BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU SỐ THƯ VIỆN TIỂU HỌC VÂN THÊ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    KehoachbaidayDaoducLop3BosachKetnoitrithuc2022tieuhocvn.jpg TiengViet4KetnoiTuan5Bai9Tiet3LuyentuvacauDongtuTrang41.jpg ClipartKey_135275.png TiengViet4KetnoiTuan29Bai20Tiet12ChieungoaioTrang93.jpg Toan5KetnoiBai9LuyentapchungTiet3Trang31.jpg ClipartKey_191402.png TiengViet4KetnoiTuan7Bai16Tiet1va2TruocngayxaqueTrang66.jpg TiengViet3KetnoiTuan5Bai9DocDihocvuisaotrang43.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai6Tiet12DocNghesitrongTrang26.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai5Tiet1DocthanlanxanhvatackeTrang23.jpg TiengViet3KetnoiTuan3Bai6Tiet1Doc_NhatkitapboiTrang26.jpg Motvaibienphaptochuctrochoihoctaptrongmondaoduclop2.jpg Thumbnail_Ca_chua.png GiaoantrinhchieuMonToan2Hocki1Bosachcanhdieu.jpg KHOANG_SAN_VN.jpg VietNamtrongDNA.jpg Download_2.png Screenshot_1309.png 35_Phieu_Bai_tap_cuoi_tuan_Mon_Toan_Lop_2_Bo_sach_Canh_dieu.jpg

    Sách Nói] Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn - Chương 1

    Việt Nam máu lửa quê hương tôi

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 18h:51' 05-04-2024
    Dung lượng: 5.7 MB
    Số lượt tải: 10
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    VIỆT NAM Máu Lửa Quê Hương
    Tôi
    Hoành Linh Đỗ Mậu
    Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động

    Nguồn: http://vnthuquan.net

    Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.


    https://thuviensach.vn

    Mục lục
    Lời Giới thiệu của NXB


    LỜI MỞ ĐẦU


    Chương 1


    Chương 2


    Chương 3


    Chương 4


    Hình ảnh 1


    Chương 5


    Chương 6


    Chương 7


    Chương 8


    Chương 9


    Chương 10


    Chương 11

    Chương 12


    Chương 13


    Chương 14


    Chương 15


    Chương 16


    Chương 17


    Chương 18


    Chương 19


    Chương 20


    Hình ảnh 2



    https://thuviensach.vn

    Hoành Linh Đỗ Mậu
    VIỆT NAM Máu Lửa Quê Hương Tôi
    Lời Giới thiệu của NXB
                      
                          

     
    LỜI GIỚI THIỆU

    ẤN BẢN ĐIỆN TỬ - NĂM 2007

    Đầu Xuân năm 2007, được biết Nhà Xuất bản Văn Nghệ đã tiêu thụ hết đợt
    phát hành cuối cùng của Hồi ký Việt Nam Máu Lữa Quê Hương Tôi, và
    không có ý định tái bản tác phẩm nầy nữa trong một tương lai gần, chúng
    tôi, một nhóm thân hữu của tác giả Hoành Linh Đỗ Mậu, đã liên lạc với gia
    đình của tác giả để xin tái bản tác phẩm nầy dưới dạng điện tử. Và đã được
    gia đình tác giả chấp thuận với một số yêu cầu về tác quyền và biên tập.


    https://thuviensach.vn

    Về nội dung, không có một thay đổi nào trong Ấn bản Điện tử (so với ấn
    bản giấy 1993) ngoại trừ thêm một số hình ảnh của tác giả; và ở Phụ Lục E,
    10 Bài Đọc Thêm, chúng tôi thêm một lá thư của tướng Dương Văn Minh
    và một bài viết về Tướng Trình Minh Thế để làm sáng tỏ một số bí ẩn lịch
    sử được nhắc đến trong Hồi ký.

    Về hình thức, có ba thay đổi trong quá trình cập nhật lại tác phẩm nầy:

    (a)    Sửa lại các lổi chính tả và đánh máy. Với tổng số lượng gần 750,000 từ
    của toàn bộ tác phẩm, đây là một nỗ lực liên tục nhưng chắc vẫn còn khiếm
    khuyết ngay cả trong ấn bản điện tử nầy.

    (b)   Sửa và thêm các đại danh từ (cụ, ông, bác, anh, ...) và những chức vụ
    (phó tổng thống, thiếu tá, giáo sư, nhà văn, ...) trước tên riêng của các nhân
    vật. Tùy ngữ cảnh và bối cảnh của mỗi tình huống, chúng tôi chọn đại danh
    từ/chức vụ nào mà chúng tôi nghĩ rằng phù hợp nhất. Mặt khác, có một số
    nhỏ đại danh từ và chức vụ không cần thiết, thì chúng tôi cũng đã quyết
    định bỏ đi. 

    (c)    Ba từ “Công giáo”, “Kitô giáo” và “Thiên Chúa giáo” đã là một vấn
    nạn khó tạo được sự đồng thuận trong cách sử dụng. Do đó, ngoại trừ vài
    trường hợp đặc biệt, trên nền không-thời-gian lịch sử mà Hồi ký chủ yếu
    được xây dựng (là chế độ Ngô Đình Diệm), chúng tôi quyết định thống nhất
    hầu hết các từ nầy thành từ “Công giáo” như chính những giáo hữu Việt
    Nam, trong giai đọan đó cũng như kể cả bây giờ, đã gọi Công giáo La Mã
    (Roman Catholic).

