào tạo nhân
https://thuviensach.vn
viên cai trị thuộc địa, Aymonier vẫn là một nhà chính trị. Vì vậy,
không có gì ngạc nhiên về cách đánh giá ông dành cho công trình
Tâm lý dân tộc An Nam và cá nhân Paul Giran.
Tâm lý dân tộc An Nam ra đời hơn 100 năm trước, thời điểm mà
người Pháp đã đặt ách cai trị trên đất An Nam, những bài học rút ra
từ nghiên cứu tâm lý này vẫn ít nhiều có giá trị tham khảo, “không
cần phải dạy người An Nam ngôn ngữ của chúng ta, cho họ tòa án
của chúng ta, tìm cách khắc sâu vào họ tôn giáo, ý tưởng và giáo
điều của chúng ta.” “Phải tôn trọng tính toàn vẹn của tổ chức xã hội;
không được chạm vào cả niềm tin cũng như luật pháp, kể cả bộ máy
hành chánh, hay phong tục bản xứ.”[7] v.v...
Nhân danh “khai hóa văn minh”, nước Pháp cho họ quyền thống
trị các dân tộc khác, người Pháp thì đưa ra “những lý tưởng, những
sứ mệnh, những bổn phận rất cao cả, linh thiêng để biện hộ cho chế
độ thuộc địa của họ.”[8] Étienne Aymonier, Paul Giran... là những con
người yêu nước mình, những mắt xích trong guồng máy thực dân
của một thời quá vãng. Một phần quan điểm của họ được viết ra
dưới giác độ của người đi thực dân, đó là điều mà chúng tôi lưu ý
độc giả khi tiếp cận cuốn sách mỏng này.
Dẫu vậy, Tâm lý dân tộc An Nam là một cuốn sách khá cô đọng,
lồng trong đó nhiều kiến thức lịch sử, nhân chủng, tiến hóa, văn hóa,
tín ngưỡng... Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi có bổ sung một số
cước chú cần thiết ở chân trang, có những cước chú khá dài do
người dịch đã dụng công tra cứu và dịch từ nhiều nguồn tài liệu
tiếng Pháp, nếu bạn đọc không thấy cộng hưởng xin vui lòng bỏ
qua.
Giới thiệu Tâm lý dân tộc An Nam trong “Tủ sách Pháp ngữ Góc nhìn sử Việt”, chúng tôi mong muốn gửi đến độc giả một công
https://thuviensach.vn
trình nghiên cứu khả tín, góp thêm một tài liệu có ích cho những nhà
nghiên cứu. Chúng tôi cũng rất cần sự hợp tác của quý vị độc giả,
giúp chúng tôi chấn chỉnh những sai sót để bản dịch được hoàn
thiện hơn trong lần tái bản.
Trân trọng,
CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH OMEGA VIỆT NAM
https://thuviensach.vn
Dành tặng vợ yêu, cộng tác viên tận tâm của anh.
P.G.
https://thuviensach.vn
LỜI TỰA
Không ai phủ nhận rằng nước Pháp phải nhận thức đầy đủ về
các vấn đề nghiêm trọng và tế nhị khởi từ việc mở rộng thuộc địa
gần đây. Sau khi chúng ta trả giá đắt bằng hàng ngàn con người và
hàng trăm triệu franc, những đầu tư quá an toàn này - như một trong
những chính khách của chúng ta đã nói - liệu có tạo ra được một sự
vận hành hiệu quả cho mục tiêu thực tiễn trước mắt: sự phát triển
thịnh vượng và hoạt động quốc gia, hay ở mục đích cao xa hơn:
truyền bá văn minh, cải biên chính tinh thần của chúng ta cho phù
hợp với não trạng của các dân tộc kém phát triển mà chúng ta coi
sóc?
Câu trả lời chỉ có thể được khẳng định dựa theo điều kiện đầu
tiên và thiết yếu: vấn đề thời gian thu hoạch. Tương lai tùy thuộc
Thiên Chúa - hay định phận rủi may - phải giới hạn mọi dự đoán,
thậm chí táo bạo nhất, trong một khoảng thời gian tương đối hạn
chế nhưng phải là mức tối thiểu thực sự cần thiết cho những cuộc
chinh phục tốn kém để sau này khỏi phải mang tiếng lừa dối con
cháu chúng ta. Hãy lấy ba trăm năm làm mốc: đó không là gì đối với
lịch sử nhân loại và rất ngắn ngủi đối với lịch sử quốc gia; với chúng
ta, chỉ là khoảng thời gian trôi qua giữa triều đại Đại đế Vert Galant[9]
và Tổng thống Émile Loubet. Vậy thử hỏi, tình trạng các thuộc địa
của chúng ta sẽ như thế nào vào lúc bình minh của thế kỷ XXIII?
