Sách Nói] Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn - Chương 1
Việt Nam máu lửa quê hương tôi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:51' 05-04-2024
Dung lượng: 5.7 MB
Số lượt tải: 10
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:51' 05-04-2024
Dung lượng: 5.7 MB
Số lượt tải: 10
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
VIỆT NAM Máu Lửa Quê Hương
Tôi
Hoành Linh Đỗ Mậu
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Lời Giới thiệu của NXB
LỜI MỞ ĐẦU
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Hình ảnh 1
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương 20
Hình ảnh 2
https://thuviensach.vn
Hoành Linh Đỗ Mậu
VIỆT NAM Máu Lửa Quê Hương Tôi
Lời Giới thiệu của NXB
LỜI GIỚI THIỆU
ẤN BẢN ĐIỆN TỬ - NĂM 2007
Đầu Xuân năm 2007, được biết Nhà Xuất bản Văn Nghệ đã tiêu thụ hết đợt
phát hành cuối cùng của Hồi ký Việt Nam Máu Lữa Quê Hương Tôi, và
không có ý định tái bản tác phẩm nầy nữa trong một tương lai gần, chúng
tôi, một nhóm thân hữu của tác giả Hoành Linh Đỗ Mậu, đã liên lạc với gia
đình của tác giả để xin tái bản tác phẩm nầy dưới dạng điện tử. Và đã được
gia đình tác giả chấp thuận với một số yêu cầu về tác quyền và biên tập.
https://thuviensach.vn
Về nội dung, không có một thay đổi nào trong Ấn bản Điện tử (so với ấn
bản giấy 1993) ngoại trừ thêm một số hình ảnh của tác giả; và ở Phụ Lục E,
10 Bài Đọc Thêm, chúng tôi thêm một lá thư của tướng Dương Văn Minh
và một bài viết về Tướng Trình Minh Thế để làm sáng tỏ một số bí ẩn lịch
sử được nhắc đến trong Hồi ký.
Về hình thức, có ba thay đổi trong quá trình cập nhật lại tác phẩm nầy:
(a) Sửa lại các lổi chính tả và đánh máy. Với tổng số lượng gần 750,000 từ
của toàn bộ tác phẩm, đây là một nỗ lực liên tục nhưng chắc vẫn còn khiếm
khuyết ngay cả trong ấn bản điện tử nầy.
(b) Sửa và thêm các đại danh từ (cụ, ông, bác, anh, ...) và những chức vụ
(phó tổng thống, thiếu tá, giáo sư, nhà văn, ...) trước tên riêng của các nhân
vật. Tùy ngữ cảnh và bối cảnh của mỗi tình huống, chúng tôi chọn đại danh
từ/chức vụ nào mà chúng tôi nghĩ rằng phù hợp nhất. Mặt khác, có một số
nhỏ đại danh từ và chức vụ không cần thiết, thì chúng tôi cũng đã quyết
định bỏ đi.
(c) Ba từ “Công giáo”, “Kitô giáo” và “Thiên Chúa giáo” đã là một vấn
nạn khó tạo được sự đồng thuận trong cách sử dụng. Do đó, ngoại trừ vài
trường hợp đặc biệt, trên nền không-thời-gian lịch sử mà Hồi ký chủ yếu
được xây dựng (là chế độ Ngô Đình Diệm), chúng tôi quyết định thống nhất
hầu hết các từ nầy thành từ “Công giáo” như chính những giáo hữu Việt
Nam, trong giai đọan đó cũng như kể cả bây giờ, đã gọi Công giáo La Mã
(Roman Catholic).
Có hai lý do khiến chúng tôi lấy quyết định tái bản tác phẩm Việt Nam Máu
Lữa Quê Hương Tôi nầy của tác giả Hoành Linh Đỗ Mậu dưới dạng điện
tử:
· Thứ nhất là vì nhu cầu tìm đọc tài liệu về chủ đề nầy không những đã
https://thuviensach.vn
không giảm bớt mà thậm chí còn gia tăng. Hơn 40 năm sau khi chế độ Ngô
Đình Diệm bị lật đổ, hơn 20 năm sau khi tác phẩm nầy ra đời, và sau hơn
20.000 ấn bản (dự đoán) được phổ biến cả ở trong lẫn ngoài nước, giai đoạn
lịch sử 1954-1975 tại miền Nam Việt Nam (và những nhân vật lịch sử quan
hệ đến nó) vẫn là đề tài được nhiều người quan tâm muốn tìm hiểu. Để xem
rút ra được những bài học gì cho bây giờ và mai sau trên quê hương Việt
Nam.
· Và thứ nhì là với những thành quả ngoạn mục của cuộc cách mạng
Tin học, tri thức không còn bị phong tỏa, lại càng không trở thành sản phẩm
độc quyền của một giai tầng nào nữa. Do đó, sản phẩm trí tuệ cần được xuất
hiện dưới dạng điện tử để dễ dàng vượt mọi biên giới thiên nhiên, rào cản
hành chánh và giới hạn tiền bạc, ngõ hầu có thể bay vào không gian
cyberspace mà đến với người đọc khắp địa cầu.
Nhóm Thân hữu của tác giả Hoành Linh Đỗ Mậu, khi hoàn thành ấn bản
nầy, chỉ nhắm đáp ứng hai nhu cầu nói trên. Và đóng góp phần mình vào
việc thực hiện tâm nguyện của tác giả đã được trang trải đầy ắp trong tác
phẩm nầy.
Hoa Kỳ - Thu 2007
Nhóm Thân hữu trách nhiệm Ấn bản Điện tử VNMLQHT-2007
* * *
LỜI GIỚI THIỆU
ẤN BẢN THỨ BA - NĂM 1993
Tập Hồi ký chính trị Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của tác giả
Hoành Linh Đỗ Mậu được Nhà Xuất bản Hương Quê ấn hành lần đầu tiên
vào mùa thu năm 1986 tại miền Nam California, Hoa Kỳ.
https://thuviensach.vn
Từ đó đến nay, tác phẩm này đã được tái bản một lần (1987) và in lại
tám lần. Như vậy, bản mà quý bạn đọc cầm trên tay hôm nay (1993) của
Nhà Xuất bản Văn Nghệ là lần biên tập thứ ba và là lần in lại thứ chín
(Third Edition, Ninth Printing).
Ấn bản 1986 Ấn bản 1993
Đó là không kể hai ấn bản mà tác giả hoàn toàn không biết đến quá trình
hình thành của chúng. Bản thứ nhất in tại Úc Châu vào khoảng năm 1990
với một hình bìa khác hẳn. Và bản thứ nhì in tại Việt Nam, không những
khác bìa, nội dung bị biến cải, mà ngay cả tên sách cũng bị thay đổi. Đó là
cuốn Tâm Sự Tướng Lưu Vong do Nhà Xuất Bản Công An Nhân Dân ấn
hành 3.200 ấn bản vào năm 1991 (Số xuất bản 117/KII90 CAND). Sau khi
https://thuviensach.vn
đối chiếu với nguyên bản, tác giả cho chúng tôi biết rằng ấn bản này đã bị
bỏ bớt gần một phần tư nội dung, thay đổi một số danh xưng và bớt nhiều
đoạn; nhưng nói chung, phần Sử luận và các luận điểm chính trị của ông, về
căn bản, vẫn được giữ lại gần nguyên vẹn.
Ấn bản 1991 Ấn bản 1995 Ấn bản 2001
Lẽ dĩ nhiên, tác giả đã không biết gì hết về sự ra đời của ấn bản này, lại càng
không liên lạc được vì hoàn cảnh lịch sử và chính trị oái oăm của đất nước,
https://thuviensach.vn
để phản đối việc làm vừa vi phạm tác quyền vừa vi phạm sự trung thực toàn
vẹn của một sản phẩm trí tuệ.
Bảy năm đã trôi qua kể từ khi ấn bản đầu tiên ra đời.
Đã có rất nhiều, quá nhiều là khác, thảo luận và bút chiến về tác phẩm, và
nhiều khi, về từng chủ điểm mà tác phẩm này nêu lên. Cho đến thời điểm
này, vẫn còn xuất hiện trên báo chí hải ngoại những bài viết đề cập đến tác
phẩm hoặc tác giả. Đặc biệt đã có 13 cuốn sách của những người viết đứng
từ những vị trí khác nhau, nhìn từ những góc độ khác nhau, và mang những
tâm chất khác nhau, nhưng tất cả đều trực tiếp hay gián tiếp liên hệ đến tác
phẩm hay tác giả.
Trong lúc có hai người viết nêu đích danh tác giả trên bìa sách để “trực
thoại” (Linh mục Vũ Đình Hoạt và Cựu Nghị sĩ Nguyễn Văn Chức) thì
cũng có những cuốn đào sâu các luận đề mà tác giả viết chưa đủ rốt ráo (Hồ
Chí Minh, Ngô Đình Diệm và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam của ông Hồ
Sĩ Khuê và Gia Tô Thực Dân Sử Liệu của ông Chu Văn Trình). Trong lúc
có người viết lúc chống lúc thuận với tác giả (ông Nguyễn Trân) thì cũng có
người cung cấp thêm những dữ kiện và luận cứ mới làm mạnh thêm những
luận điểm của tác phẩm (ông Nguyễn Long Thành Nam, Tướng Nguyễn
Chánh Thi, Tướng Trần Văn Đôn, Đại tá Trần Văn Kha, ông Lê Trọng
Văn). Lại có thêm ấn bản Việt ngữ (Sự Lừa Dối Hào Nhoáng) của tác phẩm
The Bright Shining Light của Neil Sheehan (1991) và ấn bản Pháp ngữ Les
Missionnaires et La Politique Coloniale Francaise au Vietnam của ông Cao
Huy Thuần lần đầu tiên được Đại học Yale xuất bản tại Hoa Kỳ (1990)…
Tất cả chỉ làm cho tác phẩm Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi trở thành
một hiện tượng độc đáo trong lịch sử các tác phẩm nghiên cứu của Việt
Nam. Và hơn thế nữa, chỉ làm cho chúng ta thấy rằng tác phẩm đã đề cập
đúng những vấn đề căn bản, có thực, và có tác động sâu sắc đến nhiều người
Việt Nam, đến chính tình Việt Nam không những chỉ trong quá khứ mà còn
cả trong tương lai nữa.
https://thuviensach.vn
Trong lần tái bản này, phương pháp luận căn bản của tập Hồi ký là thông
qua các biến cố lịch sử (mà tác giả đã sống và/hoặc nghiên cứu) để giải
thích những lực nào đã tác động lên sự vận hành của lịch sử nước ta trong
hơn nửa thế kỷ vừa qua, vẫn không thay đổi. Nói rõ hơn, bản chất cuộc
chiến và các lực lượng tham chiến trên quê hương ta suốt mấy chục năm
trời vẫn có tính phi dân tộc. Và nguyên lý chỉ đạo làm nền tảng sử luận cho
tác giả là đã phi dân tộc thì thế nào cũng phản dân tộc vẫn chảy xuyên suốt
tác phẩm.