    Có hai lý do khiến chúng tôi lấy quyết định tái bản tác phẩm Việt Nam Máu
    Lữa Quê Hương Tôi nầy của tác giả Hoành Linh Đỗ Mậu dưới dạng điện
    tử: 

    ·        Thứ nhất là vì nhu cầu tìm đọc tài liệu về chủ đề nầy không những đã

    https://thuviensach.vn

    không giảm bớt mà thậm chí còn gia tăng. Hơn 40 năm sau khi chế độ Ngô
    Đình Diệm bị lật đổ, hơn 20 năm sau khi tác phẩm nầy ra đời, và sau hơn
    20.000 ấn bản (dự đoán) được phổ biến cả ở trong lẫn ngoài nước, giai đoạn
    lịch sử 1954-1975 tại miền Nam Việt Nam (và những nhân vật lịch sử quan
    hệ đến nó) vẫn là đề tài được nhiều người quan tâm muốn tìm hiểu. Để xem
    rút ra được những bài học gì cho bây giờ và mai sau trên quê hương Việt
    Nam.   

     ·        Và thứ nhì là với những thành quả ngoạn mục của cuộc cách mạng
    Tin học, tri thức không còn bị phong tỏa, lại càng không trở thành sản phẩm
    độc quyền của một giai tầng nào nữa. Do đó, sản phẩm trí tuệ cần được xuất
    hiện dưới dạng điện tử để dễ dàng vượt mọi biên giới thiên nhiên, rào cản
    hành chánh và giới hạn tiền bạc, ngõ hầu có thể bay vào không gian
    cyberspace mà đến với người đọc khắp địa cầu.

    Nhóm Thân hữu của tác giả Hoành Linh Đỗ Mậu, khi hoàn thành ấn bản
    nầy, chỉ nhắm đáp ứng hai nhu cầu nói trên. Và đóng góp phần mình vào
    việc thực hiện tâm nguyện của tác giả đã được trang trải đầy ắp trong tác
    phẩm nầy.
     Hoa Kỳ - Thu  2007


    Nhóm Thân hữu trách nhiệm Ấn bản Điện tử VNMLQHT-2007

    * * * 
    LỜI GIỚI THIỆU

    ẤN BẢN THỨ BA - NĂM 1993

     
          Tập Hồi ký chính trị Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của tác giả
    Hoành Linh Đỗ Mậu được Nhà Xuất bản Hương Quê ấn hành lần đầu tiên
    vào mùa thu năm 1986 tại miền Nam California, Hoa Kỳ.

    https://thuviensach.vn

           Từ đó đến nay, tác phẩm này đã được tái bản một lần (1987) và in lại
    tám lần. Như vậy, bản mà quý bạn đọc cầm trên tay hôm nay (1993) của
    Nhà Xuất bản Văn Nghệ là lần biên tập thứ ba và là lần in lại thứ chín
    (Third Edition, Ninth Printing).

          

                   

                 Ấn bản 1986                         Ấn bản 1993

     
    Đó là không kể hai ấn bản mà tác giả hoàn toàn không biết đến quá trình
    hình thành của chúng. Bản thứ nhất in tại Úc Châu vào khoảng năm 1990
    với một hình bìa khác hẳn. Và bản thứ nhì in tại Việt Nam, không những
    khác bìa, nội dung bị biến cải, mà ngay cả tên sách cũng bị thay đổi. Đó là
    cuốn Tâm Sự Tướng Lưu Vong do Nhà Xuất Bản Công An Nhân Dân ấn
    hành 3.200 ấn bản vào năm 1991 (Số xuất bản 117/KII90 CAND). Sau khi

    https://thuviensach.vn

    đối chiếu với nguyên bản, tác giả cho chúng tôi biết rằng ấn bản này đã bị
    bỏ bớt gần một phần tư nội dung, thay đổi một số danh xưng và bớt nhiều
    đoạn; nhưng nói chung, phần Sử luận và các luận điểm chính trị của ông, về
    căn bản, vẫn được giữ lại gần nguyên vẹn.


           

          

      Ấn bản 1991             Ấn bản 1995             Ấn bản 2001

     
        
    Lẽ dĩ nhiên, tác giả đã không biết gì hết về sự ra đời của ấn bản này, lại càng
    không liên lạc được vì hoàn cảnh lịch sử và chính trị oái oăm của đất nước,

    https://thuviensach.vn

    để phản đối việc làm vừa vi phạm tác quyền vừa vi phạm sự trung thực toàn
    vẹn của một sản phẩm trí tuệ.

    Bảy năm đã trôi qua kể từ khi ấn bản đầu tiên ra đời.

    Đã có rất nhiều, quá nhiều là khác, thảo luận và bút chiến về tác phẩm, và
    nhiều khi, về từng chủ điểm mà tác phẩm này nêu lên. Cho đến thời điểm
    này, vẫn còn xuất hiện trên báo chí hải ngoại những bài viết đề cập đến tác
    phẩm hoặc tác giả. Đặc biệt đã có 13 cuốn sách của những người viết đứng
    từ những vị trí khác nhau, nhìn từ những góc độ khác nhau, và mang những
    tâm chất khác nhau, nhưng tất cả đều trực tiếp hay gián tiếp liên hệ đến tác
    phẩm hay tác giả.