Ở Bắc Phi, vào cuối triều đại Napoléon III, Prévost-Paradol[10] đã
trình ra một tác phẩm hứa hẹn mang đến sự thỏa lòng cho tiếng thét
cảnh tỉnh, vang vọng âu lo và gần như tuyệt vọng.
https://thuviensach.vn
Tại Algérie[11], nhân danh nước Pháp, sự máu lửa của tất cả các
dân tộc La-tinh được hòa quyện vào nhau. Luật Nhập tịch năm
1889, luật có hiệu lực tương lai, luật không thể xác thực nếu không
bao giờ được thực hiện[12], sẽ kích hoạt việc Pháp hóa chính thức
tất cả các yếu tố vốn không khác biệt lắm về nền tảng, vả lại các bậc
sơ học, dẫu còn chưa được mở rộng mấy, đang dần thấm nhuần
tinh thần Pháp. Nếu sự xâm chiếm thắng lợi của nông dân Sicile
buộc chúng ta phải bắt đầu lại cuộc chinh phục Tunisie[13], nếu có
thể nói như vậy, thì thật dễ hiểu khi nhận ra rằng với sức mạnh to
lớn đang tăng lên, từ tứ phía mọi luồng tấn công nhắm vào đầu óc
đặc quyền, đặc lợi đáng tiếc của những đại điền chủ, tự cho mình là
thực dân vì đã chiếm đoạt hầu hết vùng đất có sẵn, và của những
phái bộ thảm hại bấy lâu nay luôn nhắm đến việc gây mất uy tín
trước chính quyền vương quốc[14] cái công cuộc thuộc địa hóa chính
thức và sự thiết lập những địa chủ nhỏ mà Algérie kể từ đây đã có
thể cung cấp tương tự như Pháp quốc.
Đến lượt mình, vấn đề Maroc đang dần chín muồi[15], đè nặng
lên mọi đầu óc, đang đi đến cách giải quyết tự nhiên của nó, với sự
chấp nhận hoặc từ bỏ của châu Âu; và trừ khi có những sai phạm
hiển nhiên, những thảm họa không lường trước được, viên ngọc
này, trong số những viên ngọc quý của nước Pháp, trong thời gian
ngắn, sẽ nhân đôi, nhân ba giá trị tài sản tuyệt vời của chúng ta ở
lục địa Atlantis[16].
Khi đó, từ Vịnh Gabès[17] đến khắp đại dương rộng lớn, hàng
triệu người châu Âu mà chúng ta tin sẽ sớm tăng nhanh nhờ năng
lực sinh sản cũng như dòng chảy không ngừng của người La-tinh,
trong chưa đến ba thế kỷ, sẽ trở thành một quốc gia mạnh mẽ gồm
ba mươi triệu người châu Âu nói tiếng Pháp, pha lẫn với ít nhất
https://thuviensach.vn
cũng là một con số tương đương số người bản xứ cũng sẽ sử dụng
tiếng nói của chúng ta, điều vốn không làm hài lòng một số ít người
thiếu ý thức, những kẻ mơ mộng chấn hưng, làm sống lại hoặc hợp
nhất mọi phương ngữ của xứ sở. Sáu mươi triệu người Pháp
Atlantis này sẽ tràn qua biên giới tự nhiên, băng qua sa mạc Sahara
vươn tới Tây Phi của chúng ta, để có thể khai thác nó hiệu quả; bởi
không ai biết những tài nguyên của cải nào dành cho chúng ta, trong
sa mạc mênh mông, kiến thức về lòng đất, sự tiến bộ của khoa học
hay việc sử dụng nhiệt năng, chẳng hạn như nhiệt năng mặt trời.
Giữa nước Pháp-Phi trẻ này và Mẫu quốc Pháp già nua ở châu
Âu, sự phân ly chính trị là không thể tránh khỏi, có lẽ nó được nhận
định quá cứng nhắc và sẽ chỉ là một sự kiện quan trọng thứ yếu,
được khởi xướng từ phương Bắc[18], là do tự thấy mình bị ảnh
hưởng quá nhiều trong đời sống nội tại từ cái thuộc địa gần gũi và
gợi cảm hứng này. Điều đáng mong muốn, điều phải là trên hết, đó
là hàng trăm triệu con người sẽ sử dụng tiếng Pháp trên cả hai bờ
Địa Trung Hải và đều thấy giống như đang ở nhà mình, tất cả được
đào tạo trong một khối đại đồng về ý niệm và tình cảm, hàm chứa
sự đồng nhất ngôn từ hiển nhiên, do đó mang lại cho nhau sự hỗ
tương, giúp đỡ và trợ lực. Vì, dù đẹp đến đâu, liệu có phải chính từ
các thuộc địa hiện tại của mình mà nước Anh đã lấy được chỗ dựa
tư tưởng lớn nhất? Không phải thế sao, khi mà bất chấp sự phân ly
dữ dội và lan tỏa giông bão Đại Tây Dương, tám mươi triệu người
Bắc Mỹ, với chủng tộc pha trộn, nhưng tất cả đều nói ngôn ngữ của
họ, mua sách báo, tham gia vào đời sống trí tuệ của họ?