Tuy nhiên, trong lần tái bản thứ ba này có một số thay đổi sau đây:
Về hình thức, số lỗi chính tả và ấn loát (nhất là các dấu hỏi ngã) được giảm
thiểu tối đa. Một số rất ít tên người, tên địa phương và ngày tháng cũng đã
được cập nhật lại. Đặc biệt, so với lần trước, ấn bản này tuy có dài thêm
khoảng 15 phần trăm (nâng tổng số lên hơn 750 ngàn chữ) nhưng số trang,
theo lời yêu cầu của tác giả, lại được rút ngắn còn 80 phần trăm (1089
trang) nhờ cách dòng (interline spacing) nhỏ hơn và cỡ chữ (text size) nhỏ
lại, hầu tiết giảm giá thành đến mức thấp nhất.
Việc sử dụng hai nhu liệu tin học VNI và Ventura để trình bày sách đã giúp
cho ấn bản này đồng dạng hơn, sáng sủa hơn, do đó dễ đọc hơn các ấn bản
trước.
Về nội dung, một số luận cứ và chứng liệu lịch sử mới đã được thêm vào,
đặc biệt về quá trình du nhập Công giáo vào Việt Nam, về những bí ẩn mới
trong cuộc Cách mạng 1-11-63, về cuộc vận động cho Dân chủ của Phật
giáo tại miền Trung năm 1966, về vai trò của Vatican trong những ngày cuối
cùng của miền Nam vào năm 1975... để nhân đó, tác giả trả lời một số
xuyên tạc và ngộ nhận về tác phẩm. Cũng thêm vào trong ấn bản này là một
Phụ Lục mới gồm 10 tài liệu đọc thêm của những nhân chứng lịch sử và
một số hình ảnh của các khuôn mặt quan trọng đã hiện diện trong tác phẩm.
Nhân dịp này, tác giả có nhờ chúng tôi chuyển lời cảm ơn đặc biệt đến cụ
Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, cụ Hương Thuỷ Hoàng Trọng Thược, cụ Phùng
https://thuviensach.vn
Duy Miễn, nhà Sử học Vũ Ngự Chiêu, Trung tướng Vĩnh Lộc, bác sĩ Võ Tư
Nhượng và Giáo sư Phạm Phú Xuân đã tận tình góp ý sửa lời để ấn bản này
được toàn vẹn hơn.
Nhà Xuất Bản Văn Nghệ, khi quyết định xuất bản và phát hành tác phẩm
này, chỉ muốn xác nhận lại chủ trương của mình: cung cấp cho độc giả trong
và ngoài nước những tác phẩm giá trị, những công tình trí tuệ có phẩm chất
cao hầu đóng góp vào gia tài Văn hoá của dân tộc.
Ngoài ra, riêng với tác phẩm Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, sự kiện
có những tranh luận sôi nổi xung quanh tác phẩm, và trước nhu cầu tìm đọc
nguyên bản của nhiều độc giả đã từng đọc “ấn bản trong nước”, chúng tôi tự
thấy có bổn phận phải nỗ lực hoàn thành việc xuất bản và phát hành tác
phẩm này, với ước mong cống hiến cho những đồng bào còn quan tâm đến
vận mệnh quê hương một cách nhìn mới về những vấn nạn mà tổ quốc ta đã
đối trị và có thể sẽ còn phải đối diện trong tương lai.
Hoa Kỳ, tháng 9 năm 1993
Nhà Xuất Bản VĂN NGHỆ
https://thuviensach.vn
Hoành Linh Đỗ Mậu
VIỆT NAM Máu Lửa Quê Hương Tôi
LỜI MỞ ĐẦU
Đó là một thời kỳ đầy đau thương của đất nước. Đó là khi người Pháp
nhân danh nền văn minh Thiên Chúa giáo để “khai hóa”, xâm lăng và đô hộ
đất nước Việt Nam cho đến ngày nay, khi người Cộng Sản nhân danh cách
mạng vô sản chuyên chính để “giải phóng”, khống chế và bạo quản dân tộc
Việt Nam.
Tôi đã sống một giai đoạn của thời kỳ đó không những như một nhân chứng
mà còn may mắn được tham dự tích cực vào một số biến chuyển và hoạt
động sát cánh với một số nhân vật lịch sử. Trên con đường ba mươi năm
sống và hoạt động đó, tôi chỉ có một tâm nguyện: ấm no và an vui cho đồng
bào.
https://thuviensach.vn
Nhưng tâm nguyện đó không thành tựu vì trên quê hương tôi đau thương
vẫn còn đó, nghèo khổ vẫn còn đó. Các bậc đàn anh của tôi, đồng chí và
bằng hữu của tôi cũng đã không thực hiện được hoài bão của đời họ. Tất cả,
từ những người có lòng nhất đến những người tài ba đảm lược nhất đều đã
thất bại, dù trong cuộc hành trình hùng tráng và bi thiết này, không biết bao
nhiêu người đã hy sinh gục ngã.
Quyết định viết hồi ký được khơi nguồn từ ý muốn đi tìm những nguyên
nhân lớn nhất, thực nhất của cái thảm trạng mà ngày nay cả dân tộc ta phải
nhận chịu, dù những nguyên nhân đó có làm đảo lộn những nề nếp suy
nghiệm cũ và làm lung lay những đánh giá lịch sử đã được một số người hài
lòng công nhận. Những nguyên nhân này được cố gắng trang trải như một
bài học lịch sử để từ đó và do đó, hy vọng những lớp người đang đi tới sẽ
tránh được những vết xe đổ đã nghiền nát bao nhiêu trang sử hiện đại dân
tộc.
Cuốn sách này được chia làm ba phần tổng quát. Phần thứ nhất nói về thời
kỳ thơ ấu và thanh niên. Phần thứ hai, về giai đoạn mấu chốt nhất của lịch
sử cận đại: chín năm của nền Cộng Hoà đầu tiên của đất nước. Và phần
chót, về hậu quả bi thảm của một chế độ phi dân tộc.
Vì là hồi ký chính trị của một cá nhân nên các sự kiện có thể thiếu sót do
tính chất phức tạp của các biến cố, nhưng chắc chắn là xác thực. Các suy
nghiệm cũng vậy, đôi khi chủ quan nhưng luôn luôn nghiêm chỉnh vì chúng
bắt nguồn từ và kết tụ về một quy luật đặc thù của lịch sử Việt:
HỄ ĐÃ PHI DÂN TỘC
THÌ THẾ NÀO CŨNG PHẢN DÂN TỘC
Điều này đã được chứng nghiệm rõ ràng khi suy giải trách nhiệm của những
người nắm chức vụ lãnh đạo Việt Nam trong 30 năm qua. Người thì đến giờ
hấp hối còn ước mong được gặp Các Mác, Lê-nin bên kia thế giới, người thì
muốn nối dài biên giới Hoa Kỳ từ Alaska đến sông Bến Hải, người thì đào
nhiệm bỏ ngũ khi Hoa Kỳ ngưng viện trợ “chống Cộng”…
Tất cả đã không có căn bản dân tộc nên đã làm khổ đau dân tộc.
Vì vậy, nếu cuốn sách nhỏ này, với văn phong bộc trực và võ biền của một
https://thuviensach.vn
người lính già, với tâm tình thô thiển nhưng chân thành của một người dân
xa nước, mà khắc đậm thêm được quy luật lịch sử đó trong lòng người đọc,
thì tác giả thấy ước vọng của mình có thể trở thành hy vọng về một tương
lai tươi sáng cho đất nước.
Cuối cùng tác giả muốn bày tỏ lòng tri ân đến các bậc đàn anh, các thân hữu
đã khuyến khích, bổ khuyết, giúp ý kiến và tài liệu giá trị rất khó tìm ở hải
ngoại, cũng như đã yểm trợ phương tiện ấn loát và tài chánh để cuốn sách
này được hình thành.
Trong phần Phụ Lục ở cuối sách, tác giả mạn phép trích dẫn ý kiến của 100
nhân vật, tổ chức Việt Nam đã đăng trên các sách báo và một số thư từ các
bằng hữu đã viết riêng. Việc này theo thường tình là thất lễ bởi đã không
xin phép trước, nhưng tin quý vị sẽ sẵn sàng tha thứ bởi vì tác giả trộm nghĩ
rằng các suy nghiệm can đảm và chân thành của quý vị không những chỉ có
giá trị cho riêng cá nhân tác giả mà còn cho rất nhiều người khác. Bây giờ
cũng như mai sau.
Hải ngoại, Trọng Đông năm Ất Sửu (1985)
Hoành Linh Đỗ Mậu
https://thuviensach.vn
Hoành Linh Đỗ Mậu
VIỆT NAM Máu Lửa Quê Hương Tôi
Chương 1
QUẢNG BÌNH
QUÊ HƯƠNG ĐỊNH MỆNH
Trong suốt quá trình lịch sử cận đại của nước ta, trên cả ba miền đất nước
mà đặc biệt tại miền Trung, khi nói đến cái “lò” cách mạng hay cái “nôi”
văn học là phải nói đến hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ở phía Bắc Đèo Ngang,
và hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi ở phía Nam Đèo Hải Vân. Những bậc
hào kiệt tài danh đứng đầu ngọn sóng cách mạng hoặc làm đẹp cho nền thi
văn đất nước như các cụ Phan Bội Châu, Phan Đình Phùng, Nguyễn Du,
Nguyễn Công Trứ đều xuất thân từ vùng đất Nghệ-Tĩnh; còn những tên tuổi
của các cụ Phan Chu Trinh, Trần Cao Vân, Trần Quý Cáp thì lại vươn lên từ
vùng đất Nam-Ngãi, nơi được mang danh là đất của “Ngũ Phụng Tề Phi”
(năm con phượng cùng bay) nhờ kỳ thi Hội năm Mậu Tuất (1898), ba tiến sĩ
và hai phó bảng trong số mười tám vị chiếm bảng vàng đều xuất thân từ tỉnh
Quảng Nam, cho nên vua Thành Thái mới ban cho năm vị tân khoa bốn chữ
“Ngũ Phụng Tề Phi” vang rền đất nước.