    Trong lúc có hai người viết nêu đích danh tác giả trên bìa sách để “trực
    thoại” (Linh mục Vũ Đình Hoạt và Cựu Nghị sĩ Nguyễn Văn Chức) thì
    cũng có những cuốn đào sâu các luận đề mà tác giả viết chưa đủ rốt ráo (Hồ
    Chí Minh, Ngô Đình Diệm và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam của ông Hồ
    Sĩ Khuê và Gia Tô Thực Dân Sử Liệu của ông Chu Văn Trình). Trong lúc
    có người viết lúc chống lúc thuận với tác giả (ông Nguyễn Trân) thì cũng có
    người cung cấp thêm những dữ kiện và luận cứ mới làm mạnh thêm những
    luận điểm của tác phẩm (ông Nguyễn Long Thành Nam, Tướng Nguyễn
    Chánh Thi, Tướng Trần Văn Đôn, Đại tá Trần Văn Kha, ông Lê Trọng
    Văn). Lại có thêm ấn bản Việt ngữ (Sự Lừa Dối Hào Nhoáng) của tác phẩm
    The Bright Shining Light của Neil Sheehan (1991) và ấn bản Pháp ngữ Les
    Missionnaires et La Politique Coloniale Francaise au Vietnam của ông Cao
    Huy Thuần lần đầu tiên được Đại học Yale xuất bản tại Hoa Kỳ (1990)…
    Tất cả chỉ làm cho tác phẩm Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi trở thành
    một hiện tượng độc đáo trong lịch sử các tác phẩm nghiên cứu của Việt
    Nam. Và hơn thế nữa, chỉ làm cho chúng ta thấy rằng tác phẩm đã đề cập
    đúng những vấn đề căn bản, có thực, và có tác động sâu sắc đến nhiều người
    Việt Nam, đến chính tình Việt Nam không những chỉ trong quá khứ mà còn
    cả trong tương lai nữa.


    https://thuviensach.vn

    Trong lần tái bản này, phương pháp luận căn bản của tập Hồi ký là thông
    qua các biến cố lịch sử (mà tác giả đã sống và/hoặc nghiên cứu) để giải
    thích những lực nào đã tác động lên sự vận hành của lịch sử nước ta trong
    hơn nửa thế kỷ vừa qua, vẫn không thay đổi. Nói rõ hơn, bản chất cuộc
    chiến và các lực lượng tham chiến trên quê hương ta suốt mấy chục năm
    trời vẫn có tính phi dân tộc. Và nguyên lý chỉ đạo làm nền tảng sử luận cho
    tác giả là đã phi dân tộc thì thế nào cũng phản dân tộc vẫn chảy xuyên suốt
    tác phẩm.

    Tuy nhiên, trong lần tái bản thứ ba này có một số thay đổi sau đây:

    Về hình thức, số lỗi chính tả và ấn loát (nhất là các dấu hỏi ngã) được giảm
    thiểu tối đa. Một số rất ít tên người, tên địa phương và ngày tháng cũng đã
    được cập nhật lại. Đặc biệt, so với lần trước, ấn bản này tuy có dài thêm
    khoảng 15 phần trăm (nâng tổng số lên hơn 750 ngàn chữ) nhưng số trang,
    theo lời yêu cầu của tác giả, lại được rút ngắn còn 80 phần trăm (1089
    trang) nhờ cách dòng (interline spacing) nhỏ hơn và cỡ chữ (text size) nhỏ
    lại, hầu tiết giảm giá thành đến mức thấp nhất.

    Việc sử dụng hai nhu liệu tin học VNI và Ventura để trình bày sách đã giúp
    cho ấn bản này đồng dạng hơn, sáng sủa hơn, do đó dễ đọc hơn các ấn bản
    trước.

    Về nội dung, một số luận cứ và chứng liệu lịch sử mới đã được thêm vào,
    đặc biệt về quá trình du nhập Công giáo vào Việt Nam, về những bí ẩn mới
    trong cuộc Cách mạng 1-11-63, về cuộc vận động cho Dân chủ của Phật
    giáo tại miền Trung năm 1966, về vai trò của Vatican trong những ngày cuối
    cùng của miền Nam vào năm 1975... để nhân đó, tác giả trả lời một số
    xuyên tạc và ngộ nhận về tác phẩm. Cũng thêm vào trong ấn bản này là một
    Phụ Lục mới gồm 10 tài liệu đọc thêm của những nhân chứng lịch sử và
    một số hình ảnh của các khuôn mặt quan trọng đã hiện diện trong tác phẩm.

    Nhân dịp này, tác giả có nhờ chúng tôi chuyển lời cảm ơn đặc biệt đến cụ
    Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, cụ Hương Thuỷ Hoàng Trọng Thược, cụ Phùng

    https://thuviensach.vn

    Duy Miễn, nhà Sử học Vũ Ngự Chiêu, Trung tướng Vĩnh Lộc, bác sĩ Võ Tư
    Nhượng và Giáo sư Phạm Phú Xuân đã tận tình góp ý sửa lời để ấn bản này
    được toàn vẹn hơn.

    Nhà Xuất Bản Văn Nghệ, khi quyết định xuất bản và phát hành tác phẩm
    này, chỉ muốn xác nhận lại chủ trương của mình: cung cấp cho độc giả trong
    và ngoài nước những tác phẩm giá trị, những công tình trí tuệ có phẩm chất
    cao hầu đóng góp vào gia tài Văn hoá của dân tộc.

    Ngoài ra, riêng với tác phẩm Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, sự kiện
    có những tranh luận sôi nổi xung quanh tác phẩm, và trước nhu cầu tìm đọc
    nguyên bản của nhiều độc giả đã từng đọc “ấn bản trong nước”, chúng tôi tự
    thấy có bổn phận phải nỗ lực hoàn thành việc xuất bản và phát hành tác
    phẩm này, với ước mong cống hiến cho những đồng bào còn quan tâm đến
    vận mệnh quê hương một cách nhìn mới về những vấn nạn mà tổ quốc ta đã
    đối trị và có thể sẽ còn phải đối diện trong tương lai.