Vậy, với mọi viễn cảnh trên, công trình của nước Pháp sẽ mạnh
mẽ và đạt thành tựu ở châu Phi.
https://thuviensach.vn
Thành công ở Madagascar còn đầy hoài nghi. Chúng ta mang lại
sự yên bình và thịnh vượng tương đối cho dân cư rất sinh sôi nảy
nở của hòn đảo lớn này. Chỉ tăng gấp đôi số lượng dân cư của hàng
trăm năm qua và, vào đầu thế kỷ XXIII, sẽ vượt qua con số hai mươi
triệu sinh linh, trong đó có vài trăm nghìn người Âu và người lai. Đặc
điểm của dân tộc này sẽ là gì và giá trị của nó đối với sự bành
trướng của nước Pháp trên thế giới sẽ ra sao? Chúng ta có thể
mạnh dạn trả lời rằng giá trị này sẽ đến trực tiếp từ kiến thức và việc
sử dụng ngôn ngữ chúng ta. Vậy điều trở ngại là cần tránh làm lụi
tắt những nhiệt huyết tốt đẹp ban đầu của cuộc chinh phục, trong khi
phải đồng thời chống lại tiếng Anh; là quên rằng nếu tất cả các công
chức Pháp phải biết ngôn ngữ của xứ này, thì bên cạnh đó tất cả
người bản xứ phải học và có thể nói khá hơn ngôn ngữ của chúng
ta; là khuyến khích những chủ nhân của hòn đảo đã thấp thoáng ló
dạng, lớp học giả nửa mùa tai hại[19], nhanh chóng bị mê hoặc bởi
sự ngưỡng mộ về chủ đề nghiên cứu đặc biệt của họ, vì niềm hữu ý
và vụ lợi nhiều hơn là sự chân thành và công chính, dễ dàng sẵn
lòng coi thường nhiệm vụ yêu nước của mình để bảo lưu, thanh lọc,
củng cố, tạo ra, có thể nói, một bản ngữ, và tiếp theo là một đặc tính
quốc gia bản địa. Vậy làm sao không nghi ngờ cho được những nỗ
lực của các quỹ của Viện Ngôn ngữ Malgache[20] mà chính những
kẻ thống trị tài trợ, nếu họ có ý định áp đặt chương trình “cải cách
xác đáng” của mình lên các quy tắc ngôn ngữ của xứ này!
Sự hồ nghi này sẽ chuyển thành nỗi lo lắng nếu chúng ta chuyển
sang Đông Dương, nơi tất yếu cần xem xét trước tiên là sự hấp thụ,
dù hòa bình hay đối kháng, của đất nước này đối với khối khổng lồ
bốn trăm triệu người Trung Hoa, mà dù có thế nào đi nữa cũng sẽ
phát triển dưới áp lực của thời cuộc. Tại sao đất nước Trung Hoa,
https://thuviensach.vn
có nền văn minh đỉnh cao, rốt cùng thoát khỏi quy luật này lại biểu
hiện quá tự mãn kể từ năm 1870[21]? Hầu như tất cả các dân tộc,
thậm chí còn sơ khai, có những bước tiến vượt bậc về ý thức phòng
vệ và sử dụng vũ trang khi bị đánh thức khỏi sự ngủ mê hay bị quấy
rối sự yên tĩnh bởi việc xâm nhập bạo lực của người châu Âu. Nhật
Bản và Abyssinia[22] chỉ là một số ví dụ, đúng là nổi bật nhất, cho
những tiến bộ phổ quát này, chứng tỏ cái phúc cho những kẻ sở
hữu[23] và làm cho mọi cuộc chinh phục trong tương lai ngày càng
khó khăn hơn.
Để qua một bên viễn cảnh của hiểm họa Trung Hoa, mà những
thuận lợi rất đáng gờm về giao lưu không ngừng gia tăng[24] có thể
xảy ra theo sau cuộc chiến với một cường quốc to lớn nào đó và sẽ
gây tổn thất từ xứ Đông Dương nằm cách nước Pháp đến 3.000 hải
lý, vậy thì ở cuối con đường mà chúng ta không phải là chủ tể, vị thế
của những thần dân châu Á của chúng ta trong ba trăm năm nữa là
gì?
Ở đây, ít ra không bao giờ phải dùng chính sách mũ ni che tai
hay cường điệu hóa bằng những ngôn từ sáo rỗng để làm hài lòng
tinh thần có ở hầu khắp đồng bào chúng ta.