Nghệ-Tĩnh và Nam-Ngãi, dưới thời Pháp thuộc, cũng chính là vùng đất bất
khuất, tiếp nối truyền thống cách mạng chống ngoại xâm của cha ông, vùng
lên đối kháng chính quyền bảo hộ Pháp mà điển hình là các cuộc đấu tranh
của Văn Thân và Cần Vương, là phong trào chống thuế ở Nam-Ngãi, là
phong trào Sô-Viết ở Nghệ-Tĩnh. Các ông Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng
và một số các lãnh tụ khác của đảng Cộng Sản Việt Nam, cũng xuất thân từ
lò luyện thép này.
Bên cạnh vóc dáng và khí thế lẫy lừng của bốn tỉnh kể trên, Bình-Trị-Thiên
là ba tỉnh nằm giữa hai ngọn đèo lớn đó của miền Trung, vì quen nhọc nhằn
chống lại thiên nhiên hà khắc, lại vốn làm cái đòn gánh chính trị oằn vai vì
sức nặng cách mạng của bốn tỉnh tiếp giáp nên cũng đã cưu mang trong sức
sống tất cả cái hào hùng và oan nghiệt của lịch sử. Tỉnh Quảng Bình, tuy là
https://thuviensach.vn
một tỉnh nhỏ về cả hai phương diện dân số lẫn diện tích, nhưng nhờ vậy lại
chiếm địa vị của một vùng đất quê hương nổi tiếng địa linh nhân kiệt.
Từ đời Hùng Vương, Quảng Bình đã là một trong mười lăm bộ của nước
Văn Lang, có tên là Việt Thường với thủ đô là Phong Châu[1]. Vì là tỉnh
cực Nam tiếp giáp với biên giới Chiêm Thành nên suốt một thời gian dài
trong quá trình dựng nước và mở nước, Quảng Bình đã là chiến địa khốc liệt
và dai dẳng, lắm phen thay ngôi đổi chủ giữa hai dân tộc Chiêm-Việt. Cho
đến năm 1069, khi vua Lý Thánh Tông xuất quân đánh Chiêm Thành bắt
được vua Chế Củ và sát nhập ba châu Địa-Lý, Ma-Linh, và Bố-Chính thì
Quảng Bình (và phần đất phía Bắc tỉnh Quảng Trị) mới hoàn toàn thuộc về
lãnh thổ nước Việt Nam và thuộc về chủ quyền dân tộc Việt Nam cho đến
bây giờ.
Tuy là một tỉnh nhỏ, dù bề dài 110 cây số, và bề ngang, chỗ hẹp nhất, chỉ
vào khoảng 45 cây số, quanh năm ách nước tai trời, lưng dựa vào Trường
Sơn huyền bí, mặt nhìn về biển Đông thét gào, đất cày lên không sỏi thì đá,
nhưng tạo hóa lại đền bù cho Quảng Bình nhiều danh lam thắng cảnh để tô
điểm cho thêm thanh kỳ, mỹ tú mà nhiều tỉnh khác không có. Lũy Thầy,
Đèo Ngang, sông Linh Giang, động Phong Nha… không những là kỳ tích
của thiên nhiên mà còn là những địa danh ghi đậm những biến cố hào hùng
trong lịch sử nước nhà.
Đèo Ngang nằm trên một rặng núi bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, vươn ra
biển Nam Hải như một bức trường thành hùng vĩ nên có lẽ vì thế mà rặng
núi này được gọi là Hoành Sơn. Sử chép rằng chúa Nguyễn Hoàng thời Lê
Mạt trước khi vào trấn nhậm Đàng Trong, có cho người đến thỉnh ý cụ
Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cụ nhìn thấy một đàn kiến đang bò trên hòn giả
sơn trước sân nhà, bèn nói Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân (núi
Hoành một dãy, vạn đời dung thân). Câu chuyện thuộc về dã sử không rõ
thực hư, nhưng kể từ năm 1558, khi chúa Trịnh cho Nguyễn Hoàng vào
Nam trấn nhậm cho đến khi nhà Nguyễn lập quốc xưng vương vào năm
1802, rồi kéo dài cho đến năm 1945, khi vua Bảo Đại thoái vị trao quyền lại
cho ông Hồ Chí Minh, tổng cộng gần 400 năm kể cũng là vạn đại lắm rồi.
Cảnh vật Đèo Ngang như là nơi tao ngộ của trời mây non nước, đất đá cỏ
https://thuviensach.vn
cây, lại có ải-quan trơ gan cùng ngày tháng, có Cổ Lũy pha đậm nét rêu
phong, cảnh trí vừa hùng vĩ, vừa nên thơ dễ làm động lòng khách du quan
mỗi khi đi qua Đèo. Vua Lê Thánh Tôn, Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà
Nguyễn Khắc Hiếu… những thi hào tên tuổi của Việt Nam dừng chân trên
đỉnh đèo, động lòng hoài cảm trước cảnh vật giao hòa đã để lại những vần
thơ láng lai tình non nước. Người Việt Nam không mấy ai không biết bài
thơ hoài cảm Qua Đèo Ngang tức cảnh của Bà Huyện Thanh Quan:
Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông rợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc-quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia-gia.
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Cách Đèo Ngang 15 cây số về phía Nam có con sông Gianh mà lòng sông
vừa sâu lượng nước lại vừa chảy mạnh. Sông Gianh bắt nguồn từ núi rừng
Trường Sơn hiểm trở, bạt núi xuyên ngàn tạo ra nhiều thác lắm ghềnh và đổ
òa ra biển Đông, cắt đôi đất nước thành hai miền riêng biệt. Bề ngang rộng
lớn của dòng sông và thế chảy mãnh liệt của dòng nước biến sông Gianh
thành một trở lực thiên nhiên hữu ích cho các nhà quân sự muốn tạo ra một
thế bố phòng vững chắc vào cái thời mà vũ khí và các phương tiện vận tải
còn giới hạn.
Cửa sông Gianh nước chảy xiết, khó bắc cầu, thuyền bè qua lại khó khăn
nguy hiểm nên dân gian mới ví von:
Bao giờ nước cạn Đồng Nai,
Sông Gianh bớt chảy mới phai lời nguyền.
Tuy cửa sông Gianh hiểm trở nhưng đây cũng lại là nơi phong cảnh hữu
tình, nên thơ với tiếng gió thổi lộng qua hàng dương liễu vi vu trỗi lên
những bản nhạc du dương trầm hùng, với những cánh buồm nâu trở về bến
cũ khi bóng xế chiều tà, với tiếng sóng dạt dào theo con nước thuỷ triều lên
xuống. Khách lữ hành mỏi mệt sau những chặng đường dài trên con đường
https://thuviensach.vn
thiên lý, đến cửa sông Gianh dừng chân nghỉ lại trong những ngôi quán
tranh của dân xóm Thanh Hà, phía hữu ngạn sông Gianh, nếm mùi hải vị,
uống chén chè tươi, ngắm nhìn bức tranh thiên tạo, hưởng làn gió mát trước
khi tiếp tục cuộc hành trình ngược Bắc xuôi Nam.
Rời sông Gianh, theo phương Nam mà đi gần 30 cây số nữa, khách lữ hành
sẽ gặp Đồng Hới, tỉnh lỵ Quảng Bình, có Động Hải, có sông Nhật Lệ, có
cổng Bình Quan, có cổ lũy Phú Ninh, có những tiền đồn của Lũy Thầy,
những di tích còn sót lại của thời Trịnh Nguyễn phân tranh.
Tiếp tục đi về phía Nam, băng qua sông Nhật Lệ, khách lữ hành sẽ tìm thấy
những kiến trúc rêu phong vốn là vết tích của Lũy Thầy, còn được gọi là
Trường Thành Định Bắc. Lũy Thầy, chiến lũy vững vàng đã từng chận đứng
rất nhiều chiến dịch Nam tiến của quân chúa Trịnh, được xây từ năm 1629
do sáng kiến chiến lược của vị quân sư tài ba và đầy mưu lược của nhà
Nguyễn là ông Đào Duy Từ. Ông vốn xuất thân từ một gia đình làm nghề
hát xướng, cái nghề mà xã hội phong kiến ngày xưa thường khinh bỉ gọi là
“xướng ca vô loại”. Thủa thiếu thời, có lúc ông phải đi ăn xin từ làng này
qua làng khác và rất nhiều lần phải chăn trâu cho các nhà phú hộ để đổi lấy
bát cơm thừa. Trong hoàn cảnh khốn cùng đó, tương lai lại còn bị chận
đứng bởi bức thành giai cấp cổ tục, ông vẫn quyết tâm sôi kinh nấu sử một
mình để trau dồi trí đức và sau này trở thành một bậc hiền tài mưu cao chí
lớn được chúa Nguyễn Phúc Nguyên và các quan xem như bậc thầy.
Lũy Thầy dài ba trăm trượng, chạy từ chân núi Đầu Mâu, phía Tây huyện
Lệ Thủy, đến cửa sông Nhật Lệ thuộc phủ Quảng Ninh, đã là chiến lũy chận
đứng được nhiều cuộc tấn công của quân Đàng Ngoài. Vì thế mới có lời
truyền tụng:
Khôn ngoan qua cửa sông La,
Dù ai có cánh khó qua Lũy Thầy.
Ngoài những cảnh trí non nước đã được nhắc nhở nhiều trong sử sách ngàn
đời của dân tộc Việt, Quảng Bình còn có nhiều phong cảnh đem tự hào cho
dân chúng địa phương. Cách tỉnh lỵ Đồng Hới 17 cây số về phía Tây Nam,
có động Phong Nha thuộc huyện Bố Trạch, một thắng cảnh vô cùng kỳ vĩ.