                   Hoa Kỳ, tháng 9 năm 1993

                   Nhà Xuất Bản VĂN NGHỆ

    https://thuviensach.vn

    Hoành Linh Đỗ Mậu
    VIỆT NAM Máu Lửa Quê Hương Tôi
    LỜI MỞ ĐẦU
     
                               

                          

        Đó là một thời kỳ đầy đau thương của đất nước. Đó là khi người Pháp
    nhân danh nền văn minh Thiên Chúa giáo để “khai hóa”, xâm lăng và đô hộ
    đất nước Việt Nam cho đến ngày nay, khi người Cộng Sản nhân danh cách
    mạng vô sản chuyên chính để “giải phóng”, khống chế và bạo quản dân tộc
    Việt Nam.

    Tôi đã sống một giai đoạn của thời kỳ đó không những như một nhân chứng
    mà còn may mắn được tham dự tích cực vào một số biến chuyển và hoạt
    động sát cánh với một số nhân vật lịch sử. Trên con đường ba mươi năm
    sống và hoạt động đó, tôi chỉ có một tâm nguyện: ấm no và an vui cho đồng
    bào.


    https://thuviensach.vn

    Nhưng tâm nguyện đó không thành tựu vì trên quê hương tôi đau thương
    vẫn còn đó, nghèo khổ vẫn còn đó. Các bậc đàn anh của tôi, đồng chí và
    bằng hữu của tôi cũng đã không thực hiện được hoài bão của đời họ. Tất cả,
    từ những người có lòng nhất đến những người tài ba đảm lược nhất đều đã
    thất bại, dù trong cuộc hành trình hùng tráng và bi thiết này, không biết bao
    nhiêu người đã hy sinh gục ngã.

    Quyết định viết hồi ký được khơi nguồn từ ý muốn đi tìm những nguyên
    nhân lớn nhất, thực nhất của cái thảm trạng mà ngày nay cả dân tộc ta phải
    nhận chịu, dù những nguyên nhân đó có làm đảo lộn những nề nếp suy
    nghiệm cũ và làm lung lay những đánh giá lịch sử đã được một số người hài
    lòng công nhận. Những nguyên nhân này được cố gắng trang trải như một
    bài học lịch sử để từ đó và do đó, hy vọng những lớp người đang đi tới sẽ
    tránh được những vết xe đổ đã nghiền nát bao nhiêu trang sử hiện đại dân
    tộc.

    Cuốn sách này được chia làm ba phần tổng quát. Phần thứ nhất nói về thời
    kỳ thơ ấu và thanh niên. Phần thứ hai, về giai đoạn mấu chốt nhất của lịch
    sử cận đại: chín năm của nền Cộng Hoà đầu tiên của đất nước. Và phần
    chót, về hậu quả bi thảm của một chế độ phi dân tộc.

    Vì là hồi ký chính trị của một cá nhân nên các sự kiện có thể thiếu sót do
    tính chất phức tạp của các biến cố, nhưng chắc chắn là xác thực. Các suy
    nghiệm cũng vậy, đôi khi chủ quan nhưng luôn luôn nghiêm chỉnh vì chúng
    bắt nguồn từ và kết tụ về một quy luật đặc thù của lịch sử Việt:

                                        HỄ ĐÃ PHI DÂN TỘC
                          THÌ THẾ NÀO CŨNG PHẢN DÂN TỘC

    Điều này đã được chứng nghiệm rõ ràng khi suy giải trách nhiệm của những
    người nắm chức vụ lãnh đạo Việt Nam trong 30 năm qua. Người thì đến giờ
    hấp hối còn ước mong được gặp Các Mác, Lê-nin bên kia thế giới, người thì
    muốn nối dài biên giới Hoa Kỳ từ Alaska đến sông Bến Hải, người thì đào
    nhiệm bỏ ngũ khi Hoa Kỳ ngưng viện trợ “chống Cộng”…

    Tất cả đã không có căn bản dân tộc nên đã làm khổ đau dân tộc.

    Vì vậy, nếu cuốn sách nhỏ này, với văn phong bộc trực và võ biền của một

    https://thuviensach.vn

    người lính già, với tâm tình thô thiển nhưng chân thành của một người dân
    xa nước, mà khắc đậm thêm được quy luật lịch sử đó trong lòng người đọc,
    thì tác giả thấy ước vọng của mình có thể trở thành hy vọng về một tương
    lai tươi sáng cho đất nước.

    Cuối cùng tác giả muốn bày tỏ lòng tri ân đến các bậc đàn anh, các thân hữu
    đã khuyến khích, bổ khuyết, giúp ý kiến và tài liệu giá trị rất khó tìm ở hải
    ngoại, cũng như đã yểm trợ phương tiện ấn loát và tài chánh để cuốn sách
    này được hình thành.

    Trong phần Phụ Lục ở cuối sách, tác giả mạn phép trích dẫn ý kiến của 100
    nhân vật, tổ chức Việt Nam đã đăng trên các sách báo và một số thư từ các
    bằng hữu đã viết riêng. Việc này theo thường tình là thất lễ bởi đã  không
    xin phép trước, nhưng tin quý vị sẽ sẵn sàng tha thứ bởi vì tác giả trộm nghĩ
    rằng các suy nghiệm can đảm và chân thành của quý vị không những chỉ có
    giá trị cho riêng cá nhân tác giả mà còn cho rất nhiều người khác. Bây giờ
    cũng như mai sau.