Biến đổi xứ sở bằng cách cung cấp cho nó các công cụ kinh tế
tinh vi, tái tạo nòi giống, ngăn chặn tình trạng tử vong ở trẻ em, làm
cường tráng thân thể, chấn hưng tâm hồn, phục dựng tinh thần, v.v.
Đó là những công thức phổ biến và biến hóa vô cùng. Trong thực tế
những việc này có ý nghĩa gì? Tóm tắt chỉ có ba điều, không nhiều
hơn: cải thiện cơ sở vật chất của xứ sở, gia tăng dân số ở mức nhất
định, và sự tiến hóa tất nhiên của tâm hồn; ba điều đó sẽ cấu thành
nhiệm vụ không thể tránh của kẻ chinh phục, với lợi ích gần như độc
quyền cho các thần dân.
https://thuviensach.vn
Kể từ năm 1886, tôi hài lòng khi nhắc lại điều đó với các quan lại
An Nam, họ quá muộn phiền vì sự hỗn loạn kinh khủng của thời đại
và sự đàn áp tàn bạo không thể tránh: “Tôi đã nói với họ, chủng tộc
của bạn trong quá khứ từng chịu những khủng hoảng lớn hơn nhiều
mà còn không làm sao ngăn được nó phát triển. Về cơ bản, tất cả
chúng tôi là người Pháp, chúng tôi chỉ làm vì bạn. Chúng tôi sẽ
không lấy đất nước của bạn, chúng tôi sẽ biến đổi nó. Chúng tôi
không làm giống nòi bạn biến mất, mà chắc chắn sẽ tiến bộ và giàu
có lên dưới sự hướng dẫn của chúng tôi. An Nam của bạn là một
trong số ít các vương quốc khép mình tuyên bố bế quan, một việc
bất khả thi ở thời điểm này; chúng tôi mở nó ra, vì lợi ích của nó,
cho hoạt động phổ quát.”
Tôi vẫn tin rằng ngày nay những quan điểm này là chính xác.
Nhưng trong mức độ nào thì công trình có thể mang lại lợi nhuận
cho nước Pháp?
Bảy hoặc tám phần mười thần dân Đông Dương cùng một chủng
tộc mà phần mở rộng tất nhiên sẽ hấp thụ hoặc loại bỏ mọi yếu tố dị
biệt trong tương lai như nó đã hấp thụ hoặc loại bỏ chúng trong quá
khứ. Sự thống trị của chúng ta dường như không gây trở ngại cho
kết quả chung cuộc. Có dòng máu rất pha trộn, người An Nam
không lập nên được một quốc gia có tổ chức và thống nhất chặt chẽ
bằng ngôn ngữ, tín ngưỡng dân tộc, sự tự hào về chủng tộc, tình
cảm về một quá khứ với đầy rẫy nét vẻ của một chủ nghĩa yêu nước
có thể so sánh với tình yêu nước của người Pháp ở một thời xưa
cũ. Sự trung quân bị nhầm lẫn với tình yêu đất tổ và không gì hủy
diệt được nó. Ông lão bảy mươi tuổi, như Phan Thanh Giản vào
năm 1867[25], người ở độ tuổi hai mươi, như Tôn Thất Đạm vào năm
1888[26], đã kiên cường tự tử sau khi ra lệnh cho thuộc cấp quy
https://thuviensach.vn
hàng để chờ đợi thời cơ tốt hơn. Tinh thần đoàn kết của quốc gia và
đại diện tối cao của nó vẫn được hiện rõ trong những lời tuyên bố
long trọng, những lời nhận lỗi công khai, trong đó vua chúa hạ mình
xuống, than vãn và tự buộc tội bản thân cho những tai họa lớn xảy
ra trong triều đại của mình.
Theo một quy luật quen thuộc, các nhóm dân tộc thiểu số[27] ở
An Nam sẽ nổi lên chống đối. Sự nổi dậy mạnh mẽ sẽ khai phóng ý
niệm về Tổ quốc, sẽ khiến nó xuất hiện với tất cả sức mạnh và sự
trong sáng của nó, như các quốc gia nhiệt thành nhất của châu Âu
hiện nay, đó là nhân tố ngoại lai, là sự hiện diện của chúng ta và
hành động không chủ ý nhưng đương nhiên của họ, những cái đang
thấm nhuần vào các ý tưởng và nền văn minh của chúng ta một cảm
giác phiền nhiễu ngày càng rõ ràng gây ra bởi những kẻ cai trị hoặc
thậm chí là sự thù hận mà họ kích động. “Kẻ thù của chúng ta là chủ
nhân của chúng ta”, tinh thần này sẽ được lặp lại, đó là người Hoa,
người An Nam, người Pháp dù xấu hay tốt. Thậm chí phải thừa
nhận rằng bằng cách nào đó thần dân sẽ nợ chúng ta ít nhiều sự
công nhận của họ vì họ thấy biết ơn chúng ta, điều mà ngày nay
chúng ta vẫn có cơ sở tin tưởng. Bên nào nặng hơn, trên bàn cân
đong đếm, một mặt là tình cảm lợi ích của chúng ta, ngay cả khi
chúng không bị tranh cãi, và mặt khác, ký ức về những khó khăn
của việc chinh phục, và hơn thế nữa, sự xấu hổ về sự hiện diện của
chúng ta?