Muốn vào động phải đi bằng thuyền, phải có đuốc dẫn đường; trong động
https://thuviensach.vn
có suối nước xanh màu ngọc bích, có thạch nhũ nhô ra như những bàn tay
Phật, có những kiến trúc thiên nhiên như những toà lâu đài tráng lệ huy
hoàng, lại có những sân khấu do thợ Trời sắp đặt với phong cảnh trang trí,
đào kép múa may thật diễm ảo thần tiên. Những giọt nước từ nhũ đá rơi
xuống suối nằm sâu trong lòng động tạo thành những điệu nhạc trầm buồn
và mỗi khi nước chao động đập vào ghềnh đá thì có tiếng âm vang như
tiếng chuông chùa. Theo dân chúng địa phương thì những tiếng chuông
chùa này chỉ ngân lên vào đêm Rằm và đêm mồng Một âm lịch mà thôi.
Trời trên vòm động có những đám mây ngũ sắc từ chóp núi Trường Sơn tụ
lại làm cho cảnh vật Phong Nha thêm huyền ảo, thanh kỳ khiến khách du
quan tưởng mình như lạc đến chốn Bồng Lai Tiên Cảnh.
Cụ Chu Mạnh Trinh cho rằng động Hương Sơn ở Hà Tây là Nam Thiên đệ
nhất Động, còn học giả Thái Văn Kiểm (từng sống lâu năm và từng nghiên
cứu về địa lý dân tình tỉnh Quảng Bình và miền Trung) thì lại cho rằng
Phong Nha là “Đệ Nhất Kỳ Quan” của nước Việt Nam. Theo ông Thái Văn
Kiểm thì ông Barton, nhà chiêm tinh học người Anh, cho biết động Phong
Nha không kém gì động Padirac của Pháp hay Cuevas del Drach ở
Mallorque của xứ Tây Ban Nha[2]. Chỉ tiếc rằng động Phong Nha, một kỳ
quan của đất nước quê hương, mà chỉ có người Âu Châu thăm viếng nhiều
còn người Việt Nam chưa mấy ai lui tới chỉ vì giao thông trắc trở, vì chiến
tranh cản ngăn.
Nếu động Phong Nha đã tô điểm cho huyện Bố Trạch thành một vùng giang
sơn cẩm tú thì núi Đầu Mâu và đầm Hạc Hải ở Lệ Thủy và Quảng Ninh lại
là nơi tụ hội của khí thiêng sông núi hun đúc nhân tài tỉnh Quảng Bình. Núi
Đầu Mâu cao vút, quanh năm mây mù bao phủ đầu non, hình chóp núi nhọn
như ngòi bút, còn đầm Hạc Hải hình thể như cái nghiên mực có lạch riêng
cho thuyền bè qua lại, phía Đông Nam bao bọc bởi những động cát chập
chùng, phía Tây Bắc có vách núi Trường Sơn làm thành quách. Cảnh vật
Đầu Mâu và Hạc Hải trông giống như ngòi bút và đĩa nghiên cho nên tiền
nhân mới gọi Đầu Mâu vi bút, Hạc Hải vi nghiên, làm biểu tượng cho nền
văn học tỉnh Quảng Bình. Quanh Đầu Mâu và Hạc Hải có nhiều động, nhiều
hang thiêng liêng, thần bí khác, đặc biệt là động Chấn Linh được tiền nhân
https://thuviensach.vn
ca ngợi là chốn đào nguyên hạ giới, người trần tục không nên lui tới: Động
môn vô tỏa thực, tục khách bất tàng lai [3].
Quảng Bình, quê hương tôi, còn rất nhiều sơn kỳ, thủy tú. Có lẽ vì tạo hóa
đặc biệt ân thưởng để đền bù cho một vùng đất vốn không được ưu đãi về
mặt kinh tế như các vùng khác của đất nước, lại gặp quá nhiều đau khổ vì
ách nước tai trời, vì chinh chiến triền miên theo dọc chiều dài lịch sử. Trong
thời xa xưa, Quảng Bình liên tiếp đã là bãi chiến trường của hai quốc gia
Chiêm-Việt; đến đời nhà Lê, Quảng Bình lại đắm chìm trong can qua vì
cuộc phân tranh của hai nhà Trịnh-Nguyễn. Trong thời Pháp thuộc, vùng
Tuyên Hoá phía Tây Quảng Bình là chiến khu của vua Hàm Nghi, vùng tả
hữu ngạn sông Gianh trở thành chiến địa giữa nghĩa quân Cần vương và
quân đội viễn chinh của thực dân, giữa người Lương chống Pháp và người
Giáo theo Pháp. Thời chiến tranh Pháp-Việt, 1945-1954, vùng Bắc Quảng
Bình là biên giới của hai phe lâm chiến, nhiều trận giao phong ác liệt đã xảy
ra nơi vùng tiền tuyến của hai bên. Thời chiến tranh Nam Bắc Quốc Cộng
(1954-1975) Quảng Bình là tuyến đầu của quân đội miền Bắc, được sử dụng
như một căn cứ tiền phương với nhiệm vụ tình báo, tồn trữ quân nhu, quân
cụ và là xuất phát điểm của những chiến dịch xâm nhập hay tấn công quân
đội miền Nam, nên đất và dân Quảng Bình đã phải hứng chịu nhiều trận
mưa bom hãi hùng, bất tận của không quân Mỹ-Việt.
Ông bà xưa thường nói người khôn của khó. Câu nói đó áp dụng đúng cho
trường hợp nhân dân Quảng Bình. Dân Quảng Bình nghèo khó, dân Quảng
Bình gặp tai ương triền miên, nhưng người Quảng Bình lại thông minh, khí
phách, can trường và nhất là dám sống chết cho lý tưởng.
Tuy Quảng Bình không có những nhân vật nổi tiếng về văn học và cách
mạng như các danh sĩ Nghệ-Tĩnh và Nam-Ngãi, nhưng số người đỗ đạt
khoa giáp lại rất nhiều, đặc biệt là tại hai phủ Quảng Trạch và Quảng Ninh.
Quảng Trạch có bốn đại xã văn học là SƠN (Lệ Sơn), HÀ (La Hà), CẢNH
(Cảnh Dương), THỔ (Thổ Ngọa). Quảng Ninh có bốn đại xã là VĂN (Văn
La), VÕ (Võ Xá), CỔ (Cổ Liễu), KIM (Kim Nại). Tên của tám xã góp lại
thành hai vế của một câu đối là Sơn Hà Cảnh Thổ đối với Văn Võ Cổ Kim,
đã đem lại danh dự cho dân chúng Quảng Bình. Ngoài hai phủ Quảng Trạch
https://thuviensach.vn
và Quảng Ninh, huyện Lệ Thủy cũng là một quê hương có nhiều nhân tài
khoa hoạn, nhiều tiến sĩ, phó bảng. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí cho biết
từ đời nhà Lê cho đến đời nhà Nguyễn, Quảng Bình có rất nhiều người đỗ
đạt và làm quan phục vụ cho dân, cho nước mà toàn là những người nổi
tiếng về khí tiết, đức độ, liêm chính, tài năng, mưu lược. Có những nhân vật
đức độ được ca ngợi là Phật sống, là Bồ Tát, có những nhân vật văn võ vẹn
toàn, có những người đa mưu túc trí được so sánh với Khổng Minh, với Lưu
Bá Ôn, những nhân tài đời Hán, đời Minh bên Trung Quốc. Có những người
chỉ xuất thân từ hàng sĩ tốt, nhờ tài thao lược, nhờ dũng khí, can trường làm
nên đến Đô Thống, Quận Công. Quảng Bình tỉnh nhỏ, người thưa mà lại có
nhiều vị khoa giáp, tài đức, học hành toàn vẹn được nhiều đời Vua mời vào
cung giữ chức “Phụ Đạo”, làm thầy dạy học cho các Hoàng Tử, Hoàng Đệ
như Nguyễn Đăng Tuấn, Ngô Đình Giỏi, Vũ Xuân Cẩn, Nguyễn Hàm Ninh.
Có người như Nguyễn Tử Kính làm quân sư cho vua Lê đánh đuổi giặc Tàu,
như Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân lãnh đạo nghĩa quân Cần Vương, phò vua
Hàm Nghi đánh Pháp. Có người như Nguyễn Hàm Ninh (bạn tri kỷ của Cao
Bá Quát) nửa đường công danh không muốn tiếp tục vào lòn ra cúi, cởi áo
từ quan về nhà sống cuộc đời thanh bần. Lại có người như tiến sĩ Phạm Phi
Diệu đỗ đạt rồi mà không màng lợi danh, chỉ muốn sống cuộc đời ẩn dật vui
với non nước, cỏ cây chốn thôn dã bần hàn:
Bảng chiếu dương Ngô mai bạch tuyết,
Tâm lao hậu bỉ Thảo, Huyền nhân.
Ý muốn nói là thi đỗ rồi chỉ muốn bồi dưỡng tâm hồn cho trắng như tuyết,
cho sạch như mai, không nhọc lòng làm kẻ viết kinh Huyền, kinh Thảo[4].
Đến thời cận đại, khi nền giáo dục Tây phương theo chân quân xâm lăng
tràn vào bờ cõi để đánh bật tận gốc rễ nền giáo dục Nho Hán và thay vào
đấy bằng một nền giáo dục gọi là Tây học thì Quảng Bình, trong cơn
chuyển đổi ngặt nghèo, cũng sản xuất ra được những nhân vật tiếng tăm lẫy
lừng như giòng họ Ngô Đình chẳng hạn, giòng họ đã có người làm đến
Tổng Đốc Thượng Thư dưới thời bảo hộ Pháp, có người làm đến Tổng
thống, Tổng giám mục dưới thời ảnh hưởng Mỹ. Cũng trong thời kỳ này,
khi chiến tranh bao phủ non sông và bao nhiều người con yêu của tổ quốc
https://thuviensach.vn
đều chọn binh nghiệp làm lẽ sống thì Quảng Bình cũng có người làm đến
Đại tướng hay Bộ trưởng như ông Võ Nguyên Giáp chẳng hạn, tạo ra những
chiến công hiển hách trong quân sử nước nhà. Quảng Bình cũng còn nằm
trong bộ phận đại quần chúng để cung cấp cho dân tộc những nghệ sĩ biết
rung động với thiên nhiên và thời đại, những kỹ thuật gia biết vận dụng
năng lực sáng tạo để khắc phục khó khăn.
Lật trang sử cũ, ta thấy Quảng Bình quả thật là quê hương địa linh nhân
kiệt, vùng đất vốn chật hẹp, nghèo nàn mà núi sông lại hùng vĩ, phong cảnh
lại hữu tình, sản xuất không biết bao nhiêu là văn tài, võ tướng, hào kiệt,
trượng phu, tô điểm vàng son cho lịch sử nước nhà. Nhưng rồi như cổ nhân
đã dạy dân có vận, nướ...