     
       Hải ngoại, Trọng Đông năm Ất Sửu (1985)

                   Hoành Linh Đỗ Mậu

     

    https://thuviensach.vn

    Hoành Linh Đỗ Mậu
    VIỆT NAM Máu Lửa Quê Hương Tôi
    Chương 1
                                          QUẢNG BÌNH

                                QUÊ HƯƠNG ĐỊNH MỆNH

     
    Trong suốt quá trình lịch sử cận đại của nước ta, trên cả ba miền đất nước
    mà đặc biệt tại miền Trung, khi nói đến cái “lò” cách mạng hay cái “nôi”
    văn học là phải nói đến hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ở phía Bắc Đèo Ngang,
    và hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi ở phía Nam Đèo Hải Vân. Những bậc
    hào kiệt tài danh đứng đầu ngọn sóng cách mạng hoặc làm đẹp cho nền thi
    văn đất nước như các cụ Phan Bội Châu, Phan Đình Phùng, Nguyễn Du,
    Nguyễn Công Trứ đều xuất thân từ vùng đất Nghệ-Tĩnh; còn những tên tuổi
    của các cụ Phan Chu Trinh, Trần Cao Vân, Trần Quý Cáp thì lại vươn lên từ
    vùng đất Nam-Ngãi, nơi được mang danh là đất của “Ngũ Phụng Tề Phi”
    (năm con phượng cùng bay) nhờ kỳ thi Hội năm Mậu Tuất (1898), ba tiến sĩ
    và hai phó bảng trong số mười tám vị chiếm bảng vàng đều xuất thân từ tỉnh
    Quảng Nam, cho nên vua Thành Thái mới ban cho năm vị tân khoa bốn chữ
    “Ngũ Phụng Tề Phi” vang rền đất nước.

    Nghệ-Tĩnh và Nam-Ngãi, dưới thời Pháp thuộc, cũng chính là vùng đất bất
    khuất, tiếp nối truyền thống cách mạng chống ngoại xâm của cha ông, vùng
    lên đối kháng chính quyền bảo hộ Pháp mà điển hình là các cuộc đấu tranh
    của Văn Thân và Cần Vương, là phong trào chống thuế ở Nam-Ngãi, là
    phong trào Sô-Viết ở Nghệ-Tĩnh. Các ông Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng
    và một số các lãnh tụ khác của đảng Cộng Sản Việt Nam, cũng xuất thân từ
    lò luyện thép này.
    Bên cạnh vóc dáng và khí thế lẫy lừng của bốn tỉnh kể trên, Bình-Trị-Thiên
    là ba tỉnh nằm giữa hai ngọn đèo lớn đó của miền Trung, vì quen nhọc nhằn
    chống lại thiên nhiên hà khắc, lại vốn làm cái đòn gánh chính trị oằn vai vì
    sức nặng cách mạng của bốn tỉnh tiếp giáp nên cũng đã cưu mang trong sức
    sống tất cả cái hào hùng và oan nghiệt của lịch sử. Tỉnh Quảng Bình, tuy là

    https://thuviensach.vn

    một tỉnh nhỏ về cả hai phương diện dân số lẫn diện tích, nhưng nhờ vậy lại
    chiếm địa vị của một vùng đất quê hương nổi tiếng địa linh nhân kiệt.

    Từ đời Hùng Vương, Quảng Bình đã là một trong mười lăm bộ của nước
    Văn Lang, có tên là Việt Thường với thủ đô là Phong Châu[1]. Vì là tỉnh
    cực Nam tiếp giáp với biên giới Chiêm Thành nên suốt một thời gian dài
    trong quá trình dựng nước và mở nước, Quảng Bình đã là chiến địa khốc liệt
    và dai dẳng, lắm phen thay ngôi đổi chủ giữa hai dân tộc Chiêm-Việt. Cho
    đến năm 1069, khi vua Lý Thánh Tông xuất quân đánh Chiêm Thành bắt
    được vua Chế Củ và sát nhập ba châu Địa-Lý, Ma-Linh, và Bố-Chính thì
    Quảng Bình (và phần đất phía Bắc tỉnh Quảng Trị) mới hoàn toàn thuộc về
    lãnh thổ nước Việt Nam và thuộc về chủ quyền dân tộc Việt Nam cho đến
    bây giờ. 
    Tuy là một tỉnh nhỏ, dù bề dài 110 cây số, và bề ngang, chỗ hẹp nhất, chỉ
    vào khoảng 45 cây số, quanh năm ách nước tai trời, lưng dựa vào Trường
    Sơn huyền bí, mặt nhìn về biển Đông thét gào, đất cày lên không sỏi thì đá,
    nhưng tạo hóa lại đền bù cho Quảng Bình nhiều danh lam thắng cảnh để tô
    điểm cho thêm thanh kỳ, mỹ tú mà nhiều tỉnh khác không có. Lũy Thầy,
    Đèo Ngang, sông Linh Giang, động Phong Nha… không những là kỳ tích
    của thiên nhiên mà còn là những địa danh ghi đậm những biến cố hào hùng
    trong lịch sử nước nhà.
    Đèo Ngang nằm trên một rặng núi bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, vươn ra
    biển Nam Hải như một bức trường thành hùng vĩ nên có lẽ vì thế mà rặng
    núi này được gọi là Hoành Sơn. Sử chép rằng chúa Nguyễn Hoàng thời Lê
    Mạt trước khi vào trấn nhậm Đàng Trong, có cho người đến thỉnh ý cụ
    Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cụ nhìn thấy một đàn kiến đang bò trên hòn giả
    sơn trước sân nhà, bèn nói Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân (núi
    Hoành một dãy, vạn đời dung thân). Câu chuyện thuộc về dã sử không rõ
    thực hư, nhưng kể từ năm 1558, khi chúa Trịnh cho Nguyễn Hoàng vào
    Nam trấn nhậm cho đến khi nhà Nguyễn lập quốc xưng vương vào năm
    1802, rồi kéo dài cho đến năm 1945, khi vua Bảo Đại thoái vị trao quyền lại
    cho ông Hồ Chí Minh, tổng cộng gần 400 năm kể cũng là vạn đại lắm rồi.
    Cảnh vật Đèo Ngang như là nơi tao ngộ của trời mây non nước, đất đá cỏ

    https://thuviensach.vn

    cây, lại có ải-quan trơ gan cùng ngày tháng, có Cổ Lũy pha đậm nét rêu
    phong, cảnh trí vừa hùng vĩ, vừa nên thơ dễ làm động lòng khách du quan
    mỗi khi đi qua Đèo. Vua Lê Thánh Tôn, Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà
    Nguyễn Khắc Hiếu… những thi hào tên tuổi của Việt Nam dừng chân trên
    đỉnh đèo, động lòng hoài cảm trước cảnh vật giao hòa đã để lại những vần
    thơ láng lai tình non nước. Người Việt Nam không mấy ai không biết bài
    thơ hoài cảm Qua Đèo Ngang tức cảnh của Bà Huyện Thanh Quan:

                Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,

                Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

                Lom khom dưới núi tiều vài chú,

                Lác đác bên sông rợ mấy nhà.