Sẽ không quá đỗi huyễn hoặc để tin rằng họ sẽ đợi ba thế kỷ trôi
qua trước khi ngẩng đầu tuyên bố độc lập, rằng năm mươi triệu
người dân An Nam, nơi sẽ hòa lẫn vài trăm ngàn người lai, điều này
sẽ thật sự rất nguy hiểm cho sự thống trị của chúng ta, nếu chúng ta
https://thuviensach.vn
phạm phải sai lầm không thể tha thứ là duy trì họ ở tình trạng đẳng
cấp trung gian?
Không thể nào so sánh công cuộc ở Ấn Độ, đó là bức tranh ghép
của các dân tộc xa lạ với nhau, còn chia ra thành những đẳng cấp
không thể khắc phục, và ở xứ An Nam này, nơi cuộc chinh phục đã
gặp một chủng tộc hòa hợp tuyệt vời, đặt lên trên những nền tảng
vững chắc của tổ chức gia đình và làng xã, sự phân cấp thông tuệ
của những Nho gia quan lại, tôn vinh thiết chế xưa cũ của vương
quyền, đại giáo chủ và đại diện tối cao của dân tộc!
Bây giờ, khi thời điểm báo hiệu cho sự phân ly không thể tránh
khỏi, hòa hoãn hoặc bạo lực, mà phải có dự tính lạnh lùng, điều này
tốt hơn việc thoái lui, ở đây chúng ta sẽ còn làm việc cho Pháp chỉ
trong phạm vi mà chúng ta gây dựng vững chắc ngôn ngữ của
chúng ta. Tồn tại một ngôn ngữ An Nam, trừu tượng với sáu thanh
sắc của các âm đơn, là một phương ngữ rõ ràng, phong phú về các
từ ngữ thông thường, chuẩn và chính xác. Nhưng từ hơn 2000 năm
nay, tiếng nói phổ thông này được duy trì ở trạng thái phương ngữ
nội bộ không phát triển hoặc có tiến hóa khả dĩ nào, bằng ngôn ngữ
Trung Hoa được dẫn dắt với văn minh của Đại đế quốc và hằng định
là một ngôn ngữ trí tuệ, văn học và chính thức. Tất cả người An
Nam được đào tạo - và giáo dục rất phổ biến - sử dụng hai ngôn
ngữ trong giao tiếp, ngôn ngữ của họ, có cú pháp đơn giản như
ngôn ngữ của người Pháp, và trong ngôn ngữ viết, là tiếng Trung
Hoa, mà cấu trúc của nó luôn đảo ngược (so với tiếng Pháp).
Trong số các vấn đề cần phải ngay lập tức xem xét, có việc liệu
chăng nên dùng tiếng Pháp, ngôn ngữ có cấu trúc câu của tiếng An
Nam, thay cho tiếng Hoa, ngôn ngữ cú pháp hoàn toàn khác nhưng
cận kề tiếng An Nam hơn bởi tính đơn âm, nhiều ngữ điệu và nhiều
https://thuviensach.vn
thuật ngữ sử dụng thông thường của nó đã bổ sung vào phương
ngữ bình dân, ít nhất là trong lĩnh vực tiếng nói cao cấp (trong xã
hội). Sau đó, hãy để tương lai quyết định có bao nhiêu từ tiếng Pháp
sẽ làm phong phú hoặc sửa đổi thổ ngữ này trong phạm vi rất hạn
chế đó là tiếng An Nam hiện thời.
Giải pháp khiêm tốn và khả thi này sẽ có những ưu và nhược
của nó. Chữ Hoa tượng hình tạo thành một ngôn ngữ chung, phổ
biến trong số năm trăm triệu người da vàng; trong khi việc sử dụng
tiếng Pháp sẽ xoay An Nam về phía thế giới châu Âu, cả khoa học
và nền văn minh của nó. Trong hai hướng này, điều gì sẽ thuận lợi
nhất cho các thần dân của chúng ta? Vấn đề có thể vẫn còn bỏ ngỏ.
Nhưng lợi ích của những kẻ chinh phục thoát khỏi tất cả tranh cãi và
đó là điều cần phải cân nhắc.