VIỆT NAM Máu Lửa Quê Hương
Tôi
Hoành Linh Đỗ Mậu
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Lời Giới thiệu của NXB
LỜI MỞ ĐẦU
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Hình ảnh 1
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương 20
Hình ảnh 2
https://thuviensach.vn
Hoành Linh Đỗ Mậu
VIỆT NAM Máu Lửa Quê Hương Tôi
Lời Giới thiệu của NXB
LỜI GIỚI THIỆU
ẤN BẢN ĐIỆN TỬ - NĂM 2007
Đầu Xuân năm 2007, được biết Nhà Xuất bản Văn Nghệ đã tiêu thụ hết đợt
phát hành cuối cùng của Hồi ký Việt Nam Máu Lữa Quê Hương Tôi, và
không có ý định tái bản tác phẩm nầy nữa trong một tương lai gần, chúng
tôi, một nhóm thân hữu của tác giả Hoành Linh Đỗ Mậu, đã liên lạc với gia
đình của tác giả để xin tái bản tác phẩm nầy dưới dạng điện tử. Và đã được
gia đình tác giả chấp thuận với một số yêu cầu về tác quyền và biên tập.
https://thuviensach.vn
Về nội dung, không có một thay đổi nào trong Ấn bản Điện tử (so với ấn
bản giấy 1993) ngoại trừ thêm một số hình ảnh của tác giả; và ở Phụ Lục E,
10 Bài Đọc Thêm, chúng tôi thêm một lá thư của tướng Dương Văn Minh
và một bài viết về Tướng Trình Minh Thế để làm sáng tỏ một số bí ẩn lịch
sử được nhắc đến trong Hồi ký.
Về hình thức, có ba thay đổi trong quá trình cập nhật lại tác phẩm nầy:
(a) Sửa lại các lổi chính tả và đánh máy. Với tổng số lượng gần 750,000 từ
của toàn bộ tác phẩm, đây là một nỗ lực liên tục nhưng chắc vẫn còn khiếm
khuyết ngay cả trong ấn bản điện tử nầy.
(b) Sửa và thêm các đại danh từ (cụ, ông, bác, anh, ...) và những chức vụ
(phó tổng thống, thiếu tá, giáo sư, nhà văn, ...) trước tên riêng của các nhân
vật. Tùy ngữ cảnh và bối cảnh của mỗi tình huống, chúng tôi chọn đại danh
từ/chức vụ nào mà chúng tôi nghĩ rằng phù hợp nhất. Mặt khác, có một số
nhỏ đại danh từ và chức vụ không cần thiết, thì chúng tôi cũng đã quyết
định bỏ đi.
(c) Ba từ “Công giáo”, “Kitô giáo” và “Thiên Chúa giáo” đã là một vấn
nạn khó tạo được sự đồng thuận trong cách sử dụng. Do đó, ngoại trừ vài
trường hợp đặc biệt, trên nền không-thời-gian lịch sử mà Hồi ký chủ yếu
được xây dựng (là chế độ Ngô Đình Diệm), chúng tôi quyết định thống nhất
hầu hết các từ nầy thành từ “Công giáo” như chính những giáo hữu Việt
Nam, trong giai đọan đó cũng như kể cả bây giờ, đã gọi Công giáo La Mã
(Roman Catholic).
Có hai lý do khiến chúng tôi lấy quyết định tái bản tác phẩm Việt Nam Máu
Lữa Quê Hương Tôi nầy của tác giả Hoành Linh Đỗ Mậu dưới dạng điện
tử:
· Thứ nhất là vì nhu cầu tìm đọc tài liệu về chủ đề nầy không những đã
https://thuviensach.vn
không giảm bớt mà thậm chí còn gia tăng. Hơn 40 năm sau khi chế độ Ngô
Đình Diệm bị lật đổ, hơn 20 năm sau khi tác phẩm nầy ra đời, và sau hơn
20.000 ấn bản (dự đoán) được phổ biến cả ở trong lẫn ngoài nước, giai đoạn
lịch sử 1954-1975 tại miền Nam Việt Nam (và những nhân vật lịch sử quan
hệ đến nó) vẫn là đề tài được nhiều người quan tâm muốn tìm hiểu. Để xem
rút ra được những bài học gì cho bây giờ và mai sau trên quê hương Việt
Nam.
· Và thứ nhì là với những thành quả ngoạn mục của cuộc cách mạng
Tin học, tri thức không còn bị phong tỏa, lại càng không trở thành sản phẩm
độc quyền của một giai tầng nào nữa. Do đó, sản phẩm trí tuệ cần được xuất
hiện dưới dạng điện tử để dễ dàng vượt mọi biên giới thiên nhiên, rào cản
hành chánh và giới hạn tiền bạc, ngõ hầu có thể bay vào không gian
cyberspace mà đến với người đọc khắp địa cầu.
Nhóm Thân hữu của tác giả Hoành Linh Đỗ Mậu, khi hoàn thành ấn bản
nầy, chỉ nhắm đáp ứng hai nhu cầu nói trên. Và đóng góp phần mình vào
việc thực hiện tâm nguyện của tác giả đã được trang trải đầy ắp trong tác
phẩm nầy.
Hoa Kỳ - Thu 2007
Nhóm Thân hữu trách nhiệm Ấn bản Điện tử VNMLQHT-2007
* * *
LỜI GIỚI THIỆU
ẤN BẢN THỨ BA - NĂM 1993
Tập Hồi ký chính trị Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của tác giả
Hoành Linh Đỗ Mậu được Nhà Xuất bản Hương Quê ấn hành lần đầu tiên
vào mùa thu năm 1986 tại miền Nam California, Hoa Kỳ.
https://thuviensach.vn
Từ đó đến nay, tác phẩm này đã được tái bản một lần (1987) và in lại
tám lần. Như vậy, bản mà quý bạn đọc cầm trên tay hôm nay (1993) của
Nhà Xuất bản Văn Nghệ là lần biên tập thứ ba và là lần in lại thứ chín
(Third Edition, Ninth Printing).
Ấn bản 1986 Ấn bản 1993
Đó là không kể hai ấn bản mà tác giả hoàn toàn không biết đến quá trình
hình thành của chúng. Bản thứ nhất in tại Úc Châu vào khoảng năm 1990
với một hình bìa khác hẳn. Và bản thứ nhì in tại Việt Nam, không những
khác bìa, nội dung bị biến cải, mà ngay cả tên sách cũng bị thay đổi. Đó là
cuốn Tâm Sự Tướng Lưu Vong do Nhà Xuất Bản Công An Nhân Dân ấn
hành 3.200 ấn bản vào năm 1991 (Số xuất bản 117/KII90 CAND). Sau khi
https://thuviensach.vn
đối chiếu với nguyên bản, tác giả cho chúng tôi biết rằng ấn bản này đã bị
bỏ bớt gần một phần tư nội dung, thay đổi một số danh xưng và bớt nhiều
đoạn; nhưng nói chung, phần Sử luận và các luận điểm chính trị của ông, về
căn bản, vẫn được giữ lại gần nguyên vẹn.
Ấn bản 1991 Ấn bản 1995 Ấn bản 2001
Lẽ dĩ nhiên, tác giả đã không biết gì hết về sự ra đời của ấn bản này, lại càng
không liên lạc được vì hoàn cảnh lịch sử và chính trị oái oăm của đất nước,
https://thuviensach.vn
để phản đối việc làm vừa vi phạm tác quyền vừa vi phạm sự trung thực toàn
vẹn của một sản phẩm trí tuệ.
Bảy năm đã trôi qua kể từ khi ấn bản đầu tiên ra đời.
Đã có rất nhiều, quá nhiều là khác, thảo luận và bút chiến về tác phẩm, và
nhiều khi, về từng chủ điểm mà tác phẩm này nêu lên. Cho đến thời điểm
này, vẫn còn xuất hiện trên báo chí hải ngoại những bài viết đề cập đến tác
phẩm hoặc tác giả. Đặc biệt đã có 13 cuốn sách của những người viết đứng
từ những vị trí khác nhau, nhìn từ những góc độ khác nhau, và mang những
tâm chất khác nhau, nhưng tất cả đều trực tiếp hay gián tiếp liên hệ đến tác
phẩm hay tác giả.
Trong lúc có hai người viết nêu đích danh tác giả trên bìa sách để “trực
thoại” (Linh mục Vũ Đình Hoạt và Cựu Nghị sĩ Nguyễn Văn Chức) thì
cũng có những cuốn đào sâu các luận đề mà tác giả viết chưa đủ rốt ráo (Hồ
Chí Minh, Ngô Đình Diệm và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam của ông Hồ
Sĩ Khuê và Gia Tô Thực Dân Sử Liệu của ông Chu Văn Trình). Trong lúc
có người viết lúc chống lúc thuận với tác giả (ông Nguyễn Trân) thì cũng có
người cung cấp thêm những dữ kiện và luận cứ mới làm mạnh thêm những
luận điểm của tác phẩm (ông Nguyễn Long Thành Nam, Tướng Nguyễn
Chánh Thi, Tướng Trần Văn Đôn, Đại tá Trần Văn Kha, ông Lê Trọng
Văn). Lại có thêm ấn bản Việt ngữ (Sự Lừa Dối Hào Nhoáng) của tác phẩm
The Bright Shining Light của Neil Sheehan (1991) và ấn bản Pháp ngữ Les
Missionnaires et La Politique Coloniale Francaise au Vietnam của ông Cao
Huy Thuần lần đầu tiên được Đại học Yale xuất bản tại Hoa Kỳ (1990)…
Tất cả chỉ làm cho tác phẩm Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi trở thành
một hiện tượng độc đáo trong lịch sử các tác phẩm nghiên cứu của Việt
Nam. Và hơn thế nữa, chỉ làm cho chúng ta thấy rằng tác phẩm đã đề cập
đúng những vấn đề căn bản, có thực, và có tác động sâu sắc đến nhiều người
Việt Nam, đến chính tình Việt Nam không những chỉ trong quá khứ mà còn
cả trong tương lai nữa.
https://thuviensach.vn
Trong lần tái bản này, phương pháp luận căn bản của tập Hồi ký là thông
qua các biến cố lịch sử (mà tác giả đã sống và/hoặc nghiên cứu) để giải
thích những lực nào đã tác động lên sự vận hành của lịch sử nước ta trong
hơn nửa thế kỷ vừa qua, vẫn không thay đổi. Nói rõ hơn, bản chất cuộc
chiến và các lực lượng tham chiến trên quê hương ta suốt mấy chục năm
trời vẫn có tính phi dân tộc. Và nguyên lý chỉ đạo làm nền tảng sử luận cho
tác giả là đã phi dân tộc thì thế nào cũng phản dân tộc vẫn chảy xuyên suốt
tác phẩm.