                Nhớ nước đau lòng con quốc-quốc,

                Thương nhà mỏi miệng cái gia-gia.

                Dừng chân đứng lại trời non nước,

                Một mảnh tình riêng ta với ta.

    Cách Đèo Ngang 15 cây số về phía Nam có con sông Gianh mà lòng sông
    vừa sâu lượng nước lại vừa chảy mạnh. Sông Gianh bắt nguồn từ núi rừng
    Trường Sơn hiểm trở, bạt núi xuyên ngàn tạo ra nhiều thác lắm ghềnh và đổ
    òa ra biển Đông, cắt đôi đất nước thành hai miền riêng biệt. Bề ngang rộng
    lớn của dòng sông và thế chảy mãnh liệt của dòng nước biến sông Gianh
    thành một trở lực thiên nhiên hữu ích cho các nhà quân sự muốn tạo ra một
    thế bố phòng vững chắc vào cái thời mà vũ khí và các phương tiện vận tải
    còn giới hạn.

    Cửa sông Gianh nước chảy xiết, khó bắc cầu, thuyền bè qua lại khó khăn
    nguy hiểm nên dân gian mới ví von:

                Bao giờ nước cạn Đồng Nai,

                Sông Gianh bớt chảy mới phai lời nguyền.

    Tuy cửa sông Gianh hiểm trở nhưng đây cũng lại là nơi phong cảnh hữu
    tình, nên thơ với tiếng gió thổi lộng qua hàng dương liễu vi vu trỗi lên
    những bản nhạc du dương trầm hùng, với những cánh buồm nâu trở về bến
    cũ khi bóng xế chiều tà, với tiếng sóng dạt dào theo con nước thuỷ triều lên
    xuống. Khách lữ hành mỏi mệt sau những chặng đường dài trên con đường

    https://thuviensach.vn

    thiên lý, đến cửa sông Gianh dừng chân nghỉ lại trong những ngôi quán
    tranh của dân xóm Thanh Hà, phía hữu ngạn sông Gianh, nếm mùi hải vị,
    uống chén chè tươi, ngắm nhìn bức tranh thiên tạo, hưởng làn gió mát trước
    khi tiếp tục cuộc hành trình ngược Bắc xuôi Nam.

    Rời sông Gianh, theo phương Nam mà đi gần 30 cây số nữa, khách lữ hành
    sẽ gặp Đồng Hới, tỉnh lỵ Quảng Bình, có Động Hải, có sông Nhật Lệ, có
    cổng Bình Quan, có cổ lũy Phú Ninh, có những tiền đồn của Lũy Thầy,
    những di tích còn sót lại của thời Trịnh Nguyễn phân tranh.

    Tiếp tục đi về phía Nam, băng qua sông Nhật Lệ, khách lữ hành sẽ tìm thấy
    những kiến trúc rêu phong vốn là vết tích của Lũy Thầy, còn được gọi là
    Trường Thành Định Bắc. Lũy Thầy, chiến lũy vững vàng đã từng chận đứng
    rất nhiều chiến dịch Nam tiến của quân chúa Trịnh, được xây từ năm 1629
    do sáng kiến chiến lược của vị quân sư tài ba và đầy mưu lược của nhà
    Nguyễn là ông Đào Duy Từ. Ông vốn xuất thân từ một gia đình làm nghề
    hát xướng, cái nghề mà xã hội phong kiến ngày xưa thường khinh bỉ gọi là
    “xướng ca vô loại”. Thủa thiếu thời, có lúc ông phải đi ăn xin từ làng này
    qua làng khác và rất nhiều lần phải chăn trâu cho các nhà phú hộ để đổi lấy
    bát cơm thừa. Trong hoàn cảnh khốn cùng đó, tương lai lại còn bị chận
    đứng bởi bức thành giai cấp cổ tục, ông vẫn quyết tâm sôi kinh nấu sử một
    mình để trau dồi trí đức và sau này trở thành một bậc hiền tài mưu cao chí
    lớn được chúa Nguyễn Phúc Nguyên và các quan xem như bậc thầy.

    Lũy Thầy dài ba trăm trượng, chạy từ chân núi Đầu Mâu, phía Tây huyện
    Lệ Thủy, đến cửa sông Nhật Lệ thuộc phủ Quảng Ninh, đã là chiến lũy chận
    đứng được nhiều cuộc tấn công của quân Đàng Ngoài. Vì thế mới có lời
    truyền tụng:

                Khôn ngoan qua cửa sông La,

                Dù ai có cánh khó qua Lũy Thầy.