Điều này cho thấy bao nhiêu khó khăn và lo lắng - câu này không
phải là quá nặng - cho công trình được nước Pháp thực hiện ở vùng
Viễn Đông[28]. Một trong những điều kiện thiết yếu của hành vi tốt rõ
ràng của nó là kiến thức thấu đáo về các thần dân chúng ta, liên
quan đến các nghiên cứu sâu sắc và nghiêm túc về tâm lý của họ.
Chúng tôi không thể vì thế quá hoan nghênh phát kiến thông minh
của Paul Giran, một công trình chắc chắn, phong phú, có nội dung,
tài liệu, chắc chắn không có tham vọng giải quyết những vấn để lớn
làm thay đổi sự thống trị của chúng ta, nhưng chí ít tuyên dương
công trạng ở một vài khía cạnh.
Việc kết lại một vài nhận xét nhằm giới thiệu về cuốn sách này
đã yêu cầu tôi giới thiệu thêm cho độc giả, và tự tôi làm điều này,
rằng cũng muốn giới thiệu về con người tác giả. Ông thuộc loại
người hiếm có, người được tin tưởng từ cái nhìn đầu tiên, những
người miền Nam bình tĩnh và chín chắn. Sau khi học tú tài, người
https://thuviensach.vn
con của thành Nimes học ba năm chính quy tại Trường Thuộc địa,
tiếp là ba năm nghĩa vụ quân sự, ông vui vẻ theo đuổi công việc, với
tất cả tinh thần trách nhiệm yêu nước. Ra khỏi quân đội, ông hân
hoan tác hợp với bạn đời đồng hành của mình, mong muốn cao quý
tạo một mái ấm, ổn định cần thiết, của phẩm hạnh cá nhân với các
thuộc địa. Và ngay sau đó, đi đến Đông Dương, nơi sự tin tưởng và
quý mến của các lãnh đạo đã kêu gọi ông, trong thời gian ba năm
lưu trú đầu tiên, đảm nhận các nhiệm vụ tế nhị, cho phép ông thu
thập và tích lũy các quan sát để hôm nay công bố cho công chúng.
Tôi hy vọng, đối với ông và cho đất nước chúng ta, rằng tương
lai sẽ chắp nối tất cả nguyện ước về những khởi đầu đáng kính này
trong sự nghiệp thuộc địa.
ÉTIENNE AYMONIER[29]
Tháng 12 năm 1903
https://thuviensach.vn
DẪN NHẬP
Lâu nay người Pháp chúng ta gặp nhiều khó khăn khi xét đoán
những dân tộc hải ngoại với cái nhìn khác biệt. Chúng ta vẫn quen
với việc nhìn họ qua những cảm quan riêng biệt và phán xét họ theo
ý kiến của mình. Từ lâu chúng ta tin rằng nhân loại cơ bản giống
nhau; và rõ ràng một điều là nếu có sự khác biệt thì đó không phải là
điều quan yếu; và mọi con người dường như đều có khả năng tự
hoàn thiện.
Khái niệm thuần túy triết học này không phải không nguy hiểm
khi được đưa vào ứng dụng. Vì nó đồng nhất chúng ta với những
dân tộc có nền văn minh, phong tục, tôn giáo, tư duy khác biệt sâu
xa, khiến chúng ta đánh giá sai tính cách thực sự của họ, áp dụng
luật pháp, thiết chế, tôn giáo hoặc đạo đức của chúng ta cho họ, và
khiến trong nhiều trường hợp lại gây nguy hại đến thanh danh (nước
Pháp) trong các sự vụ thuộc địa.
Ngày nay, một tinh thần mới đã xuất hiện. Hiện thời, việc chấp
nhận duy trì các xã hội bản xứ dưới sự thống trị của chúng ta có thể
dựa trên một cơ cấu có những nguyên tắc khác với những nguyên
tắc đã từng là cơ sở cho các xã hội châu Âu.
Phải thừa nhận rằng chúng ta mất hơn một thế kỷ để khám phá
ra một sự thật là học thuyết bình đẳng đã ngăn trở nỗi hoài nghi về
việc mỗi dân tộc, cũng như mỗi con người, đều có một tâm hồn
riêng, mang bản sắc quốc gia cũng như đặc thù cá nhân.
Ngày nay, rõ ràng để cai trị tốt một dân tộc, trước tiên phải học
hỏi tìm hiểu, phải biết rõ, phải thấu đáo tâm hồn, thần minh của họ.
https://thuviensach.vn
Trong cuốn sách này, chúng tôi đề xuất một nghiên cứu về dân
tộc An Nam; để khám phá những sức mạnh sâu kín của đời sống
cộng đồng hoặc riêng tư; rút ra các nguyên tắc tối thượng chi phối
việc thành lập các thiết chế xã hội hoặc chính trị; phân tích mọi ảnh
hưởng mạnh mẽ đã định hình nên lịch sử và sự tiến hóa của nó.