Tuy nhiên, trong lần tái bản thứ ba này có một số thay đổi sau đây:
Về hình thức, số lỗi chính tả và ấn loát (nhất là các dấu hỏi ngã) được giảm
thiểu tối đa. Một số rất ít tên người, tên địa phương và ngày tháng cũng đã
được cập nhật lại. Đặc biệt, so với lần trước, ấn bản này tuy có dài thêm
khoảng 15 phần trăm (nâng tổng số lên hơn 750 ngàn chữ) nhưng số trang,
theo lời yêu cầu của tác giả, lại được rút ngắn còn 80 phần trăm (1089
trang) nhờ cách dòng (interline spacing) nhỏ hơn và cỡ chữ (text size) nhỏ
lại, hầu tiết giảm giá thành đến mức thấp nhất.
Việc sử dụng hai nhu liệu tin học VNI và Ventura để trình bày sách đã giúp
cho ấn bản này đồng dạng hơn, sáng sủa hơn, do đó dễ đọc hơn các ấn bản
trước.
Về nội dung, một số luận cứ và chứng liệu lịch sử mới đã được thêm vào,
đặc biệt về quá trình du nhập Công giáo vào Việt Nam, về những bí ẩn mới
trong cuộc Cách mạng 1-11-63, về cuộc vận động cho Dân chủ của Phật
giáo tại miền Trung năm 1966, về vai trò của Vatican trong những ngày cuối
cùng của miền Nam vào năm 1975... để nhân đó, tác giả trả lời một số
xuyên tạc và ngộ nhận về tác phẩm. Cũng thêm vào trong ấn bản này là một
Phụ Lục mới gồm 10 tài liệu đọc thêm của những nhân chứng lịch sử và
một số hình ảnh của các khuôn mặt quan trọng đã hiện diện trong tác phẩm.
Nhân dịp này, tác giả có nhờ chúng tôi chuyển lời cảm ơn đặc biệt đến cụ
Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, cụ Hương Thuỷ Hoàng Trọng Thược, cụ Phùng
https://thuviensach.vn
Duy Miễn, nhà Sử học Vũ Ngự Chiêu, Trung tướng Vĩnh Lộc, bác sĩ Võ Tư
Nhượng và Giáo sư Phạm Phú Xuân đã tận tình góp ý sửa lời để ấn bản này
được toàn vẹn hơn.
Nhà Xuất Bản Văn Nghệ, khi quyết định xuất bản và phát hành tác phẩm
này, chỉ muốn xác nhận lại chủ trương của mình: cung cấp cho độc giả trong
và ngoài nước những tác phẩm giá trị, những công tình trí tuệ có phẩm chất
cao hầu đóng góp vào gia tài Văn hoá của dân tộc.
Ngoài ra, riêng với tác phẩm Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, sự kiện
có những tranh luận sôi nổi xung quanh tác phẩm, và trước nhu cầu tìm đọc
nguyên bản của nhiều độc giả đã từng đọc “ấn bản trong nước”, chúng tôi tự
thấy có bổn phận phải nỗ lực hoàn thành việc xuất bản và phát hành tác
phẩm này, với ước mong cống hiến cho những đồng bào còn quan tâm đến
vận mệnh quê hương một cách nhìn mới về những vấn nạn mà tổ quốc ta đã
đối trị và có thể sẽ còn phải đối diện trong tương lai.
Hoa Kỳ, tháng 9 năm 1993
Nhà Xuất Bản VĂN NGHỆ
https://thuviensach.vn
Hoành Linh Đỗ Mậu
VIỆT NAM Máu Lửa Quê Hương Tôi
LỜI MỞ ĐẦU
Đó là một thời kỳ đầy đau thương của đất nước. Đó là khi người Pháp
nhân danh nền văn minh Thiên Chúa giáo để “khai hóa”, xâm lăng và đô hộ
đất nước Việt Nam cho đến ngày nay, khi người Cộng Sản nhân danh cách
mạng vô sản chuyên chính để “giải phóng”, khống chế và bạo quản dân tộc
Việt Nam.
Tôi đã sống một giai đoạn của thời kỳ đó không những như một nhân chứng
mà còn may mắn được tham dự tích cực vào một số biến chuyển và hoạt
động sát cánh với một số nhân vật lịch sử. Trên con đường ba mươi năm
sống và hoạt động đó, tôi chỉ có một tâm nguyện: ấm no và an vui cho đồng
bào.
https://thuviensach.vn
Nhưng tâm nguyện đó không thành tựu vì trên quê hương tôi đau thương
vẫn còn đó, nghèo khổ vẫn còn đó. Các bậc đàn anh của tôi, đồng chí và
bằng hữu của tôi cũng đã không thực hiện được hoài bão của đời họ. Tất cả,
từ những người có lòng nhất đến những người tài ba đảm lược nhất đều đã
thất bại, dù trong cuộc hành trình hùng tráng và bi thiết này, không biết bao
nhiêu người đã hy sinh gục ngã.
Quyết định viết hồi ký được khơi nguồn từ ý muốn đi tìm những nguyên
nhân lớn nhất, thực nhất của cái thảm trạng mà ngày nay cả dân tộc ta phải
nhận chịu, dù những nguyên nhân đó có làm đảo lộn những nề nếp suy
nghiệm cũ và làm lung lay những đánh giá lịch sử đã được một số người hài
lòng công nhận. Những nguyên nhân này được cố gắng trang trải như một
bài học lịch sử để từ đó và do đó, hy vọng những lớp người đang đi tới sẽ
tránh được những vết xe đổ đã nghiền nát bao nhiêu trang sử hiện đại dân
tộc.
Cuốn sách này được chia làm ba phần tổng quát. Phần thứ nhất nói về thời
kỳ thơ ấu và thanh niên. Phần thứ hai, về giai đoạn mấu chốt nhất của lịch
sử cận đại: chín năm của nền Cộng Hoà đầu tiên của đất nước. Và phần
chót, về hậu quả bi thảm của một chế độ phi dân tộc.
Vì là hồi ký chính trị của một cá nhân nên các sự kiện có thể thiếu sót do
tính chất phức tạp của các biến cố, nhưng chắc chắn là xác thực. Các suy
nghiệm cũng vậy, đôi khi chủ quan nhưng luôn luôn nghiêm chỉnh vì chúng
bắt nguồn từ và kết tụ về một quy luật đặc thù của lịch sử Việt:
HỄ ĐÃ PHI DÂN TỘC
THÌ THẾ NÀO CŨNG PHẢN DÂN TỘC
Điều này đã được chứng nghiệm rõ ràng khi suy giải trách nhiệm của những
người nắm chức vụ lãnh đạo Việt Nam trong 30 năm qua. Người thì đến giờ
hấp hối còn ước mong được gặp Các Mác, Lê-nin bên kia thế giới, người thì
muốn nối dài biên giới Hoa Kỳ từ Alaska đến sông Bến Hải, người thì đào
nhiệm bỏ ngũ khi Hoa Kỳ ngưng viện trợ “chống Cộng”…
Tất cả đã không có căn bản dân tộc nên đã làm khổ đau dân tộc.
Vì vậy, nếu cuốn sách nhỏ này, với văn phong bộc trực và võ biền của một
https://thuviensach.vn
người lính già, với tâm tình thô thiển nhưng chân thành của một người dân
xa nước, mà khắc đậm thêm được quy luật lịch sử đó trong lòng người đọc,
thì tác giả thấy ước vọng của mình có thể trở thành hy vọng về một tương
lai tươi sáng cho đất nước.
Cuối cùng tác giả muốn bày tỏ lòng tri ân đến các bậc đàn anh, các thân hữu
đã khuyến khích, bổ khuyết, giúp ý kiến và tài liệu giá trị rất khó tìm ở hải
ngoại, cũng như đã yểm trợ phương tiện ấn loát và tài chánh để cuốn sách
này được hình thành.
Trong phần Phụ Lục ở cuối sách, tác giả mạn phép trích dẫn ý kiến của 100
nhân vật, tổ chức Việt Nam đã đăng trên các sách báo và một số thư từ các
bằng hữu đã viết riêng. Việc này theo thường tình là thất lễ bởi đã không
xin phép trước, nhưng tin quý vị sẽ sẵn sàng tha thứ bởi vì tác giả trộm nghĩ
rằng các suy nghiệm can đảm và chân thành của quý vị không những chỉ có
giá trị cho riêng cá nhân tác giả mà còn cho rất nhiều người khác. Bây giờ
cũng như mai sau.
Hải ngoại, Trọng Đông năm Ất Sửu (1985)
Hoành Linh Đỗ Mậu
https://thuviensach.vn
Hoành Linh Đỗ Mậu
VIỆT NAM Máu Lửa Quê Hương Tôi
Chương 1
QUẢNG BÌNH
QUÊ HƯƠNG ĐỊNH MỆNH
Trong suốt quá trình lịch sử cận đại của nước ta, trên cả ba miền đất nước
mà đặc biệt tại miền Trung, khi nói đến cái “lò” cách mạng hay cái “nôi”
văn học là phải nói đến hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ở phía Bắc Đèo Ngang,
và hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi ở phía Nam Đèo Hải Vân. Những bậc
hào kiệt tài danh đứng đầu ngọn sóng cách mạng hoặc làm đẹp cho nền thi
văn đất nước như các cụ Phan Bội Châu, Phan Đình Phùng, Nguyễn Du,
Nguyễn Công Trứ đều xuất thân từ vùng đất Nghệ-Tĩnh; còn những tên tuổi
của các cụ Phan Chu Trinh, Trần Cao Vân, Trần Quý Cáp thì lại vươn lên từ
vùng đất Nam-Ngãi, nơi được mang danh là đất của “Ngũ Phụng Tề Phi”
(năm con phượng cùng bay) nhờ kỳ thi Hội năm Mậu Tuất (1898), ba tiến sĩ
và hai phó bảng trong số mười tám vị chiếm bảng vàng đều xuất thân từ tỉnh
Quảng Nam, cho nên vua Thành Thái mới ban cho năm vị tân khoa bốn chữ
“Ngũ Phụng Tề Phi” vang rền đất nước.