    Ngoài những cảnh trí non nước đã được nhắc nhở nhiều trong sử sách ngàn
    đời của dân tộc Việt, Quảng Bình còn có nhiều phong cảnh đem tự hào cho
    dân chúng địa phương. Cách tỉnh lỵ Đồng Hới 17 cây số về phía Tây Nam,
    có động Phong Nha thuộc huyện Bố Trạch, một thắng cảnh vô cùng kỳ vĩ.
    Muốn vào động phải đi bằng thuyền, phải có đuốc dẫn đường; trong động

    https://thuviensach.vn

    có suối nước xanh màu ngọc bích, có thạch nhũ nhô ra như những bàn tay
    Phật, có những kiến trúc thiên nhiên như những toà lâu đài tráng lệ huy
    hoàng, lại có những sân khấu do thợ Trời sắp đặt với phong cảnh trang trí,
    đào kép múa may thật diễm ảo thần tiên. Những giọt nước từ nhũ đá rơi
    xuống suối nằm sâu trong lòng động tạo thành những điệu nhạc trầm buồn
    và mỗi khi nước chao động đập vào ghềnh đá thì có tiếng âm vang như
    tiếng chuông chùa. Theo dân chúng địa phương thì những tiếng chuông
    chùa này chỉ ngân lên vào đêm Rằm và đêm mồng Một âm lịch mà thôi.

    Trời trên vòm động có những đám mây ngũ sắc từ chóp núi Trường Sơn tụ
    lại làm cho cảnh vật Phong Nha thêm huyền ảo, thanh kỳ khiến khách du
    quan tưởng mình như lạc đến chốn Bồng Lai Tiên Cảnh.

    Cụ Chu Mạnh Trinh cho rằng động Hương Sơn ở Hà Tây là Nam Thiên đệ
    nhất Động, còn học giả Thái Văn Kiểm (từng sống lâu năm và từng nghiên
    cứu về địa lý dân tình tỉnh Quảng Bình và miền Trung) thì lại cho rằng
    Phong Nha là “Đệ Nhất Kỳ Quan” của nước Việt Nam. Theo ông Thái Văn
    Kiểm thì ông Barton, nhà chiêm tinh học người Anh, cho biết động Phong
    Nha không kém gì động Padirac của Pháp hay Cuevas del Drach ở
    Mallorque của xứ Tây Ban Nha[2]. Chỉ tiếc rằng động Phong Nha, một kỳ
    quan của đất nước quê hương, mà chỉ có người Âu Châu thăm viếng nhiều
    còn người Việt Nam chưa mấy ai lui tới chỉ vì giao thông trắc trở, vì chiến
    tranh cản ngăn.

    Nếu động Phong Nha đã tô điểm cho huyện Bố Trạch thành một vùng giang
    sơn cẩm tú thì núi Đầu Mâu và đầm Hạc Hải ở Lệ Thủy và Quảng Ninh lại
    là nơi tụ hội của khí thiêng sông núi hun đúc nhân tài tỉnh Quảng Bình. Núi
    Đầu Mâu cao vút, quanh năm mây mù bao phủ đầu non, hình chóp núi nhọn
    như ngòi bút, còn đầm Hạc Hải hình thể như cái nghiên mực có lạch riêng
    cho thuyền bè qua lại, phía Đông Nam bao bọc bởi những động cát chập
    chùng, phía Tây Bắc có vách núi Trường Sơn làm thành quách. Cảnh vật
    Đầu Mâu và Hạc Hải trông giống như ngòi bút và đĩa nghiên cho nên tiền
    nhân mới gọi Đầu Mâu vi bút, Hạc Hải vi nghiên, làm biểu tượng cho nền
    văn học tỉnh Quảng Bình. Quanh Đầu Mâu và Hạc Hải có nhiều động, nhiều
    hang thiêng liêng, thần bí khác, đặc biệt là động Chấn Linh được tiền nhân

    https://thuviensach.vn

    ca ngợi là chốn đào nguyên hạ giới, người trần tục không nên lui tới: Động
    môn vô tỏa thực, tục khách bất tàng lai [3].

    Quảng Bình, quê hương tôi, còn rất nhiều sơn kỳ, thủy tú. Có lẽ vì tạo hóa
    đặc biệt ân thưởng để đền bù cho một vùng đất vốn không được ưu đãi về
    mặt kinh tế như các vùng khác của đất nước, lại gặp quá nhiều đau khổ vì
    ách nước tai trời, vì chinh chiến triền miên theo dọc chiều dài lịch sử. Trong
    thời xa xưa, Quảng Bình liên tiếp đã là bãi chiến trường của hai quốc gia
    Chiêm-Việt; đến đời nhà Lê, Quảng Bình lại đắm chìm trong can qua vì
    cuộc phân tranh của hai nhà Trịnh-Nguyễn. Trong thời Pháp thuộc, vùng
    Tuyên Hoá phía Tây Quảng Bình là chiến khu của vua Hàm Nghi, vùng tả
    hữu ngạn sông Gianh trở thành chiến địa giữa nghĩa quân Cần vương và
    quân đội viễn chinh của thực dân, giữa người Lương chống Pháp và người
    Giáo theo Pháp. Thời chiến tranh Pháp-Việt, 1945-1954, vùng Bắc Quảng
    Bình là biên giới của hai phe lâm chiến, nhiều trận giao phong ác liệt đã xảy
    ra nơi vùng tiền tuyến của hai bên. Thời chiến tranh Nam Bắc Quốc Cộng
    (1954-1975) Quảng Bình là tuyến đầu của quân đội miền Bắc, được sử dụng
    như một căn cứ tiền phương với nhiệm vụ tình báo, tồn trữ quân nhu, quân
    cụ và là xuất phát điểm của những chiến dịch xâm nhập hay tấn công quân
    đội miền Nam, nên đất và dân Quảng Bình đã phải hứng chịu nhiều trận
    mưa bom hãi hùng, bất tận của không quân Mỹ-Việt.

    Ông bà xưa thường nói người khôn của khó. Câu nói đó áp dụng đúng cho
    trường hợp nhân dân Quảng Bình. Dân Quảng Bình nghèo khó, dân Quảng
    Bình gặp tai ương triền miên, nhưng người Quảng Bình lại thông minh, khí
    phách, can trường và nhất là dám sống chết cho lý tưởng.