Với mục đích này, chúng ta sẽ lần lượt khảo sát hai nguyên nhân
chính đã góp phần vào sự hình thành bản sắc quốc gia An Nam:
chủng tộc và môi trường.
https://thuviensach.vn
Phần 1
ĐẶC ĐIỂM QUỐC GIA
https://thuviensach.vn
Chương I:
CHỦNG TỘC
I. Mô tả chủng tộc
Người An Nam là một đại diện của chủng tộc da vàng, thuộc Đại
chủng Á (Mongoloides)[30], có các nhánh chính là: họ Mông Cổ nói
riêng, chiếm các vùng trung tâm châu Á; chủng Đột Quyết (Turc);
nhánh lớn nhất, chủng Hán Hoa; và cuối cùng là các quần thể sống
chủ yếu trên các sườn dốc dãy Himalaya được ông de
Quatrefages[31] gọi là “Indo- Mongoles” (Cổ Mã Lai-Mông Cổ)[32]. Ở
đâu đó giữa những nhánh sau cùng, các nhà nhân chủng học xếp
vào nhóm dân tộc An Nam.
Một cách tổng quát, diện mạo người An Nam hiện tại, phần lớn có
các nét chung của dân Mông Cổ: đầu rộng ngắn (brachycéphale);
trán thấp và dô ra, gò má cao, mắt nhỏ xếch, mí trên bụp và nặng,
lông mày thưa, vểnh lên về phía đuôi; mắt đen, mũi bẹt phần phía
dưới, phình ra, rộng ở gốc; đôi tai cách xa, môi dày, tóc đen, cứng và
suông, râu và ria mép thưa, chỉ mọc rậm khi vào tuổi trung niên.
Nét đặc trưng nhất của dung mạo này là “xương gò má rộng và
cao, khiến cho khuôn mặt trông giống hình thoi hơn hình bầu dục”[33].
Da người An Nam thường có màu “xanh nhợt hoặc hơi vàng, đôi
khi trắng đục”, tuy nhiên, sậm hơn ở những người sống ở miền Nam
Đông Dương.
Nhiều người muốn quy sự khác biệt về màu da này đơn nhất về
cho tác động của mặt trời, mà ở vùng nhiệt đới rõ là nóng như nung
như đốt phần da phơi ra dưới nắng, làm da nâu thêm và do vậy trông
https://thuviensach.vn
càng nổi bật hơn; còn ý kiến của chúng tôi là, chúng ta hãy còn phải
nhìn nhận thêm ảnh hưởng của việc lai với người Mã Lai.
Cái nôi của chủng tộc An Nam là Bắc kỳ và các vùng lân cận, ở
đó tìm thấy những cá thể “thuần chủng” nhất có da nhạt màu nhất;
ngược lại, người An Nam ở vùng Hạ Đàng Trong (la BasseCochinchine) quan hệ trực tiếp hơn với người Mã Lai hay người
Chăm, nên chắc chắn đã biến đổi khi tiếp xúc với họ.
Tóm lại, có thể nói với hai ông Bouinais và Paulus[34] rằng làn da
của người An Nam minh chứng một sự chuyển tiếp giữa người Mã
Lai và người Hán Hoa; da sáng hơn người Mã Lai, đậm màu hơn
người Hán Hoa.
Người An Nam thường không cao, chiều cao trung bình là lm60 ở
nam và lm50 ở nữ. Hai chân, dù mảnh mai, nhưng khỏe; ở một số
người, ngón chân cái choãi ra phía ngoài, cách khỏi các ngón chân
còn lại. Lưng dài tương ứng với chân; vai và ngực hẹp, cổ tay cổ
chân linh hoạt, bàn tay mảnh và thuôn. Toàn bộ cấu trúc giải phẫu
tạo ấn tượng mảnh mai và yếu đuối. Thật hiếm khi thấy người An
Nam béo phì; xương lộ ngay dưới da. Trọng lượng cơ thể trung bình
là khoảng 55kg ở đàn ông và 45kg ở phụ nữ, như vậy nhẹ cân hơn
so với các chủng tộc Âu.