Nghệ-Tĩnh và Nam-Ngãi, dưới thời Pháp thuộc, cũng chính là vùng đất bất
khuất, tiếp nối truyền thống cách mạng chống ngoại xâm của cha ông, vùng
lên đối kháng chính quyền bảo hộ Pháp mà điển hình là các cuộc đấu tranh
của Văn Thân và Cần Vương, là phong trào chống thuế ở Nam-Ngãi, là
phong trào Sô-Viết ở Nghệ-Tĩnh. Các ông Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng
và một số các lãnh tụ khác của đảng Cộng Sản Việt Nam, cũng xuất thân từ
lò luyện thép này.
Bên cạnh vóc dáng và khí thế lẫy lừng của bốn tỉnh kể trên, Bình-Trị-Thiên
là ba tỉnh nằm giữa hai ngọn đèo lớn đó của miền Trung, vì quen nhọc nhằn
chống lại thiên nhiên hà khắc, lại vốn làm cái đòn gánh chính trị oằn vai vì
sức nặng cách mạng của bốn tỉnh tiếp giáp nên cũng đã cưu mang trong sức
sống tất cả cái hào hùng và oan nghiệt của lịch sử. Tỉnh Quảng Bình, tuy là
https://thuviensach.vn
một tỉnh nhỏ về cả hai phương diện dân số lẫn diện tích, nhưng nhờ vậy lại
chiếm địa vị của một vùng đất quê hương nổi tiếng địa linh nhân kiệt.
Từ đời Hùng Vương, Quảng Bình đã là một trong mười lăm bộ của nước
Văn Lang, có tên là Việt Thường với thủ đô là Phong Châu[1]. Vì là tỉnh
cực Nam tiếp giáp với biên giới Chiêm Thành nên suốt một thời gian dài
trong quá trình dựng nước và mở nước, Quảng Bình đã là chiến địa khốc liệt
và dai dẳng, lắm phen thay ngôi đổi chủ giữa hai dân tộc Chiêm-Việt. Cho
đến năm 1069, khi vua Lý Thánh Tông xuất quân đánh Chiêm Thành bắt
được vua Chế Củ và sát nhập ba châu Địa-Lý, Ma-Linh, và Bố-Chính thì
Quảng Bình (và phần đất phía Bắc tỉnh Quảng Trị) mới hoàn toàn thuộc về
lãnh thổ nước Việt Nam và thuộc về chủ quyền dân tộc Việt Nam cho đến
bây giờ.
Tuy là một tỉnh nhỏ, dù bề dài 110 cây số, và bề ngang, chỗ hẹp nhất, chỉ
vào khoảng 45 cây số, quanh năm ách nước tai trời, lưng dựa vào Trường
Sơn huyền bí, mặt nhìn về biển Đông thét gào, đất cày lên không sỏi thì đá,
nhưng tạo hóa lại đền bù cho Quảng Bình nhiều danh lam thắng cảnh để tô
điểm cho thêm thanh kỳ, mỹ tú mà nhiều tỉnh khác không có. Lũy Thầy,
Đèo Ngang, sông Linh Giang, động Phong Nha… không những là kỳ tích
của thiên nhiên mà còn là những địa danh ghi đậm những biến cố hào hùng
trong lịch sử nước nhà.
Đèo Ngang nằm trên một rặng núi bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, vươn ra
biển Nam Hải như một bức trường thành hùng vĩ nên có lẽ vì thế mà rặng
núi này được gọi là Hoành Sơn. Sử chép rằng chúa Nguyễn Hoàng thời Lê
Mạt trước khi vào trấn nhậm Đàng Trong, có cho người đến thỉnh ý cụ
Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cụ nhìn thấy một đàn kiến đang bò trên hòn giả
sơn trước sân nhà, bèn nói Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân (núi
Hoành một dãy, vạn đời dung thân). Câu chuyện thuộc về dã sử không rõ
thực hư, nhưng kể từ năm 1558, khi chúa Trịnh cho Nguyễn Hoàng vào
Nam trấn nhậm cho đến khi nhà Nguyễn lập quốc xưng vương vào năm
1802, rồi kéo dài cho đến năm 1945, khi vua Bảo Đại thoái vị trao quyền lại
cho ông Hồ Chí Minh, tổng cộng gần 400 năm kể cũng là vạn đại lắm rồi.
Cảnh vật Đèo Ngang như là nơi tao ngộ của trời mây non nước, đất đá cỏ
https://thuviensach.vn
cây, lại có ải-quan trơ gan cùng ngày tháng, có Cổ Lũy pha đậm nét rêu
phong, cảnh trí vừa hùng vĩ, vừa nên thơ dễ làm động lòng khách du quan
mỗi khi đi qua Đèo. Vua Lê Thánh Tôn, Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà
Nguyễn Khắc Hiếu… những thi hào tên tuổi của Việt Nam dừng chân trên
đỉnh đèo, động lòng hoài cảm trước cảnh vật giao hòa đã để lại những vần
thơ láng lai tình non nước. Người Việt Nam không mấy ai không biết bài
thơ hoài cảm Qua Đèo Ngang tức cảnh của Bà Huyện Thanh Quan:
Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông rợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc-quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia-gia.
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Cách Đèo Ngang 15 cây số về phía Nam có con sông Gianh mà lòng sông
vừa sâu lượng nước lại vừa chảy mạnh. Sông Gianh bắt nguồn từ núi rừng
Trường Sơn hiểm trở, bạt núi xuyên ngàn tạo ra nhiều thác lắm ghềnh và đổ
òa ra biển Đông, cắt đôi đất nước thành hai miền riêng biệt. Bề ngang rộng
lớn của dòng sông và thế chảy mãnh liệt của dòng nước biến sông Gianh
thành một trở lực thiên nhiên hữu ích cho các nhà quân sự muốn tạo ra một
thế bố phòng vững chắc vào cái thời mà vũ khí và các phương tiện vận tải
còn giới hạn.
Cửa sông Gianh nước chảy xiết, khó bắc cầu, thuyền bè qua lại khó khăn
nguy hiểm nên dân gian mới ví von:
Bao giờ nước cạn Đồng Nai,
Sông Gianh bớt chảy mới phai lời nguyền.
Tuy cửa sông Gianh hiểm trở nhưng đây cũng lại là nơi phong cảnh hữu
tình, nên thơ với tiếng gió thổi lộng qua hàng dương liễu vi vu trỗi lên
những bản nhạc du dương trầm hùng, với những cánh buồm nâu trở về bến
cũ khi bóng xế chiều tà, với tiếng sóng dạt dào theo con nước thuỷ triều lên
xuống. Khách lữ hành mỏi mệt sau những chặng đường dài trên con đường
https://thuviensach.vn
thiên lý, đến cửa sông Gianh dừng chân nghỉ lại trong những ngôi quán
tranh của dân xóm Thanh Hà, phía hữu ngạn sông Gianh, nếm mùi hải vị,
uống chén chè tươi, ngắm nhìn bức tranh thiên tạo, hưởng làn gió mát trước
khi tiếp tục cuộc hành trình ngược Bắc xuôi Nam.
Rời sông Gianh, theo phương Nam mà đi gần 30 cây số nữa, khách lữ hành
sẽ gặp Đồng Hới, tỉnh lỵ Quảng Bình, có Động Hải, có sông Nhật Lệ, có
cổng Bình Quan, có cổ lũy Phú Ninh, có những tiền đồn của Lũy Thầy,
những di tích còn sót lại của thời Trịnh Nguyễn phân tranh.
Tiếp tục đi về phía Nam, băng qua sông Nhật Lệ, khách lữ hành sẽ tìm thấy
những kiến trúc rêu phong vốn là vết tích của Lũy Thầy, còn được gọi là
Trường Thành Định Bắc. Lũy Thầy, chiến lũy vững vàng đã từng chận đứng
rất nhiều chiến dịch Nam tiến của quân chúa Trịnh, được xây từ năm 1629
do sáng kiến chiến lược của vị quân sư tài ba và đầy mưu lược của nhà
Nguyễn là ông Đào Duy Từ. Ông vốn xuất thân từ một gia đình làm nghề
hát xướng, cái nghề mà xã hội phong kiến ngày xưa thường khinh bỉ gọi là
“xướng ca vô loại”. Thủa thiếu thời, có lúc ông phải đi ăn xin từ làng này
qua làng khác và rất nhiều lần phải chăn trâu cho các nhà phú hộ để đổi lấy
bát cơm thừa. Trong hoàn cảnh khốn cùng đó, tương lai lại còn bị chận
đứng bởi bức thành giai cấp cổ tục, ông vẫn quyết tâm sôi kinh nấu sử một
mình để trau dồi trí đức và sau này trở thành một bậc hiền tài mưu cao chí
lớn được chúa Nguyễn Phúc Nguyên và các quan xem như bậc thầy.
Lũy Thầy dài ba trăm trượng, chạy từ chân núi Đầu Mâu, phía Tây huyện
Lệ Thủy, đến cửa sông Nhật Lệ thuộc phủ Quảng Ninh, đã là chiến lũy chận
đứng được nhiều cuộc tấn công của quân Đàng Ngoài. Vì thế mới có lời
truyền tụng:
Khôn ngoan qua cửa sông La,
Dù ai có cánh khó qua Lũy Thầy.
Ngoài những cảnh trí non nước đã được nhắc nhở nhiều trong sử sách ngàn
đời của dân tộc Việt, Quảng Bình còn có nhiều phong cảnh đem tự hào cho
dân chúng địa phương. Cách tỉnh lỵ Đồng Hới 17 cây số về phía Tây Nam,
có động Phong Nha thuộc huyện Bố Trạch, một thắng cảnh vô cùng kỳ vĩ.
Muốn vào động phải đi bằng thuyền, phải có đuốc dẫn đường; trong động
https://thuviensach.vn
có suối nước xanh màu ngọc bích, có thạch nhũ nhô ra như những bàn tay
Phật, có những kiến trúc thiên nhiên như những toà lâu đài tráng lệ huy
hoàng, lại có những sân khấu do thợ Trời sắp đặt với phong cảnh trang trí,
đào kép múa may thật diễm ảo thần tiên. Những giọt nước từ nhũ đá rơi
xuống suối nằm sâu trong lòng động tạo thành những điệu nhạc trầm buồn
và mỗi khi nước chao động đập vào ghềnh đá thì có tiếng âm vang như
tiếng chuông chùa. Theo dân chúng địa phương thì những tiếng chuông
chùa này chỉ ngân lên vào đêm Rằm và đêm mồng Một âm lịch mà thôi.