    Tuy Quảng Bình không có những nhân vật nổi tiếng về văn học và cách
    mạng như các danh sĩ Nghệ-Tĩnh và Nam-Ngãi, nhưng số người đỗ đạt
    khoa giáp lại rất nhiều, đặc biệt là tại hai phủ Quảng Trạch và Quảng Ninh.
    Quảng Trạch có bốn đại xã văn học là SƠN (Lệ Sơn), HÀ (La Hà), CẢNH
    (Cảnh Dương), THỔ (Thổ Ngọa). Quảng Ninh có bốn đại xã là VĂN (Văn
    La), VÕ (Võ Xá), CỔ (Cổ Liễu), KIM (Kim Nại). Tên của tám xã góp lại
    thành hai vế của một câu đối là Sơn Hà Cảnh Thổ đối với Văn Võ Cổ Kim,
    đã đem lại danh dự cho dân chúng Quảng Bình. Ngoài hai phủ Quảng Trạch

    https://thuviensach.vn

    và Quảng Ninh, huyện Lệ Thủy cũng là một quê hương có nhiều nhân tài
    khoa hoạn, nhiều tiến sĩ, phó bảng. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí cho biết
    từ đời nhà Lê cho đến đời nhà Nguyễn, Quảng Bình có rất nhiều người đỗ
    đạt và làm quan phục vụ cho dân, cho nước mà toàn là những người nổi
    tiếng về khí tiết, đức độ, liêm chính, tài năng, mưu lược. Có những nhân vật
    đức độ được ca ngợi là Phật sống, là Bồ Tát, có những nhân vật văn võ vẹn
    toàn, có những người đa mưu túc trí được so sánh với Khổng Minh, với Lưu
    Bá Ôn, những nhân tài đời Hán, đời Minh bên Trung Quốc. Có những người
    chỉ xuất thân từ hàng sĩ tốt, nhờ tài thao lược, nhờ dũng khí, can trường làm
    nên đến Đô Thống, Quận Công. Quảng Bình tỉnh nhỏ, người thưa mà lại có
    nhiều vị khoa giáp, tài đức, học hành toàn vẹn được nhiều đời Vua mời vào
    cung giữ chức “Phụ Đạo”, làm thầy dạy học cho các Hoàng Tử, Hoàng Đệ
    như Nguyễn Đăng Tuấn, Ngô Đình Giỏi, Vũ Xuân Cẩn, Nguyễn Hàm Ninh.
    Có người như Nguyễn Tử Kính làm quân sư cho vua Lê đánh đuổi giặc Tàu,
    như Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân lãnh đạo nghĩa quân Cần Vương, phò vua
    Hàm Nghi đánh Pháp. Có người như Nguyễn Hàm Ninh (bạn tri kỷ của Cao
    Bá Quát) nửa đường công danh không muốn tiếp tục vào lòn ra cúi, cởi áo
    từ quan về nhà sống cuộc đời thanh bần. Lại có người như tiến sĩ Phạm Phi
    Diệu đỗ đạt rồi mà không màng lợi danh, chỉ muốn sống cuộc đời ẩn dật vui
    với non nước, cỏ cây chốn thôn dã bần hàn:

                Bảng chiếu dương Ngô mai bạch tuyết,

                Tâm lao hậu bỉ Thảo, Huyền nhân.
    Ý muốn nói là thi đỗ rồi chỉ muốn bồi dưỡng tâm hồn cho trắng như tuyết,
    cho sạch như mai, không nhọc lòng làm kẻ viết kinh Huyền, kinh Thảo[4].

    Đến thời cận đại, khi nền giáo dục Tây phương theo chân quân xâm lăng
    tràn vào bờ cõi để đánh bật tận gốc rễ nền giáo dục Nho Hán và thay vào
    đấy bằng một nền giáo dục gọi là Tây học thì Quảng Bình, trong cơn
    chuyển đổi ngặt nghèo, cũng sản xuất ra được những nhân vật tiếng tăm lẫy
    lừng như giòng họ Ngô Đình chẳng hạn, giòng họ đã có người làm đến
    Tổng Đốc Thượng Thư dưới thời bảo hộ Pháp, có người làm đến Tổng
    thống, Tổng giám mục dưới thời ảnh hưởng Mỹ. Cũng trong thời kỳ này,
    khi chiến tranh bao phủ non sông và bao nhiều người con yêu của tổ quốc

    https://thuviensach.vn

    đều chọn binh nghiệp làm lẽ sống thì Quảng Bình cũng có người làm đến
    Đại tướng hay Bộ trưởng như ông Võ Nguyên Giáp chẳng hạn, tạo ra những
    chiến công hiển hách trong quân sử nước nhà. Quảng Bình cũng còn nằm
    trong bộ phận đại quần chúng để cung cấp cho dân tộc những nghệ sĩ biết
    rung động với thiên nhiên và thời đại, những kỹ thuật gia biết vận dụng
    năng lực sáng tạo để khắc phục khó khăn.

    Lật trang sử cũ, ta thấy Quảng Bình quả thật là quê hương địa linh nhân
    kiệt, vùng đất vốn chật hẹp, nghèo nàn mà núi sông lại hùng vĩ, phong cảnh
    lại hữu tình, sản xuất không biết bao nhiêu là văn tài, võ tướng, hào kiệt,
    trượng phu, tô điểm vàng son cho lịch sử nước nhà. Nhưng rồi như cổ nhân
    đã dạy dân có vận, nướ...
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG VÂN THÊ - HƯƠNG THUỶ - THỪA THIÊN HUẾ !