Cơ lực của họ không đáng kể; một vật nặng phải mất hai người
An Nam, đôi khi nhiều hơn, nâng lên một cách khó khăn, trong khi chỉ
cần một người Âu là đã có thể dễ dàng mang đi. Điều làm chủng tộc
An Nam khác với chủng tộc Hán Hoa là sự lực lưỡng. Sự kém về
mặt thể chất ở người An Nam, không nghi ngờ gì, là kết quả do tác
động kéo dài của kiểu khí hậu Đông Dương. Càng xuống vùng nắng
nóng, tác động này càng rõ rệt hơn. Người Bắc kỳ không lực lưỡng
bằng người miền Nam Trung Hoa, nhưng luôn cao lớn và mạnh mẽ
hơn người dân ở Hạ Đàng Trong. Họ thường chỉ cao đến lm60 và đôi
https://thuviensach.vn
khi, nhưng hiếm, cao đến lm65. Ở Bắc kỳ, phụ nữ làm việc như đàn
ông, thường làm nghề culi[35] mà phụ nữ Nam kỳ không có khả năng
làm. Tương tự như vậy, thường thấy rằng culi-xe[36] Bắc kỳ chạy tốt
hơn, chạy những chuyến dài hơn người Nam kỳ.
Bên cạnh đó, tuy có dáng vẻ yếu đuối nhưng người An Nam lại có
một sức đề kháng đáng kể. Dưới khí hậu nóng bức, anh ta miệt mài
lao nhọc và làm bằng chứng cho phẩm chất bền bỉ tuyệt vời. Có thể
ở cả ngày ngoài ruộng, cúi mặt cấy lúa, lội bùn lên đến đầu gối, tiếp
xúc với nền đất ẩm nóng hừng hực bốc lên và phả khủng khiếp vào
người; hay cũng tương tự vậy ở trên thuyền tam bản, đầy nắng, gập
người chèo thuyền hàng giờ liền. Có bao nhiêu người Âu có thể làm
công việc khó nhọc của những người culi-xe, chạy hàng giờ với tốc
độ mười hai cây số một giờ không mệt mỏi, chỉ có vài phút nghỉ ngơi
để uống một tách trà hoặc ăn một bát cơm.
Để xác định nguồn gốc của những ưu điểm thể chất này, cần phải
tính một chút đến sự phát triển của hệ thần kinh ở người An Nam, về
việc họ thiếu vắng cảm giác, và do đó, dửng dưng với đau đớn và lao
lực. Tôi không nghĩ cần phải xem xét, như đôi khi ta vẫn nghe nói,
đến ảnh hưởng di truyền được bảo tồn và truyền lại qua nhiều thế
hệ, một di sản sức mạnh được thừa kế bởi tổ tiên Mông Cổ.
Chủng tộc An Nam sinh sản nhiều. Nhờ vào khả năng bành
trướng mà họ có thể, trong một thời gian tương đối ngắn, chiếm đất
một cách hoàn hảo trên một phần lớn bán đảo Đông Dương. Trong
khi ở châu Âu, tần suất sinh của 100 phụ nữ đã lập gia đình dưới 50,
ở Phổ là 29, ở Anh 26, ở Pháp 16, người ta tính rằng số lần sinh trên
100 phụ nữ An Nam, trong cùng điều kiện, lên tới khoảng 170. Như
chúng ta sẽ thấy sau đây, việc thiếu vắng cảm giác về thịnh mãn, đất
đai phì nhiêu, sự phân chia tài sản cực đoan, tổ chức gia đình và tín
ngưỡng tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong việc tăng đáng kể tỷ lệ
https://thuviensach.vn
sinh. Vậy, đây không phải chỉ là một nét đặc trưng của chủng tộc mà
còn là ảnh hưởng chủ đạo của môi trường vật chất và xã hội đối với
đối tượng này.
Dưới bầu khí hậu như thiêu đốt làm kích thích các dây thần kinh
đến cùng kiệt, kích hoạt lưu thông máu và đốt cháy động vật, người
An Nam trưởng thành sớm và già nhanh hơn những cư dân vùng ôn
đới. Họ trông già sớm và hiếm khi sống thọ. Trong số 65.489 trường
hợp tử vong trong năm 1900 ở người An Nam hoặc những người Á
khác sống ở Nam kỳ, chỉ có 7.075 người chết trên 60 tuổi; tỷ lệ này
tương đương ở năm 1901: 51.908 người chết, trong đó có 6.231
người chết trên 60 tuổi[37]. Như vậy, chỉ hơn một phần mười dân số
An Nam sống đến tuổi 60; tỷ lệ này là tương đối thấp.
Người An Nam. Kiểu người Nam kỳ. © Ảnh từ bản gốc tiếng Pháp.
Ngoài ra, tuổi dậy thì đến rất sớm ở cư dân Đông Dương; lần kinh
nguyệt đầu tiên, theo quan sát của bác sĩ Mondière, xảy ra ở nữ vào
tuổi 12, và độ tuổi kết hôn là 16 tuổi 4 tháng. Do đó không phải là
https://thuviensach.vn
hiếm, nhất là trong các gia đình khá giả, các cuộc hôn nhân trong đó
vợ chồng ăn ở với nhau kéo dài không ...
 