Trời trên vòm động có những đám mây ngũ sắc từ chóp núi Trường Sơn tụ
lại làm cho cảnh vật Phong Nha thêm huyền ảo, thanh kỳ khiến khách du
quan tưởng mình như lạc đến chốn Bồng Lai Tiên Cảnh.
Cụ Chu Mạnh Trinh cho rằng động Hương Sơn ở Hà Tây là Nam Thiên đệ
nhất Động, còn học giả Thái Văn Kiểm (từng sống lâu năm và từng nghiên
cứu về địa lý dân tình tỉnh Quảng Bình và miền Trung) thì lại cho rằng
Phong Nha là “Đệ Nhất Kỳ Quan” của nước Việt Nam. Theo ông Thái Văn
Kiểm thì ông Barton, nhà chiêm tinh học người Anh, cho biết động Phong
Nha không kém gì động Padirac của Pháp hay Cuevas del Drach ở
Mallorque của xứ Tây Ban Nha[2]. Chỉ tiếc rằng động Phong Nha, một kỳ
quan của đất nước quê hương, mà chỉ có người Âu Châu thăm viếng nhiều
còn người Việt Nam chưa mấy ai lui tới chỉ vì giao thông trắc trở, vì chiến
tranh cản ngăn.
Nếu động Phong Nha đã tô điểm cho huyện Bố Trạch thành một vùng giang
sơn cẩm tú thì núi Đầu Mâu và đầm Hạc Hải ở Lệ Thủy và Quảng Ninh lại
là nơi tụ hội của khí thiêng sông núi hun đúc nhân tài tỉnh Quảng Bình. Núi
Đầu Mâu cao vút, quanh năm mây mù bao phủ đầu non, hình chóp núi nhọn
như ngòi bút, còn đầm Hạc Hải hình thể như cái nghiên mực có lạch riêng
cho thuyền bè qua lại, phía Đông Nam bao bọc bởi những động cát chập
chùng, phía Tây Bắc có vách núi Trường Sơn làm thành quách. Cảnh vật
Đầu Mâu và Hạc Hải trông giống như ngòi bút và đĩa nghiên cho nên tiền
nhân mới gọi Đầu Mâu vi bút, Hạc Hải vi nghiên, làm biểu tượng cho nền
văn học tỉnh Quảng Bình. Quanh Đầu Mâu và Hạc Hải có nhiều động, nhiều
hang thiêng liêng, thần bí khác, đặc biệt là động Chấn Linh được tiền nhân
https://thuviensach.vn
ca ngợi là chốn đào nguyên hạ giới, người trần tục không nên lui tới: Động
môn vô tỏa thực, tục khách bất tàng lai [3].
Quảng Bình, quê hương tôi, còn rất nhiều sơn kỳ, thủy tú. Có lẽ vì tạo hóa
đặc biệt ân thưởng để đền bù cho một vùng đất vốn không được ưu đãi về
mặt kinh tế như các vùng khác của đất nước, lại gặp quá nhiều đau khổ vì
ách nước tai trời, vì chinh chiến triền miên theo dọc chiều dài lịch sử. Trong
thời xa xưa, Quảng Bình liên tiếp đã là bãi chiến trường của hai quốc gia
Chiêm-Việt; đến đời nhà Lê, Quảng Bình lại đắm chìm trong can qua vì
cuộc phân tranh của hai nhà Trịnh-Nguyễn. Trong thời Pháp thuộc, vùng
Tuyên Hoá phía Tây Quảng Bình là chiến khu của vua Hàm Nghi, vùng tả
hữu ngạn sông Gianh trở thành chiến địa giữa nghĩa quân Cần vương và
quân đội viễn chinh của thực dân, giữa người Lương chống Pháp và người
Giáo theo Pháp. Thời chiến tranh Pháp-Việt, 1945-1954, vùng Bắc Quảng
Bình là biên giới của hai phe lâm chiến, nhiều trận giao phong ác liệt đã xảy
ra nơi vùng tiền tuyến của hai bên. Thời chiến tranh Nam Bắc Quốc Cộng
(1954-1975) Quảng Bình là tuyến đầu của quân đội miền Bắc, được sử dụng
như một căn cứ tiền phương với nhiệm vụ tình báo, tồn trữ quân nhu, quân
cụ và là xuất phát điểm của những chiến dịch xâm nhập hay tấn công quân
đội miền Nam, nên đất và dân Quảng Bình đã phải hứng chịu nhiều trận
mưa bom hãi hùng, bất tận của không quân Mỹ-Việt.
Ông bà xưa thường nói người khôn của khó. Câu nói đó áp dụng đúng cho
trường hợp nhân dân Quảng Bình. Dân Quảng Bình nghèo khó, dân Quảng
Bình gặp tai ương triền miên, nhưng người Quảng Bình lại thông minh, khí
phách, can trường và nhất là dám sống chết cho lý tưởng.
Tuy Quảng Bình không có những nhân vật nổi tiếng về văn học và cách
mạng như các danh sĩ Nghệ-Tĩnh và Nam-Ngãi, nhưng số người đỗ đạt
khoa giáp lại rất nhiều, đặc biệt là tại hai phủ Quảng Trạch và Quảng Ninh.
Quảng Trạch có bốn đại xã văn học là SƠN (Lệ Sơn), HÀ (La Hà), CẢNH
(Cảnh Dương), THỔ (Thổ Ngọa). Quảng Ninh có bốn đại xã là VĂN (Văn
La), VÕ (Võ Xá), CỔ (Cổ Liễu), KIM (Kim Nại). Tên của tám xã góp lại
thành hai vế của một câu đối là Sơn Hà Cảnh Thổ đối với Văn Võ Cổ Kim,
đã đem lại danh dự cho dân chúng Quảng Bình. Ngoài hai phủ Quảng Trạch
https://thuviensach.vn
và Quảng Ninh, huyện Lệ Thủy cũng là một quê hương có nhiều nhân tài
khoa hoạn, nhiều tiến sĩ, phó bảng. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí cho biết
từ đời nhà Lê cho đến đời nhà Nguyễn, Quảng Bình có rất nhiều người đỗ
đạt và làm quan phục vụ cho dân, cho nước mà toàn là những người nổi
tiếng về khí tiết, đức độ, liêm chính, tài năng, mưu lược. Có những nhân vật
đức độ được ca ngợi là Phật sống, là Bồ Tát, có những nhân vật văn võ vẹn
toàn, có những người đa mưu túc trí được so sánh với Khổng Minh, với Lưu
Bá Ôn, những nhân tài đời Hán, đời Minh bên Trung Quốc. Có những người
chỉ xuất thân từ hàng sĩ tốt, nhờ tài thao lược, nhờ dũng khí, can trường làm
nên đến Đô Thống, Quận Công. Quảng Bình tỉnh nhỏ, người thưa mà lại có
nhiều vị khoa giáp, tài đức, học hành toàn vẹn được nhiều đời Vua mời vào
cung giữ chức “Phụ Đạo”, làm thầy dạy học cho các Hoàng Tử, Hoàng Đệ
như Nguyễn Đăng Tuấn, Ngô Đình Giỏi, Vũ Xuân Cẩn, Nguyễn Hàm Ninh.
Có người như Nguyễn Tử Kính làm quân sư cho vua Lê đánh đuổi giặc Tàu,
như Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân lãnh đạo nghĩa quân Cần Vương, phò vua
Hàm Nghi đánh Pháp. Có người như Nguyễn Hàm Ninh (bạn tri kỷ của Cao
Bá Quát) nửa đường công danh không muốn tiếp tục vào lòn ra cúi, cởi áo
từ quan về nhà sống cuộc đời thanh bần. Lại có người như tiến sĩ Phạm Phi
Diệu đỗ đạt rồi mà không màng lợi danh, chỉ muốn sống cuộc đời ẩn dật vui
với non nước, cỏ cây chốn thôn dã bần hàn:
Bảng chiếu dương Ngô mai bạch tuyết,
Tâm lao hậu bỉ Thảo, Huyền nhân.
Ý muốn nói là thi đỗ rồi chỉ muốn bồi dưỡng tâm hồn cho trắng như tuyết,
cho sạch như mai, không nhọc lòng làm kẻ viết kinh Huyền, kinh Thảo[4].
Đến thời cận đại, khi nền giáo dục Tây phương theo chân quân xâm lăng
tràn vào bờ cõi để đánh bật tận gốc rễ nền giáo dục Nho Hán và thay vào
đấy bằng một nền giáo dục gọi là Tây học thì Quảng Bình, trong cơn
chuyển đổi ngặt nghèo, cũng sản xuất ra được những nhân vật tiếng tăm lẫy
lừng như giòng họ Ngô Đình chẳng hạn, giòng họ đã có người làm đến
Tổng Đốc Thượng Thư dưới thời bảo hộ Pháp, có người làm đến Tổng
thống, Tổng giám mục dưới thời ảnh hưởng Mỹ. Cũng trong thời kỳ này,
khi chiến tranh bao phủ non sông và bao nhiều người con yêu của tổ quốc
https://thuviensach.vn
đều chọn binh nghiệp làm lẽ sống thì Quảng Bình cũng có người làm đến
Đại tướng hay Bộ trưởng như ông Võ Nguyên Giáp chẳng hạn, tạo ra những
chiến công hiển hách trong quân sử nước nhà. Quảng Bình cũng còn nằm
trong bộ phận đại quần chúng để cung cấp cho dân tộc những nghệ sĩ biết
rung động với thiên nhiên và thời đại, những kỹ thuật gia biết vận dụng
năng lực sáng tạo để khắc phục khó khăn.
Lật trang sử cũ, ta thấy Quảng Bình quả thật là quê hương địa linh nhân
kiệt, vùng đất vốn chật hẹp, nghèo nàn mà núi sông lại hùng vĩ, phong cảnh
lại hữu tình, sản xuất không biết bao nhiêu là văn tài, võ tướng, hào kiệt,
trượng phu, tô điểm vàng son cho lịch sử nước nhà. Nhưng rồi như cổ nhân
đã dạy dân có vận, nướ...
 





